Sài Sơn với hội chùa ThầyPhần 19
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Vùng trung du miền Bắc là vùng có nhiều phong cảnh tuyệt mỹ nên thơ, du khách đã một lần qua thăm không bao giờ quên được, nhất là lại đi thăm vào dịp đầu xuân, gặp khi nơi thăm mở hội xuân với tục lệ đặc biệt của dân tộc. Nhớ cảnh đẹp, nhớ tục lệ hay và có khi nhớ thêm cả sự tích nơi thăm viếng.
Qua các thắng cảnh trung du miền Bắc đã thăm Sài Sơn với hội chùa Thầy, đố ai không nhớ!
Miền Bắc có câu ca dao
Chùa Thầy khánh đá, chiêng đồng
Có đi thì trả của chồng mà đi!
Đúng vậy, phong cảnh Sài Sơn đã đẹp hùng vĩ, ngày hội chùa Thầy lại có nhiều thú vui rất quyến rũ.
Vậy Sài Sơn với chùa Thầy ở đâu?
Vị trí Sài Sơn
Sài Sơn còn có tên Phật Tích Sơn, là một ngọn núi cao thuộc địa phận làng Thụy Khuê, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Vùng Quốc Oai thực nhiều núi, la liệt có tới vài chục ngọn.
Những ngọn núi này đặc biệt hiện ra đột ngột ở giữa cánh đồng ruộng lúa bao la, trông giống như những cù lao trên mặt biển. Mỗi khi gió thổi, ngọn mạ nhấp nhô, người ta tưởng chừng đồng lúa chín là mặt biển vịnh Hạ Long.
Theo các sách địa lý, xưa kia đây là biển, nước phù sa sông Đà và sông Hoàng Hà đã bồi đắp, biển đã thành cánh đồng bát ngát, và những cù lao biến thành những ngọn núi đứng sừng sững giữa đồng bằng.
Núi Sài Sơn là ngọn núi cao nhất vùng này. Đằng xa có ngọn Phượng Hoàng Sơn, còn gọi là núi Tản Viên, trông giống như con Phượng sắp bay và ngọn Hoàng Xá Sơn hình giống con voi phục. Cả Phượng lẫn Voi đều hướng về Sài Sơn.
Xa nữa là một dãy núi chạy dài. Theo dãy núi này sẽ có núi Đồng Lư, núi Tiên Lữ, núi Sơn Lộ và núi Tử Trầm, ngọn núi sau cùng này thuộc địa phận xã Long Châu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông. Trên dãy núi, cây cối um tùm, một màu xanh xanh đậm nhạt.
Về phía Tây nam Sài Sơn là một cánh đồng mông mênh bát ngát đưa tầm mắt tới phía chân trời vô định.
Và chùa Thầy
Chùa Thầy ở dưới chân núi Sài Sơn về phía cánh đồng, tên chữ là Thiên Phúc tự.
Đây là một ngôi chùa cổ kính xây từ đời vua Thần Tôn nhà Lý, kiến trúc theo kiểu cổ Trung Hoa tượng thật uy nghiêm linh tú và xếp đặt như
cung điện của một vị đế vương.
Trước cửa chùa có một hồ nước khá rộng, giữa hồ là một thủy đình. Hai bên tả hữu thủy đình có hai chiếc cầu xây bằng gạch, lợp mái gọi là Nhật, Nguyệt lưỡng kiều.
Khách vãn cảnh chùa có thể tới thủy đình hóng gió, làm thơ và có khi uống rượu thưởng sen với những bông hoa trăm cánh, với hương thơm ngào ngạt bốc lên. Thật là thanh cao thú vị!
Chùa chia làm ba lớp:
Lớp ngoài cùng là nơi tế lễ, trang trí cũng như các ngôi chùa khác. Có thể gọi đây là nhà tam quan, ngôi nhà để trống được xây ở trước cửa đình, cửa chùa, nơi dân làng tới họp trong những ngày hội hoặc tuần rằm, mồng một để bàn định về việc tế lễ.
