Hội đền Lý Bát ĐếPhần 9

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Chúng ta con cháu Hùng Vương, Cao tay thề quyết noi gương Tổ truyền.

Nguyện gìn giữ cho bền danh dự,

Cố ganh đua rộng mở tinh thần.

Nước non ngày một canh tân.

Tiên rồng nòi giống góp phần văn minh.

Cờ độc lập tung hoành trước gió,

Đài vinh quang đồ sộ ngất cao

Năm Châu thiên hạ trông vào

Việt Nam lên tiếng tự hào từ đây...

Hội đền Lý Bát Đế

Đền Lý Bát Đế là nơi thờ tám vị vua nhà Lý, hiện nay ở làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc). Làng Đình Bảng trước kia là làng Cổ Pháp, nơi Lý Công Uẩn khởi phát.

Làng Đình Bảng, ngoài đền thờ tám vị vua nhà Lý lại có đền thờ Lý Chiêu Hoàng và có cả băng Lý Bát Đế nữa.

Làng Đình Bảng ở ngay ven quốc lộ số 1, quãng đường từ Hà Nội tới Bắc Ninh, cách Hà Nội 18 cây số và cách thị xã Bắc Ninh 23 cây số.

Du khách, nếu có dịp đi trên quãng đường này của quốc lộ số 1, đi khỏi ga Yên Viên tới chùa Dận, và cách chùa Dận trên một cây số, sẽ thấy ở

mé tay phải một làng rất trù phú với nhà gạch, mái ngói phong quang, có chợ lớn, có trường học rộng rãi. Đó là làng Đình Bảng.

Hàng năm, làng Đình Bảng kéo hội vào trung tuần tháng Ba để kỷ niệm các vị vua nhà Lý. Hội không nhất định mở vào ngày nào, thay đổi tùy từng năm, nhưng bao giờ cũng vẫn mở trong trung tuần tháng Ba.

Hàng năm, sắp tới kỳ hội, dân làng họp bàn để ấn định ngày mở hội, chiếu theo ngày xấu tốt trong âm lịch.

Trong ngày hội, có tế lễ, có rước xách. Hội mở tại đình, nhưng ở quanh đình dân chúng và khách xem hội tụ họp để cùng mua vui với những trò giải trí đầu Xuân: cờ bỏi, đáo đĩa, múa rối, leo dây, đánh đu và đôi khi có cả hát đúm, lại có những đám cờ bạc chơi xuân: thò lò, xúc xắc, bài lá...

Cũng có năm có tổ tôm điếm hoặc tam cúc điếm do ban tổ chức mở ra với giải thưởng của dân làng… Buổi tối có hát chèo thờ, và cho dân chúng xem.

Tại đền thờ Lý Bát Đế có tám kiệu của tám vua: Lý Thái Tổ,

Lý Thái Tôn,

Lý Thánh Tôn,

Lý Nhân Tôn,

Lý Thần Tôn,

Lý Anh Tôn,

Lý Cao Tôn,

Lý Huệ Tôn,

Tám kiệu của tám vua bằng nhau và đồng kiểu.

Tại đền thờ của Lý Chiêu Hoàng cũng có kiệu của Lý Chiêu Hoàng, nhỏ

hơn tám kiệu trên và làm theo kiểu kiệu đàn bà.

Trong ngày có lễ rước kiệu của tám vua. Kiệu của Lý Chiêu Hoàng không được rước, phải khiêng ra đặt ở trước đền thờ để bà nghênh đón kiệu của tám vua. Đó là một sự trừng phạt đối với Lý Chiêu Hoàng, vì Lý Chiêu Hoàng không những làm mất ngôi nhà Lý lại còn là đầu mối cho nhà Trần giết con cháu nhà Lý.

Cuộc rước tám kiệu rất vui. Dân làng, những con trai từ 18 tuổi trở lên được cắt cử khiêng kiệu. Đây là một điều vinh dự. Được cử khiêng kiệu các trai làng phải sắm sửa quần áo rất tốn kém. Ngoài việc khiêng kiệu cũng chính trai làng được đề cử vác cờ, vác tàn, vác tán cùng những đồ

thờ trong đám rước. Tám kiệu đi theo thứ tự của tám vua.

