Hội đền vua Đinh Tiên HoàngPhần 7
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Hội đền vua Đinh Tiên Hoàng Làng Trường Yên, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình là nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và hàng năm dân làng mở hội từ 15 đến 20 tháng Hai âm lịch.
Nơi đây xưa chính là Hoa Lư, đế đô nhà Đinh, phong cảnh thật nên thơ, núi non hùng vĩ, với động phủ đẹp tuyệt vời.
Nhắc đến Trường Yên và ngày hội nơi đây, ca dao ta có câu: Ai là con cháu rồng tiên ?
Tháng Hai mở hội Trường Yên thì về.
Về thăm đất cũ Đinh, Lê,
Non xanh nước biếc bốn bề như xưa.
Muốn tới Trường Yên, du khách hoặc đi theo một con đường hàng tỉnh dễ đi, cách thị xã Ninh Bình không xa, hai bên đường rất nhiều thắng cảnh, non xanh nước biếc, suối róc rách bên khe, hoặc theo dòng sông Đáy đến bên Gián Khẩu, rẽ vào sông Hoàng Long độ 6 cây số thì tới.
Thực ra cho tới nay, trải qua hơn mười thế kỷ của lịch sử, di tích của hai triều đại Đinh và Tiền Lê đã bị thời gian xóa nhòa gần hết, chỉ còn lại hai ngôi đền thờ vua Đinh và vua Lê ở giữa một vùng núi non trùng điệp.
Với địa thế, Trường Yên quả là một nơi cố thủ vững vàng trong thời loạn lạc. Với sự phân chia đất nước làm mười hai mảnh của Thập nhị sứ quân, Vạn Thắng Vương chọn nơi đây đóng đô, thật ngài đã lo xa tính rộng vậy.
Đền vua Đinh không rộng lắm. Ở ngoài sân có một cái sạp đá trên mặt chạm rồng, hai bên có hai con nghê bằng đá, theo người địa phương, những vật này đã lấy ở nước Chiêm Thành về.
Đền không cao mấy, cột trong đền sơn son thiếp vàng.
Trong hậu cung có tượng nhà vua. Tượng nhà vua ở giữa, bên phải có tượng ông chú, bên trái là tượng hai Hoàng tử. Từ đời vua Gia Long về
trước theo lời các cụ truyền lại, xưa có cả tượng Đỗ Thích, kẻ đã ám sát nhà vua. Tượng này hàng năm đến ngày hội bị mang ra cửa đền chịu sự
đánh đập. Tục lệ không mấy đẹp này đã được bãi bỏ bởi vua Gia Long và tượng Đỗ Thích cũng đã được đem đốt đi.
Trước đền vua Đinh có ngọn Mã An Sơn, cao độ 200 thước, trên có lăng vua Đinh, đường lên lăng khúc khuỷu và dốc chênh vênh rất khó đi.
Ngoài đền thờ nhà vua còn có đền thờ Thục Tiết công chúa cơn gái nhà vua.
Lịch sử thần tích
Lịch sử vua Đinh Tiên Hoàng có lẽ người Việt Nam ai cũng phải biết với các cuộc cờ lau tập trận, với sự bình định Thập nhị sứ quân. Tất cả các tập sách lịch sử Việt Nam đều có nhắc tới, nhiều văn thơ đã được sáng tác đề ca tụng nhà vua cũng như đế đô Hoa Lư của người. Ở đây chúng tôi chỉ xin nhắc sơ qua lại.
Năm 945, Dương Tam Kha chiếm ngôi nhà Ngô, trong nước bắt đầu có loạn; thổ hào các nơi nổi lên, mỗi người chiếm cứ một phương tự xưng là sứ quân. Tất cả có 12 sứ quân, con vua Ngô Quyền cũng chỉ còn uy quyền của một sứ quân, đóng ở Bình Kiều.
Lúc bấy giờ có ông Đinh Bộ Lĩnh, người động Hoa Lư con ông Đinh Công Trứ, đã dẹp được hết 12 sứ quân và thống nhất giang sơn về một mối.
