Hội đền vua An Dương VươngPhần 3

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Đền thờ An Dương Vương ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, cách Hà Nội 17 cây số trên Quốc lộ Hà Nội đi Phúc Yên (Vĩnh Phú), trong khung thành Cổ Loa hồi xưa.

Du khách có thể tới đền theo đường bộ nói trên, khi tới cây số 17, rẽ vào con đường đất bên tay phải đi chừng năm trăm thước, hoặc do đường xe hỏa, tới ga Xuân Kiều, rồi từ ga Xuân Kiều theo đường ruộng đi về mé tay trái một quãng. Hội đền Cổ Loa cử hành hàng năm vào ngày mồng 6

tháng Giêng và kéo dài trong khoảng 10 ngày.

Sơ lược lịch sử và thần tích

Vua An Dương Vương tên là Thục Phán, vốn quê ở Ba Thục. Nhà vua oán vua Hùng Vương thứ XVIII đã từ chối không gả con gái là Mỵ

Nương cho một vị tiên đế của Ngài, nên đem quân đánh chiếm nước Văn Lang, và khi chiếm xong, nước Văn Lang được đổi tên là Âu Lạc.

Vua An Dương Vương đóng đô ở Việt Thường và xây đắp Loa Thành, nhưng thành hồ xây lên lại bị đổ.

Nhà vua lập đàn cầu khẩn thần minh.

Ngày mồng 7 tháng 3 năm Bính Ngọ (255 trước Tây lịch) ngài thấy một cụ già từ phương Đông đi lại ngừng ở trước cửa thành.

Nhà vua nghênh tiếp cụ già vào cung rồi trình bày sự khó khăn nhà vua vấp phải trong việc đắp Loa Thành. Cụ già cho nhà vua biết, ngày hôm sau sẽ có sứ giả của vua Thủy tới chỉ bảo cho nhà vua cách xây thành.

Nói xong cụ biến mất.

Ngày hôm sau, khi nhà vua đang ở phía Đông môn Ngài thấy từ phương Đông đi lại một con rùa vàng, đứng hai chân trên mặt đất. Đấy là thần Kim Quy sứ giả của vua Thủy Tề. Nhà vua rước thần Kim Quy lên xe đi về cung điện.

Khi nhà vua hỏi Thần về việc đắp thành, Thần bảo rằng: ''Sở dĩ thành đắp lên lại đổ do sự quấy phá của âm hồn một vị Hoàng tử dựa vào thế

lực của chư thần sông núi để trả thù việc nhà vua xâm chiếm nước Văn Lang. Ngoài ra còn có một con bạch hùng kê tu luyện nghìn năm, thành tinh trú ẩn trên Thất Diệu sơn cùng với âm hồn của một người thợ kèn, hài cốt mai táng ở núi này biến hình phá phách.

Gần Thất Diệu sơn có một hàng quán rất đông khách trọ. Chủ quán là Ngộ Không, có một người con gái, gả cho con gà sống trắng thành tinh.

Con kê tinh này cùng với hồn ma người thợ kèn, thay đổi hình dạng, đã giết hại rất nhiều khách trọ.

Nhà vua muốn đắp được Loa Thành, cần phải diệt trừ con bạch hùng kê.

Nó thường hóa thành một con cú, mỏ cắp một đạo bùa, bay đậu trên cây đàn hương, chính nó đã kêu xin với Thượng đế làm đổ Loa thành để

phục hồi quyền phép của như thần sơn xuyên. Tôi sẽ cắn chân con cú đó bị đau nó sẽ nhả đạo bùa ra, nhà vua nhặt lấy, nhà vua sẽ xây được thành.''

Thần Kim Quy lại khuyên nhà vua cải trang làm một người khách tới trọ

tại hàng quán của Ngộ Không. Nhà vua tới đó với thần Kim Quy. Nhà vua đặt thần lên trên xà cửa. Thấy Nhà vua, Ngộ Không nói: ''Quán này có ma quỷ hay hại người, nay còn sớm, quý khách nên tìm trọ nơi khác.''

Nhà vua đáp: ''Sống chết có số, sợ gì ma quỷ.''

Đêm đó nhà vua nghe tiếng ma quỷ gọi cửa, nhưng Thần Kim Quy không cho mở. Lũ quỷ với yêu phép cũng không sao vào được trong quán, và chúng phải rút lui khi gà gáy.

Thần Kim Quy bảo nhà vua đuổi theo chúng tới Thất Diệu sơn, nơi trú ẩn của lũ yêu quái.

Sau đó nhà vua lại trở lại quán hàng của Ngộ Không.