Đi đầu đám rước là cờ quạt ngũ sắc, kế đến phường bát âm rồi đến tám kiệu.

Đám rước đông vui lắm. Dân làng Đình Bảng, dân các xã chung quanh, có khi xa hơn nữa, có người từ Bắc Ninh, Thị Cầu, Đáp Cầu tới có người từ Hà Nội về, đều nô nức đi xem đám rước lịch sử hàng năm này. Các cô gái làng hôm đó, cũng như các cô gái làng bên trang điểm thật là đỏm dáng. Các cô mong má hồng được lọt vào mắt xanh của những chàng trai đi rước và đi xem rước.

Hội làng Đình Bảng mở liên tiếp trong ba ngày. Suốt trong thời gian này cửa đền thờ tám vua cũng như cửa đền thờ Lý Chiêu Hoàng rộng mở để

khách thập phương tới lễ.

Sơ lược lịch sử và thần tích

Nhà Lý là một triều đại oanh liệt của Việt Nam, đã đánh Chiêm Thành, bình Tống, sự nghiệp thật hết sức hiển hách. Thủy tổ nhà Lý là vua Lý Thái Tổ, tên tục là Lý Công Uẩn vốn người làng Cổ Pháp.

Tục truyền rằng ông Lý Công Uẩn không có cha, mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiêu Sơn, nằm mộng ân ái với thần nhân, rồi thụ thai sinh ra Lý Công Uẩn. Khi Công Uẩn lên ba tuổi, bà đem cho sư ông trên chùa Cổ

Pháp là Lý Khánh Vân làm con nuôi, bởi vậy mới lấy họ Lý. Công Uẩn

lớn lên vào Hoa Lư làm quan với nhà Tiền Lê đến chức Tả Thị vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Khi vua Lê là Lê Long Đĩnh mất, triều đình thấy nhân dân oán giận nhà Lê, tôn Lý Công Uẩn lên làm vua. Vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long và truyền ngôi được tám đời, cho tới đời Lý Chiêu Hoàng mới chuyển sang nhà Trần.

Nguyên vua thứ tám của nhà Lý là Lý Huệ Tôn bị bệnh lại không có con trai nên sau khi trị vì được 14 năm thì truyền ngôi cho con gái thứ hai là Phật Kiên, tức là Chiêu Thánh công chúa. Công chúa lên ngôi lấy hiệu là Lý Chiêu Hoàng.

Chiêu Hoàng làm vua nhưng quyền chính ở cả trong tay Trần Thủ Độ.

Muốn chiếm ngôi nhà Lý, Thủ Độ tìm cách cho cháu mình là Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng.

Năm Ất Dậu (1225), Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng và nhà Lý cũng mất từ đó.

Nhà Lý làm vua được tất cả 216 năm đã có công làm cho nước Nam trở

nên cường thịnh.

Hội làng Đình Bảng hàng năm nhắc nhở cho dân ta công ơn nhà Lý với đất nước và một thời oanh liệt của dân tộc.

Hội Gióng và tục diễn lại sự tích Phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân

Ca dao có câu:

Mồng bảy hội Khám,

Mồng tám hội Dâu,

Mồng chín đâu đâu

Thì về hội Gióng.

Lại cũng có câu:

Mồng chín tháng Tư

Không đi Hội Gióng cũng hư một đời!

Hai câu ca dao trên chứng tỏ sự vui vẻ nhộn nhịp của Hội Gióng, có cả

đền thờ Đức Phù Đổng Thiên Vương tục gọi là đức Thánh Gióng, người đã giúp vua Hùng Vương thứ VI phá tan quân của Thạch Lĩnh, tướng giặc Ân đã xâm chiếm nước Văn Lang.

Hàng năm vào ngày mồng 8 tháng Tư, tại đình làng Gióng, tên chữ là làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) có mở hội kỷ

niệm ngài rất linh đình và trang trọng. Bốn xã thuộc tổng Phù Đổng: Phù Vực, Đồng Viên, Đồng Xuyên và Phù Đổng chung nhau tổ chức lễ kỷ

niệm này với sự tham dự của xã Hội Xá thuộc phủ Gia Lâm ở bên kia sông Thiên Đức.