Lớp giữa thờ Phật với đủ các pho tượng Tam thế, Cửu Long, Thích Ca thành đạo, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát v.v...
Lớp trong cùng, đây là điểm đặc biệt của chùa Thầy, là nơi thờ ông Từ
Đạo Hạnh, nơi đây có ba pho tượng, theo lời dân làng và ông từ giữ
chùa, ba pho tượng đó đều là tượng ông Từ Đạo Hạnh: Pho tượng ở chính giữa, trông giống thầy tu, đó là kiếp trước của Ngài.
Pho bên tả giống một vị đế vương, đó là kiếp sau của Ngài.
Pho tượng bên hữu chính là tượng Ngài. Tượng này làm bằng gỗ bạch đàn, một thứ gỗ quý rất thơm, đựng trong khám kín không ai được xem, chỉ hàng năm vào ngày mồng 5 tháng 3 âm lịch dân làng mới cử người vào mở khám để làm lễ mộc dục tức là lễ tắm tượng.
Ở hai bên hàng cột có treo nhiều đôi câu đối sơn son thiếp vàng, trong đó có câu:
Vi Tiên, vi Phật, vi Quốc vương, sinh hóa tam thân lưu hiển tích Hữu động, hữu hồ, hữu thiên thị, giang sơn nhất đái biểu kỳ quan Dịch nôm:
Làm Tiên, làm Phật, làm Quốc vương, sinh hóa ba lần linh hiển lắm Có đông, có hồ, có chợ trời, giang sơn một giải lạ lùng thay!
Sự tích ông Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần
Đôi câu đối chúng tôi vừa nhắc tới đã nói lên tất cả sự tích dị kỳ của ông Từ Đạo Hạnh. Chúng tôi xin lược chép dưới đây qua thần tích. Thần tích này gồm cả lịch sử ngôi chùa.
Ông họ Từ, đi tu lấy pháp danh là Đạo Hạnh, tục danh ông chính là Từ
Lộ.
Ông người làng An Lãng, huyện Vinh Thuận, tức là làng Láng thuộc đại lý Hoàn Long Hà Nội sau này.
Ông sinh vào đời nhà Lý, tu theo đạo Phật, là một vị cao tăng thời bấy giờ. Ông học vấn uyên thâm, kiến văn quảng bác lại thêm phép thuật cao siêu.
Cha ông tên Từ Vinh làm Tăng Quan Đô Sát triều Lý, mẹ là Lăng thị
thuộc dòng dõi quý phái. Khi còn ít tuổi, ông thường chơi bời kết bạn với một nho gia họ Phí, một đạo sĩ tên Phan Ất và một người phường chèo là Lê Hoàn. Hàng ngày ông chỉ cùng mấy người kia đàn địch hát xướng và dông dài cờ bạc nên luôn luôn bị cha quở mắng.
Ban ngày ông chơi bời như vậy, nhưng ban đêm ông lại rất chăm học, thường thường có khi đọc sách thâu đêm suốt sáng.
Sau ông đi thi trong giác hội về khoa Bạch Liên và có sang Ấn Độ học đạo.
Cha ông, ông Từ Vinh dùng thuật phản ông Diên Thành Hầu, một vị
quan tôn thất. Diên Thành Hầu liền nhờ ông Đại Điên một thầy Phù Thủy cao tay dùng phép thuật đánh chết, quăng xác xuống sông Tô Lịch.
Xác trôi đến cầu Yên Quyết tự nhiên dừng lại. Đại Điên biết liền đến gần cái xác quát to lên rằng:
Tăng hận bất cách túc, sinh tử nhất tràng mộng Nghĩa là:
Thầy chùa giận không để cách đêm, sống chết chỉ là giấc mộng dài.
Sau lời quát của Đại Điên, xác của Từ Vinh lại trôi đi Từ Đạo Hạnh thấy cha bị Đại Điên giết, lòng căm tức vô cùng, thề quyết báo cái thù chẳng đội trời chung ấy, nhưng nghĩ mình pháp thuật kém Đại Điên, đành phải nén thù cố tâm đi học đạo luyện phép.