Đinh Bộ Lĩnh mồ côi cha từ thuở nhỏ, ở với mẹ nơi quê nhà, đi chăn trâu cho chú. Ngay từ nhỏ, ông đã tỏ ra gan dạ anh hùng, thường bắt trẻ chăn trâu khoanh tay làm kiệu cho ngồi để chúng rước, cùng chúng lấy bông lau làm cờ, tập trận đánh nhau. Ông can đảm, lũ trẻ đứa này cũng sợ, tôn
ông đứng đầu. Khi cùng chúng bạn cờ lau tập trận, ông thường cho hát bài ca sau đây:
Cây cỏ ấy, nước non này,
Nước non quanh quất, cỏ cây xanh rì.
Rừng hoang, cỏ rậm để chi,
Phen này ta quyết dọn đi cho rồi.
Này này chúng bạn ta ơi!
Qua bài ca trên, nhà vua đã biểu lộ ngay từ lúc thiếu thời ý chí muốn quét sạch lũ giặc Bắc xâm lăng cũng như muốn bình định hết các sứ
quân gây rối nước nhà.
Nhà vua đã thể hiện được ý chí của mình. Trong, đã thống nhất nước nhà; ngoài, đã đương đầu được cùng giặc Bắc.
Lớn lên, nhà vua theo sứ quân Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu. Minh Công rất tin cẩn giao cho giữ binh quyền. Khi Minh Công mất nhà vua đem quân về giữ Hoa Lư, chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương. Về
sau, nhà vua bình định xong hết các sứ quân.
Năm 968, Ngài lên ngôi Hoàng Đế, tức là Tiên Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt đóng đô ở Hoa Lư.
Về sau nhà vua bị Đỗ Thích ám sát. Cái chết của nhà vua đã làm cho muôn dân nhớ tiếc. Hàng năm, tới rằm tháng Hai tại đền nhà vua, dân làng mở hội có quốc tế và chủ tế bao giờ cũng do vị đại diện của triều đình đảm trách.
Các tục lệ ngày hội
Ngoài các cuộc tế lễ rước xách thông thường, trong thời gian ngày hội, dân làng có tổ chức nhiều trờ vui: Thi thơ, hát chèo, rước đuốc, chọi gà,
kéo chữ, bơi thuyền trên sông Hoàng Giang, múa Mường, uống rượu cần. Lại có tế nữ quan tại đền thờ Thục Tiết công chúa, con gái Vạn Thắng Vương. Và sau hết là điển tích Cờ lau tập trận.
Cờ lau tập trận
Ngoài các trò vui trên, cuộc vui chính của ngày hội được dân làng đặc biệt chú trọng và khách xem hội chờ đợi là cuộc diễn lại sự tích Cờ lau tập trận. Cuộc diễn này do các trẻ em trong làng và hàng tổng thực hiện dưới sự chỉ dẫn của ban tổ chức ngày hội. Các trẻ em chia làm hai phe, một bên đóng vua Đinh Tiên Hoàng và chúng bạn, một bên đóng trẻ
chăn trâu các làng lân cận.
Trong cuộc diễn lại tích Cờ lau tập trận này, khách trẩy hội sẽ thấy cậu bé Đinh Bộ Lĩnh hăng hái xông pha chiến đấu cùng chúng bạn đuổi lũ
mục đồng đối phương. Chiến cuộc thắng lợi, cậu Đinh Bộ Lĩnh được chúng bạn làm kiệu công kênh giữa những cờ quạt sặc sỡ màu lá cây hoặc tết bằng rơm rạ. Các bạn che tàn, che lọng cho cậu, rước cậu đi giữa rừng cờ lau.
Cuộc diễn tích Cờ lau tập trận năm nào cũng kết thúc ngày hội giữa sự
nô nức của mọi người, giữa tinh thần phấn khởi của dân làng biểu lộ
lòng tôn sùng đối với các vị anh hùng của Quốc gia dân tộc.
