Hội đền Lý Bát Đế (tiếp)Phần 10

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

vào việc nấy, trong các buổi rước xách tế lễ cũng như trong ngày diễn lại thần tích.

Kể từ ngày mồng 6 tháng 3, các ông Hiệu phải chay tịnh, nhất là ông Hiệu cờ phải đặc biệt giữ gìn, ở riêng một nơi với người hầu hạ riêng.

Ngày rằm tháng 3 hàng giáp rước ra đền một lư hương và làm lễ trình diện các ông Hiệu với đức Thiên Vương, trước sự hiện diện của chức sắc trong làng tổng.

Sau lễ trình diện này, ông Thủ từ giao cho giáp tổ chức cờ lệnh, chiêng và trống.

Giáp đương sự lĩnh các tự khí này, long trọng rước về trụ sở giáp, chuyển giao cho các ông Hiệu để luyện tập cho thành thuộc dưới sự chỉ dăn của các ông Hiệu năm trước.

Cũng trong buổi lễ trình diện này, ông Thủ từ giao cho các ông Hiệu Trung quân và Tiểu cổ của hai xã Đổng Viên và Đổng Xuyên ba chiếc trống khẩu sẽ dùng trong buổi diễn trận để các ông cùng dự việc luyện tập với các ông Hiệu Cờ, Chiêng và Trống.

Cờ lệnh bằng lụa màu lòng đỏ trứng gà, nghĩa là đỏ ngả sang vàng, rộng ba tấc rưỡi và dài bảy vuông, bảy lần ba tấc rưỡi. Cờ do giáp chủ tọa may và đây chính là cờ đức Thánh Gióng dùng trong ngày diễn trận.

Ông Hiệu Cờ sẽ phất cờ này và sau đó sẽ lưu thờ tại đền Thượng cho đến rằm tháng Ba năm sau lại giao cho giáp chủ tọa mới. Như vậy mỗi năm thay cờ lệnh một lần. Cờ năm trước ông Hiệu Cờ năm sau dùng để luyện tập trước ngày diễn trận.

Thảo lệnh từ

Cờ lệnh không phải cứ may xong là đem dùng ngay. Để phân biệt với những lá cờ khác, trên cờ sẽ có chữ ''LỆNH'' do một tay văn tự viết lên.

Giáp chủ tọa trong mấy ngày đầu tháng tư sẽ lựa một ngày tốt, mời một

bậc đại khoa nếu có, bằng không cũng phải mời một tay văn học tới viết chữ ''LỆNH'' này với sự chứng kiến của tất cả các ông Giáp trưởng bốn xã trong hàng tổng.

Để tháo chữ ''LỆNH'' này, phải dùng bút mới, mực mới loại tuyệt phẩm.

Miễu

Ngày mồng 7 tháng Tư, hàng giáp làm lễ rước cờ lệnh tới miếu giáp. Cờ

may vào cán, quấn lại, đựng trong một chiếc túi màu đỏ thêu long phượng. Trong túi này, hàng giáp đặt vào một trăm tờ giấy trắng, một nghìn con bướm giấy các màu và tới 60 gói trầm nhỏ.

Tất cả các túi như vậy gọi là MIỄU.

Hàng giáp theo ông Hiệu Cờ rước Miễu tới đền Mẫu.

Diễn trận

Kể từ ngày mồng 6 đến ngày 12, nước Văn Lang coi như đang bị họa xâm lăng.

Trước thời gian này, mọi việc luyện tập của các ông Hiệu và của các Cơ

trưởng, Cơ binh đều đã hoàn tất.

Đền Thượng và đền Hạ đã được quét dọn lại, các tự khí lau chùi lại sạch sẽ.

Dàn hàng tổng chỉ còn chờ sự diễn trận và du khách tứ xứ tới xem hội cũng chỉ mong được chứng kiến sự diễn trận.

Quân giặc

Quân giặc chính là 28 thiếu nữ từ 10 đến 13 tuổi được dân hàng tổng cử

ra như trên đã nói.

Ngày mồng 8 tháng Tư hàng tổng đi kiểm soát lại đoàn quân giặc.