Ông vào trong hang Phật Tích tu luyện.
Sau một thời kỳ dày công khổ hạnh, ông trở về kinh thành. Đến sông Yên Quyết, ông cầm cái gậy ném xuống dòng sông, nước sông dù chảy xuôi nhưng gậy lại trôi ngược uốn khúc tựa con Rồng. Ông mừng lắm và tự nói rằng:
''Pháp thuật của ta đã hơn Đại Điên?''
Sau đó ông dùng phép tàng hình đánh chết Đại Điên.
Đại Điên tuy chết nhưng vong hồn không tan, hắn vẫn hằn học muốn báo thù Từ Đạo Hạnh, bèn hóa làm một đứa con trai độ ba tuổi rất xinh đẹp tự xưng là hoàng tử Giác Hoàng. Mọi việc xảy đến nhà vua, Giác Hoàng đều biết trước. Vua Lý Nhân Tôn, bấy giờ chưa có con trai, nghe tin lấy làm lạ, sai người đi đón Giác Hoàng về cho ở trong chùa Báo Thiên. Về
sau vua lại có ý muốn lập Giác Hoàng là Đông Cung Thái Tử nên nuôi làm con nuôi.
Ông Từ Đạo Hạnh được tin, biết Giác Hoàng chính là hồn của Đại Điên muốn nhờ cửa nhà vua để báo thù mình.
Ông bèn yểm các ấn pháp để giết chết Giác Hoàng.
Giác Hoàng chết, vua Nhân Tôn thương xót lắm, sai sứ đi tìm quanh nơi Giác Hoàng chết xem có bùa yểm gì không, sứ bắt được nhiều quả ấn khắc tên Từ Đạo Hạnh.
Vua giận lắm sai bắt Đạo Hạnh giam vào lầu Hưng Khánh rồi hội họp đình thần nghị án chém đầu. May thay cho Đạo Hạnh! Có em vua là ông Sùng Hiền Hầu thấy vậy thương xót tâu rằng:
''Nếu Giác Hoàng pháp thuật cao cường, dù có bị yểm bùa cũng không chết. Nay Từ Lộ có phép giỏi hơn Giác Hoàng nghĩ xin bệ hạ tha cho y và bắt y thác sinh còn hơn.''
Nhà vua y tấu. Từ Đạo Hạnh đến tạ ơn Sùng Hiền Hầu, nhân thấy phu nhân có thai, ông bèn bảo Hầu:
“Khi nào phu nhân sắp lâm bồn xin ngài nhớ cho tôi biết trước.”
Đến khi Sùng Hiền Hầu phu nhân tới ngày lâm bồn, trở dạ đã lâu mà chưa sinh được. Hầu nhớ tới lời dặn của ông, cho người tới nói để ông hay.
Ông dặn người học trò của mình là Nguyễn Minh Không:
''Ta với ngươi có duyên cũ, vậy kiếp sau nếu ta phải hóa làm hổ thì ngươi nghĩ tình thầy trò đến chữa cho ta.''
Dặn Nguyễn Minh Không rồi ngài vào trong một hang núi Sài Sơn, làng Thụy Khê và hoá ở đấy. Hang này ngày nay mang tên là hang Thánh Hóa.
Đúng với giờ ngài hóa, Sùng Hiền Hầu phu nhân sinh một con trai đặt tên là Dương Hoán, lớn lên rất thông minh đĩnh ngộ lại hiếu học. Vua Lý
Nhân Tôn nhận làm con và sau truyền ngôi cho tức là vua Lý Thần Tôn.
Vua Lý Thần Tôn là một vị vua hiền, nhiều lần đại xá cho tội nhân và giảm thuế cho dân chúng.
Về sau nhà vua tự nhiên mắc một chứng bệnh thật là kỳ dị, tinh thần mê loạn, mình mẩy ngứa ngáy, gào thét nhảy nhót suốt ngày như cọp.