Thi thơ
Việt Nam vốn chuộng văn học. Ninh Bình lại là nơi phong cảnh thanh tú, nhất là Hoa Lư, phong cảnh càng hùng vĩ nên thơ. Hàng năm nhân ngày hội, để giữ gìn nếp xưa, để khuyến khích dân chúng trên đường văn học, dân làng mở hội thi thơ không những riêng cho dân sở tại mà cho tất cả
những ai văn hay chữ tốt, muốn được giải và muốn lấy tiếng tăm với mọi người. Đề thơ tùy ban tổ chức lựa chọn. Giải thưởng thường chỉ mấy vuông nhiễu điều, gói chè, mươi quả cau, những người được giải hãnh diện vì thơ hơn vì giải. Hàng năm có ba giải thưởng trong cuộc thi này, và ban giám khảo gồm các tay văn học nổi tiếng trong vùng, có khi ban
tổ chức mời cả những bậc đại khoa có danh tới chấm giải. Ngày xưa, thường vị tuần phủ chủ tỉnh làm chủ tịch hội đồng chấm thơ.
Những bài được giải, ban tổ chức cho bình lên để mọi người cùng thưởng thức.
Hát chèo
Cũng như bất cứ ở hội Xuân nào, khi xã Trường Yên bắt đầu mở hội là có các ban chèo tới xin trình diễn. Hát chèo để thờ thần và cũng để dân làng mua vui buổi tối.
Rước đuốc
Tổ chức vào buổi tới hôm trước ngày rã đám, do các trẻ em đảm trách, những em này sẽ tham dự diễn tích Cờ lau tập trận ngày hôm sau. Đám rước được đi từ đình làng qua đền Thục Tiết công chúa.
Chọi gà
Các tay chơi gà chọi các nơi mang gà tới dự giải. Có ba giải.
Kéo chữ
Do dân đinh phụ trách. Những dân đinh này được dân làng chọn trước và phải có luyện tập dưới hiệu lệnh của một vị chức sắc. Những chữ được kéo thường là mấy chữ Thiên hạ thái bình, Phong đăng hòa cốc, tùy từng năm.
Về tục này xin xem trong PHONG LƯU ĐỒNG RUỘNG có những chi tiết.
Bơi thuyền
Sông Hoàng Giang chảy qua xã Trường Yên. Đây là nơi xưa vua Đinh Tiên Hoàng thường cùng chúng bạn bơi lội, và khi nhà vua bị ông chú đuổi, nhà vua đã nhảy xuống sông này.
Trong ngày hội, có cuộc thi thuyền của dân làng rất vui và rất được các khách trẩy hội thưởng thức.
Múa xòe
Xòe do các cô Mường ở phủ Nho Quan tới múa. Họ Đinh là một họ
trong dân Mường, và Hoa Lư cũng là một phần đất của xứ Mường. Vua Đinh Tiên Hoàng rất được dân Mường tôn sùng, và họ hãnh diện với sự
tích nhà vua xuất phát từ đất Mường.
Các cô múa xòe được họ lựa chọn đưa tới. Những điệu múa rất nhịp nhàng được các cô biểu diễn trước bàn thờ.
Sau cuộc múa này là tiệc uống rượu cần của ban tổ chức và chức sắc trong làng.
Trên đây là sơ lược về các tục lệ tại hội Trường Yên.
Những tục lệ này không những làm vui cho ngày hội, còn nói lên phần nào cái tinh thần ganh đua cố hữu của dân ta, ganh đua để tiến và để giữ
vững thuần phong mỹ tục.
Một câu chuyện tục truyền về vua Đinh Tiên Hoàng Ở trên về phần thần tích chúng tôi mới nhắc tới vua Đinh Tiên Hoàng qua lịch sử. Bên những dòng sử nghiêm trang, truyện vua Đinh Tiên Hoàng thường được dân chúng kể lại qua một câu chuyện tục truyền, tuy đầy vẻ hoang đường, nhưng cũng đầy thi vị. Câu chuyện tục truyền như
sau theo các ông Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư trong ĐỊA DƯ CÁC TỈNH BẮC KỲ:
''Tiên Hoàng họ Đinh, tên là Bộ Lĩnh, người ở động Hoa Lư, phủ Đại Hoàng (bây giờ là phủ Yên Khánh)[1], là con ông Đinh Công Trứ.
''Tục truyền rằng: vợ ông Trứ một hôm tắm ở dưới suối bị một cơn rái cá hiếp về có mang. Sau người ta bắt con rái cá ăn thịt, vứt xương đi, bà ấy nhặt lấy, đem về cất đi.
''Khi ông Trứ mất, bà ấy mới sinh ra Đinh Tiên Hoàng.