Tuy ngày mồng 8, hàng tổng mới kiểm soát lại đoàn quân giặc, nhưng thực sự cuộc diễn trận đã được sửa soạn từ ngày mồng 6, 28 tướng giặc với 28 cỗ kiệu đã sắp sửa sẵn sàng, và các cô thiếu nữ trong ngày mồng tám này được phấn son trang điểm với những đồ nữ trang lộng lẫy khiến vẻ ngây thơ của các cô càng được khách xem hội thập phương ngắm nghía. Các cô đều ngồi kiệu và có lọng che.

“Ai ơi mùng chín tháng tư

Không đi hội Gióng cũng hư một đời”

Thực ra ngày mồng 9 chỉ là ngày có cuộc diễn trận. Hội gồm nhiều ngày với nhiều trò vui. Diễn trận là chủ chốt và là cuộc vui độc đáo nhất của mấy ngày hội.

“Mồng bảy hội Khám,

Mồng tám hội Dâu,

Mồng chín đâu đâu,

Thì về hội Gióng!”

Hai làng Khám và làng Dâu cũng thuộc huyện Vũ Ninh trước, hàng năm có mở hội vào hai ngày mồng 7 và mồng 8. Dân chúng trong hạt, sau hai ngày trên, xem hội tại hai làng Khám và Dâu, đến ngày mồng 9 kéo nhau về hội Gióng xem cuộc diễn trận.

Những nghi lễ trước ngày mồng 9 tháng 4

Như trên đã nới, cuộc diễn trận được sửa soạn từ ngày mồng 6 tháng Tư.

Ngay từ 3 giờ chiều hôm mồng 6, dân làng đã cử hành một đám rước tới GIẾNG trước đền Mẫu, tức là đền Hạ, để lấy nước lau rửa tự khí dùng trong việc diễn trận.

Nước đựng vào hai chóe sứ. Hai mươi bốn quân sĩ của Phù Đổng Thiên Vương sắp hàng hai theo bậc Giếng từ trên bờ tới mặt nước để lấy nước.

Người cơ binh đứng ở bậc Giếng cuối cùng, sát mặt nước, múc nước vào một chiếc gáo đồng rồi chuyền cho người đứng cùng hàng với mình ở

trước mặt.

Người này nhận gáo nước rồi chuyền lại cho người đứng ở trước mặt mình bên bậc trên, đứng kế bên người vừa chuyền cho mình...

Cứ lần lượt như vậy, gáo nước được chuyển theo đường chữ ''CHI'' cho tới miệng Giếng đến tay người đứng bên choé sứ. Người này đổ nước vào chóe, lọc qua một miếng vải điều theo hiệu lệnh Cơ trưởng. Cơ

trưởng mặc áo thụng xanh và đánh Kiểng để ra lệnh cho người cơ binh đổ nước vào choé.

Tự khí được rửa bằng nước đã lọc đựng trong choé sứ ở ngay sân đình.

Ngày mồng 7 vào cuối giờ Tỵ, cờ lệnh được rước từ đền Mẫu đến đền Thượng, và buổi chiều và lúc giờ Mùi, hàng tổng đi kiểm soát lộ trình từ

đền đến bãi trận. Có điều gì khiếm khuyết lập tức phải sửa chữa và bổ

khuyết ngay.

Cuộc diễn trận chính thức

Vào giờ Tỵ ngày mồng 9, có lễ tế cờ tại đền. Ông Thủ chỉ giáp chịu trách nhiệm về tổ chức chủ toạ lễ này. Có mổ trâu giết bò. Các ông Hiệu kiểm soát lại nhân số của mình.

Mọi người đều sẵn sàng để xuất trận.

Lúc đó quân giặc, 28 thiếu nữ đóng tướng nhà Ân, đóng dinh tại Đồng Đàm, một khoảng đất ở ven đê sông Thiên Đức, giữa khoảng con đê mới ngày nay và con đê cũ ngày xưa thuộc địa phận xã Đổng Viên. Các cô thiếu nữ ngồi trên kiệu, những chiếc kiệu lộng lẫy, chung quanh có bà con và các cô gái làng xúm lại trang điểm cho các cô.

Vào lúc cuối giờ Ngọ, quân thám thính tới đền Thượng báo tin quân giặc đã cắm dinh trại tại xã Đổng Viên.

Tiếng nổi hiệu báo động. Các ông Hiệu và quân lính tề tựu tại đền hô to khẩu hiệu ''TUÂN LỆNH''. Người người rút binh khí ra khỏi giá rồi đứng đợi lệnh ở sân đình.