Sáng ngày ra, Ngộ Không gọi người nhà để chôn xác nhà vua như những người khách trọ các đêm trước. Thấy nhà vua còn sống hắn kính cẩn chào và nói:

''Ngài hẳn là một vị Thánh. Xin Ngài truyền cho tôi phép màu trừ yêu quái để cứu các khách trọ.''

Nhà vua nói:

''Hãy giết con gà sống trắng làm đồ lễ cúng thần, yêu quái sẽ hết.''

Ngộ Không làm thịt con gà sống trắng, con gái hắn cũng chết liền.

Nhà Vua lại ra lệnh đào núi Thất Diệu thì tìm thấy đồ lễ và hài cốt của người thợ kèn. Nhà vua truyền đem đốt thành tro vứt trôi sông.

Hoàng hôn hôm đó, nhà vua cùng Thần Kim Quy lên núi Việt Thường để

tìm bắt con yêu hóa thành con cú. Con cú đậu trên cây đàn hương, ngậm trong mỏ đạo bùa.

Thần Kim Quy biến thành con chuột leo lên cắn chân cơn cú. Cú bị đau nhả đạo bùa rơi xuống. Nhà vua vội vàng nhặt lấy.

Yêu quái đã trừ xong, nhà vua xây được Loa Thành. Thành xoáy hình trôn ốc, dài trên mười trượng, rất vững chãi đã chống giữ được với quân Tàu của Triệu Đà sau này.

Thần Kim Quy lưu lại với nhà vua ba năm mới từ biệt.

Nhà Vua tạ ơn Thần và hỏi:

''Thành này nhờ Thần mà đắp lên, nếu có quân giặc tấn công, tôi phải giữ

thành ra sao?''

Thần Kim Quy đáp:

''Nước Âu Lạc thịnh, suy và an, nguy là do mệnh Trời. Nếu người ta biết tự sửa để trở nên đại đức, sẽ mãi mãi hưởng lộc Trời. Nhà Vua muốn, tôi xin giúp nhà Vua.''

Thần bẻ một móng chân, đưa cho nhà Vua và bảo rằng:

''Nhà vua hãy dùng móng này làm lẫy nỏ, giặc tới, mang nỏ ra bắn, sẽ

không sợ gì cả.''

Nói rồi, Thần đi ra Đông Hải. Vua An Dương Vương đứng nhìn theo cho tới khi khuất.

Sau đó, nhà vua sai bầy tôi là Cao Lỗ làm một cây nỏ, dùng chiếc móng của thần Kim Quy làm lẫy nỏ, và nỏ này được gọi là Nỏ Thần.

Ít lâu sau, Triệu Đà từ phương Bắc kéo quân sang muốn chiếm nước Âu Lạc. Nhờ có nỏ thần, nhà vua đã thắng quân Tàu. Chúng phải rút lui về

núi Trúc Sơn, đắp thành để ngăn quân nhà vua.

Không thắng nổi vua An Dương Vương, Triệu Đà tìm cách giả kết thân, dùng kế cho con là Trọng Thủy sang lấy Mỵ Châu là con gái nhà vua, để

do thám tình hình.

Lấy được Mỵ Châu, rồi Trọng Thủy hỏi dò:

''Bên Âu Lạc có tài gì mà không ai đánh nổi?''

Mỵ Châu nói chuyện chiếc nỏ thần rồi lấy cho chồng xem. Trọng Thuỷ

liền đánh tráo cái móng của Thần Kim Quy rồi định về báo tin cho Triệu Đà biết.

Khi vợ chồng từ biệt, Trọng Thủy bảo vợ:

''Tôi ra về, ngộ nhỡ hai nước có sự giao binh, tôi biết đâu tìm nàng.''

Mỵ Châu nói:

''Thiếp có áo lông ngỗng, hễ khi thiếp chạy về đâu thiếp sẽ lấy lông ngỗng ra rắc ở dọc đường:''

Trọng Thủy về nước, Triệu Đà được biết rõ mọi sự tình bên Âu Lạc, bèn khởi binh sang đánh. Vua An Dương Vương tin ở nỏ thần không phòng bị gì, chờ đến khi quân giặc kéo tới gần chân thành mới đem nỏ thần ra bắn. Nỏ hết hiệu nghiệm.

Nhà vua bèn đem Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía Nam, chạy đến núi Mộ Dạ nay thuộc huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An, gần bờ biển, nhà vua thấy giặc đuổi kíp quá mới khấn thần Kim Quy lên giúp. Thần hiện lên bảo rằng:

''Giặc ngồi sau lưng nhà vua đó.''