Hội đền Phù Đổng Thiên Vương tục gọi là hội Gióng rất vui với cuộc rước lịch sử, diễn lại trận đánh giặc Ân của đức Thánh Gióng nên được dân chúng miền Bắc bao giờ cũng nô nức kéo nhau đi xem đông như

nước chảy. Không được đi xem hội Gióng một lần trong đời người, kể

như đã ''hư một đời''.

Chút ít sự tích

Trước khi đi thăm hội Gióng ta hãy thử tìm hiểu đức Thánh Gióng là ai?

Và công trạng ngài thế nào mà được nhân dân sùng bái, kính cẩn kỷ

niệm như vậy.

Đây sự tích của ngài qua Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim:

''Đời vua Hùng Vương thứ VI, có đám giặc gọi là giặc Ân hùng mạnh lắm không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Đổng bộ Vũ Ninh, nay

là huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh[1], có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.

''Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong làm Phù Đổng Thiên Vương''.

Và đây thần tích

Sự tích trên so với thần tích ghi tại đền làng Phù Đổng có đôi chỗ khác nhau. Trong thần tích có ghi thêm nhiều chi tiết rõ ràng hơn. Xin chép lại dưới đây qua bản tóm tắt bằng chữ Pháp của Ông NGUYỂN VĂN

HUYÊN trong tập ''LES FÊTES DE PHÙ ĐỔNG'', xuất bản năm 1938

tại Hà Nội bởi hội Nghiên cứu Địa Dư Hà Nội với thêm những chi tiết truyền khẩu tại tổng Phù Đổng.

''Dưới đời vua Hùng Vương thứ VI, nước Vặn Lang thực là thái hòa, thịnh trị. Nhà vua bỏ tục cống lễ nhà Ân bên Tàu. Thấy vậy, Ân chúa kiếm cớ tuần du phương Nam để có ý xâm chiếm nước Nam.

Vua Hùng Vương lo ngại, họp triều đình bàn kế giữ nước. Một vị đại thần quỳ tâu: ''Xin nhà vua cầu khẩn Long thần, thần sẽ chỉ bảo nhà vua.''

Vua nghe lời tâu, lập đàn tràng cúng lễ ba ngày liền.

Chợt giông bãi nổi lên với mưa gió sấm sét. Tại ngã tư kinh thành hiện ra một ông già mình cao chín thước, đầu râu tóc bạc, nhảy nhót múa hát.

Nhà vua triệu ông già tới đàn tràng dâng rượu thịt, ông già từ chối.

Hỏi tới quốc sự, ông già đáp:

''Ba năm nữa, giặc sẽ từ phương Bắc lại. Muốn diệt giặc nhà vua phải tìm người tài trong nước và hứa ban thưởng trọng hậu. Sẽ có thần nhân xuất hiện dẹp giặc.''

Nói xong, ông già biến mất.

Ba năm sau, giặc Ân do Thạch Lĩnh, thái tử nước Ân đem quân xâm chiếm nước Văn Lang. Đại tướng nước Văn Lang là Lý Công Dật xuất quân cự địch, nhưng trước thế giặc mạnh, quân Văn Lang bị thua và Lý tướng quân tự sát chết.

Nhà vua chợt nhớ tới lời Long thần, sai sứ đi khắp trong nước để tìm người tài giỏi ra giúp nước.

Bấy giờ tại làng Phù Đổng có một lão trượng tuổi đã 60, cách đây ba năm, bà vợ có sinh ra một đứa con trai trong trường hợp rất kỳ lạ.

Nguyên sau một đêm mưa gió, bà lão ra vườn hái rau, để ý thấy một vết chân to lớn đã dẫm đám rau của bà. Vô tình bà đứng đè lên vết chân đó để hái những cây rau đã bị giày xéo về ăn. Từ đó, bà thụ thai, rỏi sinh một con trai. Đứa con trai này, cho đến năm lên ba tuổi thì vẫn nằm ngửa, không biết nói không biết ngồi.

Khi nghe sứ giả nhà vua đi rao qua, bà mẹ nhìn con nói đùa: ''Nhà vua đang cần tướng tài đánh giặc mà con nay mới lên ba, chưa biết cười biết nói, bao giờ con khôn lớn mà giúp nước phò vua?''.