Các ông Hiệu vào lễ thần, đoạn cầm những tự khí mình phụ trách, người trống kẻ chiêng, người cờ lệnh, kẻ trống khẩu đứng sắp hàng trước bàn thờ.

Khúc quân ca và điệu múa Lào

Lúc đó ban múa Lào của làng Hội Xá ở bên kia sông đã được cử sang để

hát khúc quân ca liền vào làm lễ múa và ca.

Ban này gồm 20 người, một người đóng vai ông Cọp tượng trưng cho sức mạnh tới trước bàn thờ lễ phủ phục, còn mười chín người đóng giả

người Lào múa hát, điệu múa theo giọng hát.

Dưới đây là khúc quân ca hàng năm ban hát làng hội Xá vẫn ca múa trước bàn thờ, khúc hát này theo dân làng Phù Đổng thì có từ đời nhà Lý, và ban hát làng Hội Xá vẫn vừa hát vừa đánh phách theo điệu múa:

''Thứ sáu là Hùng á Vương

Nhớ á xưa là nhớ á xưa

Thứ sáu là Hùng á Vương

Hai mà mươi là là tám á tướng

Tướng tướng cường là là nữ á nhung

Tướng tướng công là là nữ á nhung

* *

*

Xâm á thương là là xâm á thương

Cậy thế là là khoe á hùng Quân mã sang sang là là đóng mà chật

Một vùng là là Vũ á Ninh

Một vùng là là Vũ á Ninh.

* *

*

Thánh thánh tướng là là giáng á sinh

Trời á sai là là trời á sai

Thánh thánh tướng là là giáng á sinh

Giáng mà về là là Phù mà Đổng

Ẩn ẩn hình là là ai á hay

Ẩn ẩn hình là là ai á hay

Ba ba tuổi là thơ á ngây.

Mới á lên là là mới á lên

Ba ba tuổi là là thơ á ngây

Nghe mà vua là là cầu mà tướng

Ngày ngày rầy là ra á quân

Ngày ngày rầy là ra á quân.

Phán phán bảo là ân á cần

Gọi mà sứ là là gọi mà sứ

Phán phán bảo là là ân á cần Hươm[2] mà vàng là là ngựa mà sắt

Đề đề binh là là tức á thì.

Đề đề binh là là tức á thì.

Khi khi ấy là là ra á uy

Thánh á vương là là thánh á vương

Khi khi ấy là là ra á uy

Thánh á vương là là thánh á vương

Khi khi ấy là là ra á uy

Thánh á vương là là thánh á vương

Khi khi ấy là là ra á uy

Nửa mà chiều là là sấm mà sét

Tức tức thì là là giặc á tan

Tức tức thì là là giặc á tan

Cổi còi lại là là Linh á sơn

Áo á nhung là là áo á nhung

Cổi cổi lại là là Linh á sơn

Thoát mà đà là là thoát là nợ

Trần trần hoàn là là lên á tiên.

Dẹp dẹp nước là là đã á yên

Giúp á vua là là giúp á vua Dẹp dẹp nước là là đã á yên

Ức á niên là là ức á niên

Hương hương lửa là là phụng á thờ

Quốc mà dân là là khang mà thái

Đời đời nhờ là là Hùng mà Long

Đời đời nhờ là là Hùng mà Long.

Bài hát này từ đời nhà Lý, hàng năm mỗi lần Hội lại là một lần được hát lại.

Tiến quân

Khúc quân ca vừa hát dứt, ba hồi chiêng trống nổi lên và cuộc tiến quân khởi hành. Đoàn ca vũ làng Hội Xá cũng dự cuộc tiến quân này.

Mở đầu là 12 trẻ em mặc áo dài sặc sỡ, tay cầm roi mây đi trước hai ông Hiệu Tiểu Cổ. Kế đó là ông Cọp dẫn đoàn ca vũ làng Hội Xá, rồi đến các ông Hiệu Chiêng, Hiệu Trống và Hiệu Trung Quân. Ông Hiệu Cờ vác

''cờ lệnh'' đi sau. Các cờ binh kéo bạch mã đi liền với cờ lệnh. Cuối cùng là cờ binh mang hòm sắc và hòm y phục của Thiên Vương.

Quân lính đi dàn hai bên.

Mọi người chạy ùa tới trận địa trên quãng đường đê dài chừng ba cây số.

Khi chạy qua đền Mẫu họ đều dừng lại và nghiêng đầu làm lễ.