An Dương Vương giận quá, rút gương chém Mỵ Châu rồi nhảy xuống bể

tự tận.

Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi theo, đến núi Mộ Dạ thấy thây vợ

nằm chết, thương xót vô cùng, đem về an táng xong, nhảy xuống giếng ở

trong Loa Thành mà chết. Giếng này nay vẫn còn, ở ngay trước đền thờ

vua An Dương Vương và được dân chúng gọi là Giếng Trọng Thủy.

Tục truyền rằng Mỵ Châu bị giết rồi, vì nỗi tình thực phải thác oan, máu nàng chảy xuống bể, những con trai ăn phải hóa ra có ngọc. Ai có ngọc trai, lấy nước giếng Trọng Thủy rửa, ngọc sẽ trong và đẹp vô cùng.

Vua An Dương Vương chết đi, sau khi Triệu Đà rút về đóng đô ở Phiên Ngung dân chúng nhớ ơn nhà vua lập đền thờ ở ngay xã Cổ Loa và hàng năm dân làng có mở hội từ mồng 6 tháng Giêng.

Những cuộc lễ bái và tục lệ trong ngày hội Trước hết xin nói qua về làng Cổ Loa. Đây là một làng lớn nằm trong thành Cổ Loa. Cùng ở trong thành còn có làng Thu Cửu, và một phần đất của các làng Lưỡng Quản, Gia Lộc và Dục Tú, làng Dục Tú nay thuộc tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc).

Làng Cổ Loa gồm mười hai xóm tính từ Bắc xuống Nam: Xóm Ngõ Bãi, xóm Thượng, xóm Giềng, xóm Tiên, xóm Hương Nhai, xóm Gia, xóm Viên Lợi, xóm Lan Tri, xóm Chợ, xóm Chùa, xóm Trại, và xóm Mít.

Trong làng có tất cả vào khoảng 4.000 người, cả nam phụ lão ấu.

Trong ngày hội, tất cả mười xóm đều cùng tham dự, và cùng sửa soạn những cuộc lễ bái rước xách.

Đám rước Kỳ mục

Sáng ngày mồng 6 tháng Giêng 12 vị Kỳ mục trưởng xóm đến hội họp tại nhà ông Tiên chỉ, hoặc Chánh hội để sửa soạn đám rước. Tại đây các vị Kỳ mục ăn mặc quần áo tế, tới trước giá văn tế đã được để sẵn lễ mỗi người năm lễ. Giá văn tế đã có dán bài văn tế do một tay văn tự trong làng soạn thảo.

Sau đó đám rước khởi hành để đi tới đền, nơi đây các Kỳ mục sẽ tế lễ tại sân đền.

Đi sau đám rước là phường bát âm, rồi đến các vị Kỳ mục. Sau các vị Kỳ

mục là dân đinh mang lọng, rước giá văn tế và kiệu long đình.

Sân đền lúc đó đã được trần thiết sẵn sàng cho cuộc tế.

Tế thần

Sân đền là nơi sẽ cử hành cuộc tế có cắm cờ và bày các tự khí sau:

- Từ ngoài cửa đền, hai bên là ngựa hồng, ngựa bạch, yên cương thêu thùa sặc sỡ.

- Hai bên tả hữu đường đi vào đền là cờ quạt và các đồ lộ bộ, bát bửu.

- Ngoài hàng cờ quạt, đồ lộ bộ và bát bửu là kiệu của 12 xóm.

Trước đền là một hương án có bày đồ lễ, những hộp kính đựng hia vàng và các đồ ngũ sự.

- Trước hương án này là một hương án nhỏ hơn trên bày những khí giới của nhà vua: cung, kiếm, tên.

- Trước hương án nhỏ là một hàng chiếu cạp điều để Hội đồng Kỳ mục và dân làng làm lễ.

Thường tất cả các tự khí trong đền đều được đem bày trong dịp Tế, ngoại trừ tượng nhà vua và chiếc mũ bình thiên.

Khi đám rước Kỳ mục tới đền, giá văn tế được đặt lên long đình, và long đình được kính cẩn khiêng tới kê trước hương án đồ thờ.

Lúc này phường bát âm nổi nhạc, và giữa tiếng đàn nhạc, thỉnh thoảng lại một hồi tù và rúc inh tai.

Ông Tiên chỉ hoặc Chánh hội đứng tế. Tế theo nghi thức cổ truyền như

trong mọi đám tế thần khác.