Bao nhiêu pháp sư và danh sư đều không chữa bệnh được cho vua. Triều đình cho sứ đi tìm các danh y cao tăng. Nguyễn Minh Không được tin, liền đặt ra một câu hát, xui trẻ con hát:
Tập tầm vông
Có ông Nguyễn Minh Không,
Chữa được cho Hoàng Thái Tử.
Triều đình cho sứ đi mời ông đến. Các danh y, cao tăng thấy ông ăn mặc xuềnh xoàng quê mùa cục mịch có ý coi thường.
Biết ý, ông liền lấy một cái đinh dài 5-6 tấc đóng lên trên cột và nói rằng:
''Nếu ai rút được cái đinh này mới đủ tài trị bệnh cho hoàng đế''
Các danh y và các chư tăng đều chịu. Nguyễn Minh Không bèn dùng tay trái nhổ cái đinh ra, ai nấy đều khiếp phục.
Ông lấy một cái vạc thật to, đun nước thật sôi, nhúng tay vào hòa thuốc, rồi dùng nước đó tắm cho vua. Vua khỏi bệnh. Vua phong cho ông làm Quốc Sư.
Đó là câu chuyện về sự tích của ông Từ Đạo Hạnh với vua Lý Thần Tôn và hang Thánh Hóa tại chùa Thầy.
Câu chuyện cớ vẻ hoang đường, nhưng đây là thần tích, chúng tôi chỉ xin chép lại!
Hang Thanh Hoá và di tích của ông Từ Đạo Hạnh Như trên đã trình bày, ông Từ Đạo Hạnh trước khi thác sinh, vào một hang núi Sài Sơn để hóa, và hang đó nay mang tên là hang Thánh Hóa.
Hang này ở lưng chừng núi, trên một địa điểm chênh vênh.
Muốn tới hang Thánh Hoá phải leo một con đường ngoắt ngoéo, trên những hòn đá cheo leo, giữa những đám cây cỏ um tùm. Qua con đường này, tới một ngôi chùa nhỏ, chùa Đinh Sơn. Chùa Đinh Sơn nhỏ nhưng rất đẹp và mát mẻ. Trong chùa, lẽ tất nhiên thờ Phật, nhưng lại có thờ
vọng cả ông Từ Đạo Hạnh.
Qua khỏi chùa, đi theo một con đường nhỏ ven chùa tới một chiếc am mang tên là am Hiển Thụy. Sau am Hiền Thụy là hang Thánh Hóa.
Hang Thánh Hóa rộng rãi, ở ngoài trông như một gian nhà cao ráo sáng sủa. Ở hai bên chân hang có hai bể nước chứa nước mưa rỏ xuống từ khe núi.
Trong hang có nhiều pho tượng. Hang ở dưới rộng rãi, nhưng qua nơi rộng rãi này, ở trên có một khe nhỏ ăn hút vào núi. Muốn vào khe này, nhà chùa để sẵn cho du khách một chiếc thang tre, và khi đã leo hết thang phải bò theo sườn hang.
Trước khe này có khắc vào đá ba chữ THẠCH ĐIỂM ĐẦU. Cửa khe nhỏ chỉ một người chui vào vừa nhưng bên trong cùng rộng ra có thể đủ
ba bốn người cùng đứng. Người ta bảo đây mới đúng là hang Thánh Hóa và mé dưới chỉ là một cái động!
Trong hang có nhiều vết lõm xuống đá. Theo lời tương truyền đó là những vết trán vết chân khi ông Từ Đạo Hạnh hóa, ngã xuống!
Đấy chỉ là lời tương truyền? Thường ở tất cả những nơi thắng tích, nếu có những dấu vết đều có những lời tương truyền để thi vị hóa phong cảnh hoặc để cho người ta sùng kính tế tự.
Chùa Một Mái, hang Gió và hang Bụt Mọc Hang Gió là một cái hang hổng hai đầu, đứng ở trong hang mát lắm, lúc nào cũng có gió lùa, do đó gọi là HANG GIÓ.