Độ khoảng cuối giờ Mùi đoàn quân tiến tới trận địa qua xã Đổng Viên.

Địch quân lúc đó cũng bố trận dàn binh chờ đoàn quân của nước Văn Lang.

Mặt trận sơ sài lắm. Dưới chân đê có một hồ sen. Địch quân chiếm đóng nơi hồ. Quân Phù Đổng Thiên Vương tiến chiếm bên bờ hồ bên này, có một khoảng đất trống với nhiêu mô nhỏ. Có ba chiếc chiếu đã trải sẵn ở

giữa những mô đất này.

Giữa mỗi chiếc chiếu có một chiếc bát úp trên một tờ giấy: CHIẾU

TƯỢNG TRƯNG CHO CÁNH ĐỒNG, BÁT CHO ĐỒI NÚI, TỜ GIẤY

CHO MÂY.

Hàng tổng đã dựng trước một bàn thờ ở bên trong khoảng đất thuộc xã Đổng Viên, dưới chân con đê cũ. Khi đám rước đi tới đây, con ngựa được dẫn tới trước bàn thờ, khí giới cờ quạt kéo lên và các ông Hiệu Chiêng, Trống, Tiểu Cổ và Cờ tới đứng bên những chiếc chiếu.

Giao phong

Sau nửa giờ nghỉ ngơi tại mặt trận, cuộc giao phong khai diễn vào đầu giờ Thân.

Ông Hiệu Cờ tới đứng trước chiếc chiếu thứ nhất ở gần bên bàn thờ. Lúc đó các ông Hiệu đều xắn tay áo thụng, vạt buộc ra sau lưng. Ông Tiên chỉ xã Phù Đổng với ông Thủ từ trương cờ lệnh lên. Cờ này từ trước vẫn đựng trong chiếc túi đỏ thêu Long Phượng. Rồi những con bướm sặc sỡ

và những gói trầm được tung ra. Dân chúng và khách trẩy hội xô nhau cướp để lấy phước. Ông Thủ từ bao giờ cũng giữ lại một phần bướm cũng như trầm để chia cho dân trong tổng.

Cờ lệnh đã trương lên, ông Hiệu Cờ tiếp lấy rồi tiến lên ba bước, bước chân trái sang bên trái, chân phải sang bên phải đoạn ông dùng ''chân phải khều lấy chiếc bát và tờ giấy'', động tác này có ý nghĩa sự tiến quân vượt qua mây núi. Rồi ông đứng ở giữa chiếc chiếu, hai chân chụm vào nhau. Ông nhảy lên hai lần, sau đó ông quỳ gối bên phải xuống chiếu, bàn chân trái dẵm ra đằng trước như hình chữ ''LỆNH''. Hai tay ông phất cờ lệnh từ phải sang trái, xoay mình ba lần. Dân chúng dự cuộc lúc đó mỗi lần ông xoay mình lại đếm theo.

Ông đứng lên lùi khỏi chiếc chiếu. Lập tức mọi người nhảy xô tới cướp lấy xé chiếc chiếu. Họ tin những mảnh chiếu mang may mắn cho họ, và những người hiếm con cướp được mảnh chiếu có thể thấy được tin mừng.

Ông Hiệu Cờ nhắc lại các động tác trên hai lần nữa trên hai chiếc chiếu còn lại, và khi chiếc chiếu thứ ba được dân chúng xâu xé chia nhau hết quân giặc cũng tan, các tướng giặc cũng rút lui hỗn loạn. Kiệu của các cô thiếu nữ được rước về làng Phù Đổng.

Quân của Thiên vương đại thắng khải hoàn về đền Mẫu. Con bạch mã được dẫn tới trước đền lưng mang quần áo và mũ mãng của Thiên Vương.

Một tiệc lớn khao quân diễn ra ngay trước cửa đền.

Quân giặc trở lại

Các tướng giặc tuy rút lui hỗn loạn, nhưng lại đã thu thập tàn quân kéo tới tận làng Phù Đổng! Chính vì ông Hiệu Cờ đã múa cờ ngược nên không thắng hẳn được quân giặc.

Đoàn do thám xã Đổng Viên tới cấp báo là quân giặc trở lại: Lập tức các tướng sĩ bỏ dở tiệc khao quân để xông pha ra trận tiền.