Khi cuộc tế chấm dứt, ông Tiên chỉ cùng các quan viên Kỳ mục đều làm lễ trước bàn thờ. Rồi đến lượt dân làng vào lễ. Trong lúc mọi người lễ, ở

bên trong đền có một số các quan viên cầu nguyện để Nhà vua phù hộ

cho toàn xã thịnh vượng bình yên.

Cũng như bất cứ tại làng nào, buổi tế thần rất long trọng, và tất cả dân làng đều đứng quanh để dự tế.

Buổi tế kéo dài đến quá Ngọ sang Mùi mới xong.

Đám rước thần của 12 xóm

Sau buổi tế, dân làng tổ chức đám rước thần có đủ mười hai xóm tham dự cùng với một số đông dân làng, một số dân đinh hóa trang ăn mặc trắng đỏ, đeo chùm râu giả đi theo. Đoàn người kéo dài trên nửa cây số.

Đi đầu hết là cờ quạt, rồi đến long đình cùng các tự khí, lộ bộ, bát bửu.

Sau là phường bát âm. Tiếp phường bát âm là các quan viên ăn vận quần áo tế với hia mũ, bưng theo những khí giới của nhà vua: cung, kiếm, tên, nỏ.

Sau các quan viên là các Kỳ mục xóm Chùa, khiêng long đình trên có bài vị nhà vua, rồi tới các Kỳ mục các thôn khác, thôn nào khiêng kiệu của thôn đó, kiệu nhỏ hơn long đình và mỗi xóm có phường bát âm, có cờ

quạt, có các quan viên mang các tự khí và có dân xóm hoá trang riêng.

Đám nước đi rất chậm thường luôn luôn ngừng lại, đi vòng quanh giếng Trọng Thủy và từ bờ giếng này đi cho tới cổng làng. Đám rước diễn hành ít nhất trên hai tiếng đồng hồ. Dân làng hoặc đi theo, hoặc đứng trên các bờ ruộng xem rước.

Đám nước tới cổng làng thì giải tán. Kỳ mục xóm nào khiêng kiệu của xóm mình về nơi đó, nhưng trước khi giải tán, mỗi kiệu đều được thắp thêm ba nén hương, ba nén hương này đủ cháy trong lúc đi đường về cho tới đình hàng xóm.

Riêng các kỳ mục xóm Chùa, nơi có đền thờ nhà Vua, lại khiêng long đình có bài vị về đền.

Đám rước xong, nhưng Hội chưa hết, hội còn kéo dài luôn trong 10 ngày cho tới rằm tháng Giêng với những trò vui cổ truyền.

Những trò vui cổ truyền

Cũng như ở bất cứ hội xuân nào, hội đền vua An Dương Vương, ngoài những cuộc rước xách tế lễ còn có nhiều thú vui theo tục lệ để dân chúng giải trí nhất là có những cuộc đỏ đen công cộng như xóc đĩa[1], xúc xắc, thò lò, bài lá v.v...

Các trai gái thanh niên rủ nhau đánh đu, bao giờ ban kỳ mục cũng nhớ

trồng cây đu trong ngày hội cho con trẻ mua vui. Các cụ thì chơi tổ tôm diêm, đánh cờ bỏi, các cụ bà vào lễ đền hoặc lễ chùa. Lại có cả những bàn đáo đĩa một lối đánh đáo đặc biệt, có một người làm cái. Người này đặt một chiếc mẹt, trong chiếc mẹt có một chiếc đĩa nhỏ. Những người chơi đáo đứng cách xa chiếc mẹt khoảng hai thước, rồi cầm tiền, những đồng trinh hoặc những đồng xu đi vào chiếc đĩa. Đồng tiền nào đi đúng vào chiếc đĩa, một đồng được nhà cái giam cho thành năm, còn những đồng nào bắn ra mẹt về phần nhà cái. Đồng tiền nào không vào đĩa cũng không vào mẹt người chơi được đi lại.

Tới tối tại đình làng có hát chèo để thờ thần và để dân làng mua vui.

Dân làng thích thú với ngày hội, và dân các xã lân cận cũng rủ nhau tới dự các trò vui, xem rước xách tế lễ và cũng thử thời vận với những cuộc đỏ đen.

Ngày giỗ Mỵ Châu

Những cái chết của vua An Dương Vương, Trọng Thủy và Mỵ Châu, có thể gọi hết thảy là chết oan, dân chúng rất thương xót và có lập đền thờ ở

nhiều nơi, ngoài xã Cổ Loa, thờ vua An Dương Vương để ghi công nhà

Vua đã lập ra nước Âu Lạc, thờ Trọng Thủy và Mỵ Châu vì người ta trọng sự chung thủy, tiết nghĩa của đôi người.