Bà mẹ vừa đứt lời, đứa bé bỗng bật ra lời nói, bảo mẹ mời sứ giả nhà vua tới.

Thấy con tự nhiên biết nói lại đòi mời sứ giả nhà vua, bà mẹ lấy làm ngạc nhiên, nhưng cũng ra thuật rõ chuyện cho sứ giả hay.

Sứ giả theo bà ta vào. Đứa bé bảo sứ giả về tâu vua đánh cho một con ngựa sắt và một chiếc roi sắt.

Sứ giả về tâu vua rõ mọi sự. Nhà vua mừng lắm cho đó là ứng lời Long thần dạy trước, liền sai đánh ngựa sắt, roi sắt cho đứa bé.

Trong khi sứ giả về tâu vua thì ở làng Phù Đổng, đứa bé lớn phổng lên, ăn uống tốn kém rất nhiều cơm thịt.

Sứ giả mang ngựa và roi tới. Đứa bé bảo mẹ thổi cho một nồi ba mươi cơm, vươn vai đứng lên, ăn hết nồi cơm, cầm roi nhảy lên ngựa sắt, nhắm thẳng phía giặc đóng phi ngựa tới. Lúc đó, giặc đang đóng ở núi Châu Sơn huyện Tiên Du. Trước khi lên ngựa cậu bé nói: ''Ta là Thiết Lũng thiên thần, giáng trần đi dẹp giặc.''

Thiết Lũng thiên thần ra roi, ngựa sắt hét ra lửa, tới núi Châu Sơn phá tan quân giặc, giết được cả tướng giặc là Thạch Lĩnh và ba đại tướng khác.

Nội trong một ngày giặc tan. Còn lại 24 tướng giặc phải xin hàng.

Trong lúc ra quân, ngựa sắt luôn luôn hét ra lửa để đốt giặc. Hiện nay di tích những ngọn lửa vẫn còn ở làng Cháy tức là làng Phù Chẩn, huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc). Nơi đây ngựa thần đã đốt giặc, những cây bén lửa cũng cháy sém. Giống tre này nay mọc ở mấy tỉnh Bắc Ninh, Phúc Yên với những đốt trắng đen như vết cháy; đó là loại tre ''đằng ngà''

rất đẹp và bền được dân quê kén dùng chế tạo các vật dụng trong nhà.

Giết giặc nhiều, chiếc roi sắt gãy, ngài phải nhổ tre dùng thay.

Giặc tan, ngài trở về làng Xuân Tảo, tỉnh Hà Đông, nơi Hồ Tây lội xuồng tắm; sau đó ngài lại lên ngựa đi về tới núi Sóc Sơn tỉnh Phúc Yên, (Vĩnh Phú) thì biến mất.

Nhớ ơn ngài, vua Hùng Vương sai lập đền thờ tại làng Phù Đổng tức là làng Gióng và sắc phong cho ngài là Phù Đổng Thiên Vương. Dân chúng gọi ngài là Đức Thánh Gióng.

Hàng năm để nhớ ơn ngài, dân chúng hàng tổng mở hội diễn lại sự tích ngài đánh giết giặc Ân...''

Lộ trình đến đền Phù Đổng Thiên Vương

Làng Phù Đổng ở tả ngạn sông Đuống, còn gọi là sông Thiên Đức, cách thị xã Bắc Ninh 23 cây số về phía Đông Nam và cách Hà Nội 18 cây số

về phía Đông Bắc.

Từ Hà Nội, muốn tới làng Phù Đổng, phải qua cầu Long Biên bắc ngang sông Hồng Hà, rồi theo quốc lộ số 1 đi về hướng Bắc Ninh, thẳng tới sông Thiên Đức.

Du khách phải qua cầu sông Thiên Đức, đi rẽ về phía tay phải, dọc theo bờ đê, một quãng già bảy cây số thì tới làng Phù Đổng. Nơi đây tại bờ đê vào mé bên trong, có một điếm canh dưới một gốc cây đa to lớn. Đó là điếm canh của làng Phù Đổng dùng để canh đê về vụ nước, và ngoài việc canh đê vụ nước, quanh năm, đêm đêm có tuần tráng canh gác giữ gìn an ninh cho dân làng.