Các tướng giặc dàn trận giữa đền Thượng và đền Mẫu. Quân của Thiên vương kéo qua trận tuyến của giặc. Mỗi lần ông Hiệu Cờ vác cờ lệnh qua đám tướng giặc, dân hàng tổng lại đốt một quả pháo lớn.

Trận tái chiến diễn ra ở bãi Sòi Bia thuộc làng Phù Đổng. Ở đây cũng lại có ba chiếc chiếu như ở Đồng Đàm.

Ông Hiệu Cờ nhắc lại những động tác cũ ba lần trên ba chiếc chiếu, nhưng lần này ông xoay mình từ trái sang phải để múa thuận lá cờ thành chữ ''LỆNH'': như vậy lệnh của Thiên Vương phá tan hẳn quân giặc. Ba chiếc chiếu cũng lại được mọi người tranh nhau xé cướp.

Lần này quân giặc thua hẳn. Các tướng giặc quỳ xuống xin hàng. Ông Thủ từ từ dùng hai thanh kiếm của hai tướng chỉ huy quân giặc, lột mũ

áo của hai người này, tượng trưng cho sự hành quyết. Còn các tướng khác đều được hưởng sự khoan hồng.

Lúc này, quân tướng của Thiên Vương đã trở lại bữa tiệc khao quân dở

dang lúc trước.

Trời vừa tới.

Thiên hạ thái bình

Ngày hôm sau, mồng 10 tháng 4, hàng tổng duyệt lại đạo binh thắng trận. Các khí giới được kiểm soát lại. Hàng tổng lại làm lễ trước đền. Có mổ bò, mổ lợn. Quân sĩ lại được khao thưởng.

Các tướng giặc đầu hàng mang tới triều kiến Thiên Vương cũng được thết tiệc.

Thế là ''Thiên Hạ Thái Bình''.

Sau ngày diễn trận

Ngày 11 tháng 4, hàng tổng lại tổ chức rước nước để rửa lại khí giới và đồ thờ đã dùng trong việc chiến trận. Và có nhiều trò vui cho khách trẩy hội thưởng thức: đánh vật, hát chèo và có cô đầu hát thờ.

Ngày 12 tháng 4 lại có lễ rước để các chức sắc đi kiểm soát lại các chiến địa tai hại nơi Đồng Đàm và Sòi Bia. Cờ trắng trương lên đầu đường, chứng tỏ quân giặc đã quy hàng.

Buổi chiều tại đền Thượng lại có hát thờ.

Nhất thiên nhất lệ

''Ai ơi mồng chín tháng tư,

Không đi hội Gióng cũng hư một đời!''

Hội năm nay qua, dân hàng tổng xã nào về xã nấy để năm sau, ngày hội tới, hội lại được tổ chức linh đình không kém chi năm trước, để ghi công một bậc anh hùng đã cứu dân cứu nước.

Dân chúng Vũ Ninh nghiệm rằng cứ ngày mồng 8 tháng 4 có mưa.

Người ta bảo đây là mưa rửa đền và rửa các tự khí. Dân chúng cũng lại nghiệm thêm năm nào có mưa như vậy thì được mùa, năm nào mất mưa thì mất mùa. Bởi vậy, tại địa phương có câu ca đao:

''Mồng tám tháng tư không mưa

Bỏ cả cày bừa mà vất lúa đi. ''

Ta hãy bỏ phần hoang đường trong câu chuyện, ta sẽ thấy rằng hồi đó đã có một vị tướng tài, có lẽ đã dùng xe thiết mã giống như loại xe gỗ có máy thời Tam Quốc của Khổng Minh và thiết côn trừ kẻ xâm lăng.

Chính vị tướng tài này là Phù Đổng Thiên Vương, về sau đã được dân ta thần thánh hóa để tỏ lòng tôn trọng.

Nhắc lại mấy dòng lịch sử oanh liệt thuộc thời tiền sử của chúng ta còn ghi trong Đại Nam Quốc sử Diễn ca của các ông LÊ NGÔ CÁT và PHẠM ĐÌNH TOÁI:

''Sáu đời Hùng vận vừa suy,

Vũ Ninh ló giặc mới đi cầu tài.

Làng Phù Đổng có một người,

Sinh ra chẳng nói chẳng cười trơ trơ.

Những ngờ oan trái bao giờ.

Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân.

Nghe vua cầu tướng ra quân,

Thoắt cười, thoắt nói muôn phần khích ngang.