Muốn tới Hang Gió phải vòng ra đằng sau chùa Đinh Sơn rồi đi theo con đường nhỏ ở ven núi sang cho tới chỏm núi bên kia. Ở ngay chỏm núi bên kia lại có một ngôi chùa nữa, chùa MỘT MÁI, lối kiến trúc chỉ làm có một mái. Trước chùa Một Mái cũng có một hang nhỏ trong có rất nhiều bụt đá. Với những bụt đá này, ngôi chùa trông có vẻ lạ và đẹp.
Hang Gió ở giáp ngay mé bên cạnh chùa.
Đi khỏi Hang Gió, khách trẩy hội lại gặp một chiếc miếu, đây là miếu thờ Quan Đế; rồi ở đằng sau miếu lại có một cái hang nhỏ nữa gọi là HANG BỤT MỌC: trong hang có rất nhiều tượng Phật bằng đá.
Núi Sài Sơn rất nhiều hang động vì đây là núi đá. Khách trẩy hội hàng năm thường kéo nhau đi thăm đủ.
Hang Cắc Cớ
Ca dao vùng Sơn Tây có câu nói về chùa Thầy và hang Cắc Cớ: Động chùa Thầy có hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ thì nhớ chùa Thầy!
Hang Cắc Cớ là hang thế nào và tại sao những chàng trai chưa vợ lại cứ
nhớ chùa Thầy?
Hang Cắc Cớ là một hang sâu lắm, ở cách không xa hang Bụt Mọc bao nhiêu. Hang đã sâu, cửa hang lại nhỏ, trong hang tối om om.
Dân làng Thụy Khuê còn gọi hang này là hang THẦN.
Đi qua cửa hang, du khách phải lách về phía bên trái, đi theo con đường sát vào vách đá. Con đường này rất nhỏ và dài vào khoảng năm trăm
thước. Hang tối om, ai đi trên con đường vách đá này đều phải hết sức chú ý, sẩy chân rớt xuống vực sâu là mất mạng! Phải đi lần từng bước.
Không ai dám sơ ý dù có ham ngắm rất nhiều thạch nhũ muôn màu rủ
xuống đang chìm đắm trong bóng tối. Thảng hoặc có ai mang theo đèn nến cũng không dám coi thường từng bước đi!
Đường đó đi một người cũng đã phải thận trọng huống hồ trong những ngày hội, kẻ ra người vào tấp nập không ngừng, người ta lại càng phải thận trọng hơn nhiều. Đường là đường độc đạo, lại chỉ vừa một người đi, nên mỗi khi hai người kẻ ra người vào gặp nhau, người ta phải ôm sát lấy nhau để tránh cho khỏi ngã.
Thật là cắc cớ trớ trêu! Đã có biết bao nhiêu chàng trai được ôm sát lấy người những cô gái, và khi một cô gái gặp một chàng trai, dù muốn hay không cũng phải ôm sát lấy người chàng để khỏi bị rơi xuống vực thẳm.
Sự gần gũi ngẫu nhiên này giữa nam và nữ đã đem lại cho hang cái tên là CẮC CỚ!
Đi hết quãng đường tối dốc nguy hiểm nhưng lại rất thú vị này, đến quãng đường rộng, tương đối bằng phẳng hơn, tuy ở dưới chân vẫn lởm chởm những hòn đá ngầm trong vũng nước. Quãng đường này đã bớt nguy hiểm nhiều. Hết quãng đường này, khách sẽ gặp một tảng đá to sừng sững đứng giữa động, chính tảng đá này đã che hết ánh sáng làm cho hang Cắc Cớ tối om om. Vòng hết tảng đá, đi quặt sang bên phải, đột nhiên ánh sáng trong như lọc, lọt vào trong hang do một lỗ hổng ở trên cao. Giờ đây, khách trẩy hội có thể ngắm những nhũ đá muôn hình vạn trạng óng ánh như kim cương rủ xuống.