Đứng trên bờ đê có thể trông thấy đền Thượng làng Phù Đổng, một ngôi đền rất đồ sộ, kiến trúc lối xưa. Đây là nơi thờ đức Phù Đổng Thiên Vương. Làng Phù Đổng còn một ngôi đền Hạ là nơi thờ đức Thánh Mẫu, thân sinh ra Thiên Vương.

Theo thần tích, ngôi đền thờ Thiên Vương xây từ đời Hùng Vương. Thực sự, ngôi đền này xây từ đời vua Lý Thái Tổ, nếu không cũng được tu sửa cho rộng lớn từ đó.

Nguyên trước khi làm vua, vua Lý Thái Tổ sống ở chùa Kiên Sơ về phía tây đền Phù Đổng. Những ngày tuần tiết ngài thường hay tới đền lễ và cầu xin với Thiên Vương về tương lai. Ngài đã được báo mộng cho biết là ngài sẽ làm vua và truyền được tám đời. Giấc mộng về sau ứng nghiệm. Vua Lý Thái Tổ đã cho sửa sang, xây to rộng ngôi đền hơn trước.

Ngay trước cửa đền có một hồ sen hình chữ nhật. Ở giữa hồ có ngôi nhà thủy tạ, xây trên một chiếc cồn, kiến trúc cũng theo lối rất xưa.

Cách ngôi đền này độ 700 thước là đền Hạ. Trong những ngày hội có rước từ đền Thượng tới đền Hạ.

Sửa soạn ngày hội

Hội đền Phù Đổng Thiên Vương là một hội rất lớn do bốn xã thuộc tổng Phù Đổng cùng tổ chức với sự tham gia của làng hội Xá, nên việc sửa soạn ngày hội cũng rất cẩn trọng, nhất là sửa soạn cho cuộc diễn lại thần tích: đức Thánh Gióng phá giặc Ân.

Như trên đã nói, tổng Phù Đổng bao gồm bốn xã Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Xuyên, và Đổng Viên.

Trong bốn xã này thì hai xã Phù Đổng và Phù Dực được luân phiên cử

chủ tọa đám hội. Hai xã Đổng Xuyên và Đổng Viên chỉ đóng vai phụ tá trong đám hội và chỉ được đóng vai quân lính do thám trong việc diễn lại thần tích.

Bốn xã trên, mỗi xã chia làm nhiều giáp:

Xã Phù Đổng có sáu giáp,

Xã Phù Dực có bốn giáp,

Xã Đổng Viên có ba giáp,

Xã Đổng Xuyên có hai giáp.

Mỗi giáp cũng gần tựa như một ấp hiện nay ở trong Nam. Việc chia giáp tại xã Phù Đổng hơi khác, là chia theo họ chứ không theo địa lý thôn ấp.

Làng Phù Đổng có lối mười họ. Họ to nhất là họ Đặng Trần, tất cả đều thuộc giáp Đoài. Giáp Đông gồm tất cả những người họ Khổng. Các họ

khác thuộc các giáp khác. Những họ nhỏ, hai ba họ phối hợp thành một giáp. Về địa lý, làng Phù Đổng chia ra làm nhiều ngõ: Ngõ Ban, Ngõ Phu, Ngỡ Chợ, Ngõ Ngánh v.v... mỗi ngõ có thể coi như là một thôn ngày nay ở miền Nam.

Trong số 15 giáp của bốn xã thuộc tổng Phù Đổng, mười giáp của hai xã Phù Đổng và Phù Dực sẽ luân phiên nhau chủ tọa ngày hội, đứng mạnh bái trong những buổi lễ, nghĩa là làm Chủ Tế và chịu trách nhiệm về sự

tổ chức hội.

Chính vì sự trách nhiệm này nên ngày hội đã được sửa soạn cẩn trọng lắm.