Lời thưa mẹ, dạ cần vương, Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.

Sứ về tâu trước thiên đình,

Gươm vàng ngựa sắt tề binh tiến vào;

Trận mây theo ngọn cờ đào,

Ra uy sấm sét nửa chiều giặc tan.

Áo nhung cổi trước Linh Sơn

Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.

Miếu đình còn dấu cố viên,

Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?''

Chuyện cũ có hay không, điều đó không quan trọng, chỉ biết từ đời Hùng Vương tới nay, dân ta hàng năm có lễ kỷ niệm một vị anh hùng, dù đây là người thật hay người của tưởng tượng, vị anh hùng này theo tục truyền lại đã tận trung phò vua giúp nước, nêu gương sáng cho đời sau.

Và để kết luận bài này, xin mời bạn đọc qua một đoạn thơ tả cuộc dẹp giặc của Phù Đổng Thiên Vương trích trong một tập ANH HÙNG CA VIỆT NAM:

''Giặc Ân cậy tướng anh hùng,

Là ngươi Thạch Lĩnh bạo hung khác người.

Dân lành hắn chẳng thương ai,

Máu người khác chảy trò cười hắn vui;

Ra tay đột phá tơi bời,

Tướng nào binh ấy một loài vô nhân.

Thạch Lĩnh ra lệnh tiến quân,

Ào ào như gió chiếm dần Văn Lang.

Đúng là một lũ sài lang,

Chỉ chuyên giết hại tham tàn cùng nhau.

Muốn dân chịu họa thảm sầu,

Đắng cay điêu đứng khổ đau muôn vàn.

Cầu trời cho giặc chóng tan,

Nước nhà thịnh trị bình an dân lành.

Kể từ có nạn đao binh,

Thiệt tiền, thiệt của sinh linh tơi bời.

Đang khi quân giặc cậy tài,

Thì thần Thiết Lũng tới nơi trận tiền.

Phóng roi, ngựa sắt thét lên,

Khói phun lửa bốc ngài liền ra uy.

Ngọn roi theo lốt ngựa phi,

Giặc Ân chạm tới hồn lìa cõi dương.

Sức thần tỏ mặt phi thường,

Giặc Ân lớp lớp chiến trường phơi thây,

Máu tuôn ra cánh đồng đầy,

Lại thêm lửa đốt mặt mày sém se!

Tướng An hùng dũng tướng chi

Gặp tay thần tướng sức gì đảm đương!

Hỡi ơi! Thạch Lĩnh can trường,

Roi thần cũng giết sạch phường ác tham!

Ngọn roi giết giặc bạo tàn,

Dùng nhiều roi cũng gãy tan không còn.

Thây quân giặc chất như non,

Tan tành giặc chết thỏa hồn dân ta.

Thiên thần đuổi giặc không tha,

Gãy roi nhố gốc tre già dùng thay!

Một cây rồi lại một cây,

Không ngừng tre nhổ liền tay dọc đường.

Giặc Ân nát thịt gãy xương,

Tiếng rên, tiếng khóc âm vang góc trời!

Khen thay ngựa sắt cũng tài,

Luôn luôn tiếng hí không ngơi vó thần.

Lửa hùng thiêu giặc nhà Ân,

Vó câu lõm đất vết chân in hình.

Giặc Ân nào tướng nào binh,

Chạy như vỡ tổ thất kinh hãi hùng.

Thiên thần giết giặc đã xong,

Đường về ruổi ngựa ung dung thư nhàn.

Thần về đến núi Sóc Sơn,

Thuộc Kim Anh huyện nay còn dấu ghi;

Cả người lẫn ngựa biến đi,

Giặc tan còn lại dư uy muôn đời.

Văn Lang non nước yên rồi,

Vua Hùng nhớ tới ơn người hữu công,

Sắc vàng bốn chữ tặng phong:

THIÊN VƯƠNG PHÙ ĐỔNG tạ lòng thần linh.

Nước non từ thuở thanh bình,

Muôn dân lạc nghiệp quang vinh thuận hoà..

Thái bình thiên hạ âu ca,

Ơn người dẹp giặc nước nhà không quên.

Tháng tư mồng chín đệ niên,

Tại làng Phù Đổng hội truyền trong dân.

Tích xưa diễn lại một lần,

Năm năm tưởng nhớ tinh thán vũ uy.

Gương xưa anh dũng còn ghi,