''Tiên Hoàng lớn lên, thông minh, nhanh nhẹn lại có tài bơi lội. Nhà nghèo phải nương nhờ ở với chú. Bấy giờ có một thầy địa lý Tàu sang nước ta xem đất, đến phủ Đại Hoàng trông xuống dòng sông, thấy nước sâu thăm thẳm mà xoáy mạnh lắm, đồ là đấy có huyệt đế vương. Người địa lý ấy mới gọi trẻ, thuê tiền bảo lặn xuống chỗ ấy xem thế nào. Tiên Hoàng nhận lời lặn xuống, thì sờ thấy con ngựa bằng đá, lúc lên bờ bảo với người khách ấy. Người ấy đưa cho nắm cỏ xuống nhử thì con ngựa đớp ngay lấy.
''Lúc lên nói chuyện lại thì người khách lấy tiền thưởng cho rồi đi. Tiên Hoàng vốn thông minh, biết ngay chỗ ấy hẳn là đại huyệt, về nói với mẹ, xem mả cha ở đâu, để đem táng vào huyệt ấy. Bà mẹ trỏ lên gác bếp rồi lấy nắm xương đưa cho con. Tiên Hoàng lại lặn xuống chỗ vực sâu ấy, cũng lấy cỏ bọc nắm xương nhử vào mồm ngựa thì con ngựa cũng đớp mà nuốt đi.
''Từ đấy Ngài sinh ra bạo tợn, các trẻ chăn trâu bò đều sợ, để Ngài làm tướng, bẻ hoa lau làm cờ, chặt tre làm khí giới đi đánh nhau với trẻ các làng khác. Đi đến đâu, trẻ cũng sợ hãi kính phục. Một bữa nọ Ngài hội hết trẻ các làng ở ngoài đồng rồi nhân có con bò của chú cho đi chăn, mổ
ngay ra làm cỗ để khao chúng. Chú ở nhà nghe tin tức giận lắm, vác gậy ra đuổi đánh.
Ngài sợ hãi chạy mãi, sau phải nhảy choàng xuống sông. Bỗng dưng có con rồng vàng ở dưới sông đội ngài lên. Người chú thấy vậy kinh hoảng, vội vàng bỏ gậy mà lạy phục xuống đất.
''Từ bấy giờ, danh tiếng Ngài lừng lẫy, các hào kiệt trong nước để lòng trông mong về Ngài. Nhân bấy giờ về cuối đời Nam Tấn, nước ta có 12
ông sứ quân nổi lên, mỗi người chiếm giữ một phương.
''Tiên Hoàng nhân dịp ấy, theo về ở với Trần Minh Công. Trần Minh Công thấy Ngài là dòng dõi tướng võ và có tài cán, mới dùng cho cai quản binh lính. Dần dần Ngài đem quân đi dẹp được các sứ quân rồi tự
xưng là Vạn Thắng Vương, lên ngôi Hoàng Đế, đóng đô ở Hoa Lư, sửa sang thành quách, cung điện, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt.
''Ngài ở ngôi được mười một năm thì bị Đỗ Thích giết mất, đến đời con là Vệ Vương thì cơ nghiệp lại về tay triều khác''.
[1] Ngày nay là huyện Gia Khánh, Hà Nam Ninh Hội Đền Hùng
Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương năm Giáp Dần, 1914, ông Phạm Huy Hồ
có cung soạn đôi câu đối thờ đăng trong Đông Dương tạp chí: Non nước cao sâu, tưởng bóng Long Tiên còn thoảng đó.
Khói hương ngào ngạt, động lòng sơn hải biết yêu nhau.
Với đôi câu đối này, tác giả có ý nhắc nhở đồng bào Nam quốc Nam nhân nên biết thương yêu nhau, nhất là giữa lúc nước non bị ngoại bang thống trị, như bóng Tổ xưa còn thoảng đó để con cháu phải động lòng.
Hàng năm, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn tới với ngày mồng 10 tháng Quý xuân (tháng Ba). Phàm đã là người dân Việt, ai mà quên được giỗ
tổ. Nhớ tới Tổ không phải để nhớ tới những điều hoang đường thời tiền sử nhưng để kiêu hãnh rằng dân tộc Việt Nam ta có Tổ, có tổ nghĩa là có một lịch sử từ mấy nghìn năm nay, hơn hẳn nhiều quốc gia, tuy văn minh nhưng dân tộc lại không gốc rễ, chỉ vẻn vẹn văn minh với vài trăm năm lập quốc.