Cho đến trước ngày tiền thế chiến, ở núi Mộ Dạ, gần nơi nhà Vua tự vận, thuộc xã Cao Ái, huyện Đông Thành, Nghệ An, vẫn có đền thờ vua An Dương Vương, tục gọi là Đền Công, vì nơi đây rậm rạp, loài công đến ở

rất nhiều.

Và ở xã Đông Cao, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cũng có Đền thờ

Mỵ Châu, và hằng năm vào ngày 18 tháng 8 âm lịch, dân làng có mở hội gọi là NGÀY GIỖ MỴ CHÂU.

Hội bắt đầu từ hôm rằm, nhằm ngày Trung Thu, nhưng vui nhất vào hôm 18, tức là hôm có đám rước kiệu Mỵ Châu từ xã Đông Cao cho đến đình làng Đông Bộ ở bên sông Hồng Hà.

Theo dân xã Đông Cao, đám rước này chính là đám rước để Mỵ Châu tới yết kiến vua cha có đền thờ tại xã Đông Bộ. Chính hôm 18 tháng 8, tại xã Đông Bộ cũng mở hội kỷ niệm vua An Dương Vương. Làng này năm nào cũng chờ xã Đông Cao rước kiệu tới.

Dân địa phương gọi hai đền thờ ở làng Đông Bộ và làng Đông Cao là Đền Cha và Đền Con.

Hàng năm Con phải tới yết kiến Cha để vấn an cũng như để tạ lỗi xưa đã vì mối tình của mình nước mất nhà tan và nhà vua phải thác.

Trong buổi rước kiệu từ xã Đông Cao đến đền thờ xã Đông Bộ, bao nhiêu chức sắc xã Đông Cao đều đi hết và vị bô lão niên trưởng trong làng bưng bình hương đi trước.

Tới xã Đông Bộ các vị chức sắc làng Đông Cao rước Kiệu vào đình tế lễ

một tuần, như có ý để Mỵ Châu tạ tội cùng vua Cha.

Sau buổi tế lễ, các quan viên chức sắc xã Đông Cao được các quan viên chức sắc xã Đông Bộ tiếp đãi rất lịch sự.

Buổi chiều kiệu của Mỵ Châu lại được rước về xã Đông Cao.

Đền thờ của Mỵ Châu ở làng Đông Cao rất nguy nga tráng lệ. Trước cửa đền, hai bên có voi đá lại có rùa đá mang bia.

Người ta nói rằng tại sông Hồng Hà, ngay chỗ đền thờ vua An Dương Vương ở làng Đông Bộ, ở dưới lòng sông có một cung điện nguy nga, cung điện của vua An Dương Vương. Cung điện này nhiều người thuyền chài đã được trông thấy, nhưng không ai dám nói rõ, vì họ tin rằng kẻ

nào mang mồm tiết lộ sẽ bị chết tươi ngay...

Chuyện thuật lại rằng, trước đây có một người đắm thuyền lặn xuống mò thuyền đã được tận mắt trông thấy cung điện của nhà vua. Khi lên bờ, người này có kể lại cho dân làng Đông Bộ nghe, nhưng vừa dứt câu chuyện, người này liền ngã lăn ra chết!

Từ đó tại khúc sông này, cũng đã có nhiều người lặn xuống lòng sông, nhưng có ai hỏi tới cung điện của vua An Dương Vương, không ai dám nói gì! Có lẽ họ không thấy có cung điện! Hay họ sợ bị chết tươi nên tuy có trông thấy cung điện họ cũng không dám nói lại!

Kể từ đời vua An Dương Vương tới nay, hai mươi ba thế kỷ đã qua, thế

mà câu chuyện Trọng Thủy, Mỵ Châu mỗi khi thuật lại người ta vẫn không khỏi mủi lòng thương cho mối duyên oan trái của đôi người.

Thi sĩ Tản Đà đã có bài thơ

Một đôi kẻ Việt người Tần,

Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương!

Vuốt rùa chàng đổi máy?[2]

Lông ngỗng thiếp đưa đường.

Thề nguyền phu phụ,

Lòng nhi nữ

Việc quân vương,

Duyên nọ tình kia dở dở dang.

Trăm năm giọt lệ

Ngọc trai nước giếng,

Nghìn thu khói nhang.

[1] Về lối đỏ đen này xin xem trong Phong tục Việt Nam, Từ bản thân tới gia đình của soạn giả, do Khai Trí xuất bản.

[2] Nỏ thần