Quân tướng diễn trận

Hàng giáp phải cử lấy những người giữ các vai quan trọng trong cuộc diễn lại trận diệt giặc Ân. Những người này là các ông Hiệu, hiệu Cờ

trông nom cờ lệnh, hiệu Chiêng điều khiển chiêng, hiệu Trống điều khiển trống. Ngoài ba ông Hiệu trên, còn một ông Hiệu Trung quân để phối hợp điều hoà sự tiến quân và hai ông Hiệu Tiểu Cổ để đi tiên phong thám thính quân giặc, do hai xã Đổng Viên và Đổng Xuyên cắt cử.

Tất cả các ông Hiệu đều tượng trưng các tướng chỉ huy quân đội của nước Văn Lang; trong các đám rước cũng như trong buổi diễn trận các ông đều có hai lọng che, trừ ông Hiệu Trung quân được đi bốn lọng vì cờ

lệnh chính là linh hồn của cuộc điều binh khiển tướng.

Các ông Hiệu đều phải kén trong đám thanh niên từ 12 đến 26 tuổi. Có thể là những chàng trai đã lập gia đình rồi nhưng phải chay tịnh trong suốt thời gian sửa soạn cho đến hết ngày hội.

Đó là các tướng!

Có tướng thì phải có quân;

Quân được chọn trong dân đinh bốn xã từ 18 đến 36 tuổi họp thành 10

cơ, mỗi cơ gồm một cơ trưởng và 15 cơ binh.

Cơ trưởng và cơ binh đều ăn mặc giống nhau trong ngày hội.

Y phục gồm một chiếc khố đen thắt ngang bụng. Họ đeo bên sườn trái một chiếc túi bằng vải cũng màu đen, hình lưỡi liềm có điểm hoa. Dây đeo túi màu hoa cà vắt quàng qua vai phải. Họ ở trần hoặc phủ một khăn quàng chéo từ vai trái xuống sườn bên phải. Mỗi người đều cầm trong tay một chiếc quạt và đội một chiếc mũ tế màu đen có dát mặt gương óng ánh. Mũ cơ trưởng cũng giống mũ cơ binh, nhưng cơ trưởng được

quyền đội bên trong chiếc khăn lượt, mũ phủ bên ngoài. Cơ trưởng đi thêm đôi giày và mặc áo thụng xanh.

Và quân giặc

Trên là quân tướng nước Văn Lang, đời vua Hùng Vương thứ VI. Quân tướng này cần có kẻ địch để giao tranh! Vậy kẻ địch đâu và kẻ địch là ai?

Kẻ địch là quân tướng nhà Ân được tượng trưng bằng 28 thiếu nữ tuổi từ

10 đến 13 do hàng tổng cử ra để đóng vai 28 viên tướng giặc Ân.

Tại sao lại kén các thiếu nữ?

Quân tướng nước Văn Lang xưa đã thắng giặc Ân phải là quân tướng hùng mạnh nên hàng tổng kén bọn trai tráng, còn quân tướng giặc Ân là lũ bại binh phải do phái yếu tượng trưng lại.

Trong 28 thiếu nữ đóng vai tướng giặc, mỗi giáp phải cử hai cô, trừ giáp chủ tọa được miễn vì đã phải cử nhiều các ông Hiệu và đã phải chịu trách nhiệm về việc tổ chức ngày hội.

Hai thiếu nữ đóng vai hai tướng chỉ huy luân phiên do sáu giáp làng Phù Đổng cử. Giáp nào đã đứng ra tổ chức ngày hội, nếu năm đó tới phiên phải đề cử hai thiếu nữ này, cũng được miễn, và giáp kế phải đề cử thay.

Tất cả 28 thiếu nữ đóng vai tướng giặc đều ăn mặc sặc sỡ và đeo đồ

trang sức lộng lẫy.

Giáp chủ tọa lĩnh trách nhiệm

Ngày mồng l tháng 3 âm lịch mỗi năm, các vị chức sắc trong hàng tổng đều tề tựu tại đền làng Phù Đổng để làm lễ giao trách nhiệm cho giáp chủ tọa. Giáp này phải sửa lễ cáo thần để xin lĩnh sổ phân phối chức vụ, sổ này hàng năm vẫn để thờ tại đền.

Sau khi nhận sổ phân phối chức vụ rồi, hàng giáp hợp bàn luôn mấy ngày hôm sau để đề cử các ông Hiệu, cắt đặt các nhân viên người nào