Từ xưa ngày giỗ Tổ vẫn được coi là ngày Quốc lễ, và hàng năm tại đền thờ vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, rừng Hy Cương thôn Cổ Tích, phủ
Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) vẫn có Quốc lễ và triều đình qua các triều đại vẫn cử đại diện tới để làm chủ tế.
Ngày hội
Ngày có Quốc tế tại đền thờ vua Hùng là ngày Hội đền Hùng, hàng năm dân xã Hy Cương vẫn theo cổ lệ tổ chức ngay từ đầu tháng, tuy chính lễ
vào đúng mồng 10.
Trong ngày hội, dân chúng Việt Nam từ bốn phương kéo tới lễ Tổ để tỏ
lòng thành kính biết ơn các đức Hùng Vương đã dày công gây dựng nên nước Văn Lang, tức là nước Việt Nam ngày nay.
Là người Việt Nam, ai cũng nên biết hội Đền Hùng, ai cũng phải nhớ
đến ngày giỗ Tổ. Từ hơn bốn nghìn năm nay, dân tộc Việt Nam trải bao hưng vong biến chuyển, sở dĩ vẫn vững bền tồn tại, chính là vì người Việt Nam uống nước biết nhớ nguồn, trăm vạn người như một, hàng năm ai cũng nhớ ngày giỗ Tổ. Người Việt Nam có thể quên hết mọi ngày, nhưng ngày giỗ tổ, người không quên gốc không ai quên. Dù ở xa xôi, người ta vẫn hướng về non Nghĩa Lĩnh để nhớ tới các vị Tổ chung.
Vị trí đền Hùng
Đền Hùng xây trên núi Nghĩa Lĩnh, rừng Hy Cương, thôn Cổ Tích, phủ
Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú).
Ngọn Nghĩa Lĩnh là một ngọn núi cao của vùng trung du miền Bắc, bắt nguồn từ núi Thắm chia làm nhiều chi, mỗi chi có nhiều đồi nhỏ. Chi giữa ăn tới làng Hy Cương, thôn Cổ Tích thì nổi bật lên một ngọn núi cao.
Đứng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nhìn về phía Đông là dãy núi Tam Đảo thuộc hai tỉnh Vĩnh Yên và Thái Nguyên (Bắc Thái), mập mờ trong mây, như xa như gần, như thực như hư. Về phía Nam là núi Cánh Phượng, trông như con phượng luôn luôn xòe đôi cánh. Đây chính là núi Ba Vì, còn gọi là núi Tản Viên, thuộc tỉnh Sơn Tây (Hà Tây). Bao giờ trên đỉnh cũng có mây che trông thật là huyền ảo. Giữa hai cảnh núi hùng vĩ đó, là hai dòng sông Lô và sông Thao nước cuồn cuộn chảy, gặp nhau ở Bạch Hạc, cố đô Phong Châu đối diện với thành phố Việt Trì trông rất ngoạn mục.
Lộ trình đi Đền Hùng
Muốn trẩy hội Đền Hùng, con cháu tổ có thể dùng đường thủy hay đường bộ.
Đường bộ dùng đường xe lửa Hà Nội đi Vân Nam Phủ, hay đi xe hơi theo quốc lộ số 2, từ Hà Nội tới ga Kiên Cương. Từ đây rẽ sang tay phải, đi bộ vào thôn Cổ Tích theo đường hàng xã tới chân núi Nghĩa Lĩnh.
Đi đường thủy phải ngược dòng sông Hồng Hà tới Việt Trì. Từ Việt Trì, lại theo đường bộ tới xã Kiên Cương để lại rẽ vào con đường hàng xã nói trên, đi cho tới chân núi như những người đi đường bộ.
Hai lộ trình trên dùng cho những người từ Hà Nội đi lên, còn những người ở men ngược, lẽ tất nhiên phải đi xuôi trở xuống cho tới ga Kiên Cương. Đường bộ, theo quốc lộ số 2, còn đường thủy, xuôi dòng sông Lô hoặc sông Thao tùy địa phương.