Di tích của ông Lã Tá Công trong hang Cắc Cớ
Trong hang Cắc Cớ ở chính chỗ nơi sâu rộng có rất nhiều hài cốt và xương người.
Trước kia vào thời Thập nhị Sứ quân, một toán quân của ông Lã Dương tức là Lã Tá Công, một trong Thập nhị Sứ quân đã bị quân của vua Đinh Tiên Hoàng vây hãm trong hang núi. Quân của ông Lã Tá Công không
phá được vòng vây, bị hãm lâu ngày chết đói hết. Những mảnh hài cốt bắt gặp ngày nay chính là hài cốt của toán quân đó.
Trong hang có lập nhiều bàn thờ để cúng những âm hồn uổng tử này.
Ngoài những hài cốt thật, người ta còn nặn cả những hài cốt đất sét để
thờ.
Hồi tiền chiến, hang này có được sửa sang lại để trong những ngày hội, khách trẩy hội có thể ra vào dễ dàng hơn.
Hang Cắc Cớ có rất nhiều khe ngách. Đi vào vô ý rất có thể bị lạc đường.
Chợ Trời
Đã tới Sài Sơn phải biết Chợ Trời.
Chợ Trời ở trên đỉnh Sài Sơn. Đólà một khoảng đất khá rộng hình tròn, chung quanh mọc lởm chởm những hòn đá vừa to vừa nhỏ và lác đác dăm ba cây đại già.
Muốn lên Chợ Trời tự chân núi phải đi theo một con đường đá lởm chởm quanh co, khập khểnh, lắm chỗ rất khó đi, phải leo trèo như con vượn.
Leo lên rất mệt, nhưng phải leo lên tới đây mới thưởng thức được cái vẻ
đẹp của toàn cảnh Sài Sơn.
Thật là một nơi đệ nhất danh thắng tỉnh Sơn Tây. Phong cảnh như tranh vẽ: mây trôi dưới gót, gió thổi bên khe, xa xa nào núi, nào sông, núi cao cao ngất, sông quanh co uốn khúc lấp lánh dưới ánh mặt trời! Những xóm làng đồng nội cách nơi đây độ mười lăm cây số đều có thể trông thấy rõ ràng, thu gọn vào với núi sông thành một bức họa thiên nhiên, màu sắc êm dịu và hòa hợp, đố có tay họa sĩ nào vẽ được cho bằng.
Hội chùa Thầy
Hàng năm cứ đến ngày mồng bảy tháng ba âm lịch, Chùa Thầy mở hội rất to để kỷ niệm ông Từ Đạo Hạnh. Ngoài việc cúng vái tụng kinh, dân
làng Thụy Khuê có tổ chức những trò vui cổ truyền như đánh cờ, hát chèo, múa rối.
Làng Thụy Khuê chỉ cách thị xã Sơn Tây có 17 cây số, và Sơn Tây cách Hà Nội không bao xa, nên ngày hội khách ở tỉnh và ở Hà Nội kéo về
không ít, trước là đi lễ, sau là ngoạn cảnh và xem những trò vui cổ
truyền.
Những đồng bào Phật Giáo đua nhau trẩy hội với vàng hương và lễ vật.
Những người hiếm con tới chùa cầu tự và rất nhiêu người xin áo dấu ở
chùa. Người ta cũng xin thẻ để cầu những điều mong mỏi, trai gái hỏi về
việc tình duyên, người buôn bán làm ăn hỏi về tài lộc, người đau ốm hỏi về bệnh tật v.v...
Chính hội là ngày mồng bảy tháng Ba, nhưng dân làng Thụy Khuê mở
cửa chùa từ ngày mồng 5, sau lễ mộc dục tắm tượng ông Từ Đạo Hạnh.
Quanh năm vất vả với công việc làm ăn, nhân làng mở hội, ai nấy trong làng đều nghỉ việc để dự hội làng, nào tổ tôm điếm, nào cờ bỏi, nào xem múa rối, nào dự hát chèo... và nhất là vui chơi cờ bạc.