Quang cảnh lộ trình trong ngày hội
Như trên đã nói, ngày chánh hội là ngày mồng 10 tháng Ba, nhưng dân làng Hy Cương hàng năm vẫn mở hội từ mấy ngày trước. Trong những ngày hội, con cháu đức Tổ từ bốn phương tám hướng kéo nhau về thăm mộ Tổ và dự lễ rất đông. Những con đường Phú Thọ tới Kiên Cương, Hà Nội đi Việt Trì luôn luôn tấp nập những người. Những chuyến xe chở
khách, trong Nam gọi là xe đò, đông nghẹt hành khách đều ngừng ở ga Kiên Cương để trút khách xuống, có những chuyến đông đến nỗi có khách phải ngồi trên mui và có khách bám đằng sau xe. Và trên những chuyến xe lửa, toa nào toa nấy khách trẩy hội chen chúc nhau suốt từ Hà Nội qua các ga Yên Viên, Đông Anh, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bạch Hạc, Việt Trì cho đến ga Kiên Cương. Ở mỗi ga, khách trẩy hội lại kéo nhau lên thêm càng nhiều, toa tàu càng đông hơn, người đã lúc nhúc lại càng như lén chặt. Đông thì đông, chen thì chen, lòng người ta vẫn hân hoan hướng về Hùng Sơn Nghĩa Lĩnh, cần được tới nơi chiêm bái mộ tổ là hài lòng.
Khách trẩy hội có người già, có người trẻ, có nữ tú, có nam thanh. Người ta chen nhau để lấy một chỗ đứng, người ta vịn vào nhau và nhiều người đứng cả ở bực toa tàu. Con tàu từ từ đi, khách trẩy hội ồn ào trò chuyện.
Khi con tàu ngừng ở ga Kiên Cương, đoàn người đổ xuống như thác, người nọ trước người kia sau. Các ông già bà lão thường dắt díu theo các cô gái quê còn e lệ, thẹn thùng giữa đám khách thập phương, các cô mới đi lễ Tổ lần đầu. Các bà đứng tuổi, gọn gàng vai vác đẫy vàng hương đồ
lễ, nhanh nhẹn bước bên các cụ già thủng thỉnh.
Sở Hỏa xa trong những ngày hội, ngoài các chuyến xe lửa thường lệ, có đặt thêm nhiều chuyến xe phụ để đủ chở hành khách trẩy hội. Những chuyến xe này đậu ngay tại địa phận xã Hy Cương, nơi đó con đường đi thẳng vào thôn Cổ Tích tới đền Hùng.
Con đường qua thôn Cổ Tích này đi trên bờ ruộng giữa cánh đồng. Chư
khách thập phương nhộn nhịp kẻ ra người vào, người này gặp người khác, người nọ trước người kia. Có người vừa đi vừa lâm râm cầu khấn muốn xin Tổ phù hộ độ trì cho. Họ đi tới đền với một lòng thành kính.
Có người nói chuyện ồn ào, tiếng vọng vang lên đồng ruộng, lách vào giữa đám rừng sâu, sát ngay khu cánh đồng.
Cái cảnh tịch mịch quanh năm tại xã Hy Cương, vị trí ở một nơi nửa núi rừng, nửa đồng ruộng của trung du, mất hẳn để nhường chỗ cho một vẻ
tấp nập khác thường. Người người vui chân đi, người người vui miệng nói hoặc thành tâm tụng niệm.
Đền Hùng là đây
Theo con đường hàng xã qua thôn Cổ Tích, khách trẩy hội chẳng mấy chốc đã tới chân núi Nghĩa Lĩnh, còn có tên gọi là núi Đền, chính tại núi này có đền thờ vua Hùng.
Ngay ở dưới chân núi có đền thờ hai bà công chúa con vua Hùng Huệ
Vương là Tiên Dung và Ngọc Dung công chúa.
Đền này còn được gọi là đền Giếng, ở trước đền thờ có mạch nước chảy thành giếng trong và mát. Đền Giếng còn có tên là đền Hạ, bởi ở ngay dưới chân núi.
Vào lễ đền Giếng xong, khách lên đền Trung và đền Thượng.
Từ đền Hạ lên đền Thượng phải leo 296 bực đá.
Đền Trung ở lưng chừng núi, giữa khoảng hai đền Thượng và Hạ. Ở
cạnh đền Trung có ngôi chùa của xã Hy Cương, và ở ngay trước đền có nhà Bia với một bia chính lớn và rất nhiều tấm bia phụ.
Tấm bia chính, nét chữ khắc còn rõ, nhắc lại lịch sử của các đức Hùng Vương, còn các tấm bia phụ ghi về công việc xây đền cùng danh sách những vị đã giúp công giúp của vào công việc trùng tu đền.
Đền Thượng ở trên đỉnh núi, thờ mười tám đức Hùng Vương. Trước đền có bức hoành phi mang bốn chữ VIỆT NAM TRIỀU TỔ. Đền này trước đã đổ nát mới được trùng tu vào năm 1914. Nhân dịp trùng tu đền này, cuộc lễ Tổ đã được tổ chức rất trọng thể.
Ở chính giữa bàn thờ đền Thượng có bài vị 18 đức Hùng Vương với 14
chữ sau đây:
ĐỘT NGỘT CAO SƠN CỔ VIỆT HÙNG THỊ THẬP BÁT THÁNH
VƯƠNG VỊ
Lại có rất nhiều câu đối chữ Hán có, chữ Nôm có trong số đó có đôi câu đối Nôm của cụ Nguyễn Kỳ Nam được nhiều người chú ý: Đồ vương tranh bá, thôi nói chi lịch đổi số trời, hỏi trước sau truyền bốn nghìn năm, nước biếc non xanh, bờ cõi ai xây bờ cõi ấy; Vấn tổ tìm tông, nay vẫn còn lăng xưa miếu cũ, kể nhiều ít hai mươi nhăm triệu, con đàn cháu đống, cỗi cành đâu chẳng cỗi cành đây.
Cùng với đôi câu đối trên, đôi câu đối sau đây, cũng treo ở đền Thượng, rất được nhiều người ghi nhớ:
Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền Cổ Tích, Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương.
Kể ra câu đối ở cả ba đền rất nhiều, nhưng rất tiếc trong lúc này, chúng tôi không còn đủ tài liệu để trình bày cùng bạn đọc.
Mộ Vua Hùng
Ngay gần đền Thượng có một ngôi mộ tương truyền là mộ vua Hùng Vương, nhưng không biết là mộ vua thứ mấy. Lối vào mộ có khắc năm chữ Sắc kiến Hùng Vương lăng, nghĩa là sắc xây mộ vua Hùng, do Hoàng đế Tự Đức kính đề.
Hỏi thăm về ngôi mộ, dân làng nói họ cũng chỉ được các cụ dạy đây là mộ vua Hùng Vương, không rõ là vua thứ mấy.
Có người nói có lẽ đây chỉ có hình thức lăng, còn bên dưới không biết có cốt hay không.
Các bậc thức giả thì bảo rằng, ngôi mộ đây chỉ cốt để tượng trưng cho mộ Tổ, con cháu tới lễ đền Hùng, thấy mộ càng nhớ tới Tổ xưa.
Hai chiếc rọ lớn
Vào mấy năm cuối cùng hồi tiền chiến, khách đi trẩy hội, hẳn phải để ý ngay ở dưới đền Hạ, lối vào đền, hai bên cho treo hai chiếc rọ lợn rất lớn.
Hỏi sẽ được dân làng trả lời:
Ngày giỗ Tổ là ngày trang nghiêm, vậy mà có các người ở nơi xa xôi tới, (có ý ám chỉ các thanh niên thành thị), lấy đây làm nơi chòng ghẹo các thôn nữ, các cô van lơn cũng không tha, có những cử chỉ suồng sã.
Những người đó cần phải bị trừng phạt. Hai chiếc rọ này dùng để trừng
phạt những ai giở trò trăng hoa, ghẹo cợt thôn nữ tại đây. Ghẹo gái ở nơi thờ tự này bị dân làng bắt được sẽ bị nhốt vào trong rọ trong hai giờ để
khách thập phương đi qua cùng thấy.
Biện pháp này thật hiệu nghiệm. Từ khi có người bị nhốt vào rọ, trò ghẹo gái không còn chàng thanh niên nào dám thò ra ở giữa đền nữa.
Những tục lệ cổ truyền