Cờ bỏi
Cờ bởi chơi cũng như cờ chiếu tướng và cũng có một số quân như vậy gồm tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã và tốt. Đúng ra cờ bỏi là cờ chiếu tướng chơi ở trên sân đình, hoặc ruộng, và thay vì những quân cờ đặt trên bàn cờ, quân cờ ở đây là những chiếc biển cắm xuống những lỗ đào sẵn ở sân đình hoặc ở ruộng. Những lỗ này xếp đặt theo như những vị trí trên bàn cờ.
Cờ đi cũng giống như quân cờ đi ở trên bàn cờ: mã lệch, tượng điền, xe liền, pháo cách...
Muốn ra sân chơi cờ bỏi, các kỳ thủ phải đấu trước cờ bàn mấy trận, và chỉ những người thắng cờ bàn mới được ra chơi cờ bỏi.
Giải cờ do dân làng tặng, giải không to, thường chỉ gồm vài bao trà, bánh pháo, vuông nhiễu điều, nhưng giải to nhỏ đâu có phải là điều quan tâm của các tay danh thủ. Điều cốt yếu là được giải, được giải mới là điều vinh dự.
Trong lúc hai đấu thủ chơi cờ, dân làng cử người đánh một chiếc trống khẩu để thúc giục đấu thủ không được quá trì chậm trong nước đi.
Mỗi ván cờ thắng dân làng thường đốt một bánh pháo mừng.
Hát chèo
Đây là một lối hát đặc biệt Việt Nam.
Hàng năm trong dịp đầu xuân thường có những phường chèo đến các làng có hội xin hát thờ thần và đồng thời để dân làng mua vui. Lẽ tất nhiên những buổi hát đều có tiền thù lao.
Hát chèo điệu bộ cũng gần như hát tuồng, nhưng giọng hát thì khác hẳn.
Giọng hát Nam, hát Bắc, hát Nồi niêu không giống thư hát tuồng.
Y phục phường chèo cũng tương tự như phục phường tuồng. Những tích hát chèo thường là những tích có kết cục luân lý để răn đời.
Trong những ngày hội quê miền Bắc cũng như miền Thanh Nghệ thuở
xưa thường bao giờ cũng có hát chèo.
Chèo hát ở ngay trước bàn thờ thần.
Các cụ có tuổi hoặc các quan viên trong làng được cử cầm trống chầu.[1]
Múa rối
Múa rối là một trò chơi giải trí bằng người gỗ hoặc người vải nhồi bông có người ngồi ở chỗ khuất giật dây cho cử động.
Đám múa rối thường thiết lập ở cạnh đình làng, đàn bà trẻ con xúm nhau tới xem.
Trong trò múa rối người ta cũng diễn lại những sự tích cũ như hát tuồng hoặc hát chèo. Những người gỗ hoặc người vải nhồi bông đóng vai nào thường được vẽ mặt và bận y phục như vai đó trong một vở tuồng.
Nghệ thuật hát tuồng và hát chèo là nghệ thuật tượng trưng thì trò múa rối tuy là trò của đàn bà trẻ con, cũng có tính cách tượng trưng như nhiều môn mỹ thuật hoặc trò giải trí khác của phương Đông.
Trong lúc những người gỗ hoặc người vải nhồi bông cử động nhảy múa theo đà dây giật, thì ẩn núp ở hậu trường đã có những người hát theo những nhịp cử động của mỗi vai trò hoặc nói những lời của những vai trò này phải nói và thỉnh thoảng lại khôi hài để chuốc lấy tiếng cười của khán giả.
Xưa kia trò múa rối rất thịnh hành ở nước ta, tại hầu hết các hội quê đều có tổ chức múa rối để mua vui cho đàn bà trẻ con. Mỗi khi một làng mở
hội cũng có những phường múa rối tới làng để xin diễn trò như những phường tuồng và phường chèo.
Múa rối nước
Ngoài kiểu múa rối ở trên cạn, tại các xã ở gần sông hồ còn có múa rối nước rất đặc biệt và đòi hỏi ở các diễn viên một sự khéo léo tối đa, - diễn viên đây xin hiểu là những người có nhiệm vụ giật dây các vai trò.
Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục đã viết về trò múa rối nước như
sau:
''Bắc rạp ở dưới nước, phường hát ngồi trong rạp trống phách hát hỏng, một người đứng dưới nước cầm máy làm cho các người gỗ đi chạy trên mặt nước, hoặc đánh nhau. Hoặc làm hai con rồng chọi nhau, hoặc làm ông Lã Vọng câu cá, có cá nhảy ra đớp mồi, giật lên được cá'' ([2]) Thực ra trò múa rối nước cũng không khác trò múa rối trên cạn bao nhiêu. Cũng làm rạp và người giật dây cũng đứng khuất để giật cho những vai trò làm trò. Sự hấp dẫn của cả hai lối múa rối đều như nhau,
nhiều hay ít tùy ở tài người giật dây và ở những người ca theo điệu nhịp của các vai trò. Các lời ca, lời nói thường được đệm nhạc.
Vai trò Sài Sơn với chùa Thầy
Sài Sơn là một thắng cảnh, chùa Thầy là một di tích tôn giáo lẫn lịch sử
nên rất được nhiều người viếng thăm, không riêng gì trong những ngày hội mà cả ngày thường nữa.
Các văn nhân thi sĩ, viếng cảnh chùa Thầy, xúc động trước phong cảnh hữu tình thường đề thơ kỷ niệm. Thơ đề ngay trên vách đá, thơ khắc ngay vào các cửa động.
Chúa Trịnh Căn (1682-1700) khi xưa cũng đã viếng thăm cảnh Sài Sơn với chùa Thầy, và cũng đã có một bài dẫn và một bài thơ đề hang Cắc Cớ, khắc ngay vào vách đá núi Sài Sơn. Dưới đây là bản dịch hai bài trên của trường Bác Cổ Hà Nội:
Rộng xem dưới sườn núi mấp mô, trời nhân sáng sủa bao quát rất nhiều gió tốt. Ta từng cầm quyền lan nhị, trang sức dùng xạ châu, đã khắp nơi tán dương đề vịnh, sai khắc ở lưng núi này. Vừa gặp buổi trời mây mở
thịnh, nhân tiết xuân lại lên xem cảnh tốt, lòng vui thẳng bước, hết thảy xem chơi, chỉ thấy khe núi quanh co, rõ ràng đường tắt bằng phẳng, thỉnh thoảng điểm màu xanh biếc, y nhiên có vẻ huyền trân, thực là trong cảnh sáng tỏ; càng thêm thần kỳ, lòng mến cảnh chưa thôi, vần thơ đã nảy; bèn sai khắc vào đá này:
Lạ thay hồng tạo khéo đào thành,
Danh ấy đong đeo xứng sở danh,
Ngọc tửu hương nhuần mùi bát ngát,
Quân giai nguyệt tỏ bóng đành rành.
Sắc xanh thu thụ khoe xuân đượm,
Tiếng nhặt huân kinh diễn đạo lành.
Trần tới hây hây chăng điểm bơn,
Chọn sao thanh tĩnh nữ thiền tinh.
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương khi xưa đi thăm chùa Thầy, đã có một bài thơ thật là tuyệt tác đề vịnh hang Thánh Hoá:
Khen thay con tạo khéo khôn phàm,
Một đố giương ra biết mấy ngoàm.
Lườn đá cỏ leo, sờ rậm rạp,
Lách khe nước rỉ, mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am.
Đến mới biết rằng hang Thánh Hóa,
Chồn chân mỏi gối vẫn còn ham.
Cụ Tam Nguyên Yên Đổ cũng có thăm Sài Sơn và đã vịnh Chợ Trời: Hóa công xây đắp biết bao đời,
Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời.
Buổi sớm gió tuôn mưa nắng trải,
Ban chiều mây họp tối trăng chơi.
Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn,
Trải thẻ giang sơn bốn mặt ngồi.