Hội làng Cung ThuậnPhần 26

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Làng Cung Thuận cũng thờ Tản Viên sơn thần; hàng năm làng mở hội từ

mồng hai tới mồng mười tháng Hai âm lịch. Hội này chính ra có tính cách phong tục nhiều hơn là tôn giáo, vì tuy là một hội phong tục, nhưng phong tục này nhằm vào sự thờ phụng Tản Viên sơn thần.

Làng Cung Thuận tục gọi là làng Me thuộc huyện Tùng Thiện tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) ở cách tỉnh lỵ độ hơn 5 cây số. Hội làng có nhiều trò vui nhưng đặc biệt hơn hết có tục đánh cá vào sáng ngày mồng 4 tháng Hai.

Đánh cá

Đình làng Me kiến trúc theo lối Tàu rất nguy nga cổ kính, trước cửa đình có một cái ao lớn vòng hai bên khu đất làm đình theo kiểu chữ môn. Ao này dân làng nuôi cá, và cá làng không ai được bắt. Hàng năm dân làng chỉ bắt cá trong ao về dịp hội để tế thần. Cá nhiều lắm, đủ mè, chép, trôi, trắm rất to.

Sáng ngày mồng bốn tháng Hai mỗi năm, dân làng tụ họp quanh ao có hàng mấy trăm người, sẵn sàng với nơm, vó đợi lệnh xuống đánh cá.

Ngoài những ngư nhân nhất thời ấy, ở chung quanh ao còn chật ních những người đứng vòng trong vòng ngoài để đợi xem cuộc vui nhất niên nhất lệ của làng. Có nhiều người ở tỉnh xa kéo tới xem.

Trước cuộc đánh cá, cụ Tiên chỉ phải khấn lễ ở đình, sau đó, theo lệnh cụ, một hồi trống ngũ liên nổi lên. Đó là lệnh đánh cá. Tức thì bao nhiêu trai tráng trong làng nhất tề nhảy ùm cả xuống ao. Cảnh ao thật là tưng bừng náo nhiệt. Hàng mấy trăm người, với mấy trăm cái úp, cái nơm, cái cụp, cái vó cùng nhảy khua ở dưới nước. Nước động ầm ầm, bắn lên trắng xóa. Những con cá quẫy tanh tách. Thật là ồn ào, thật là vui. Trên bờ, đàn bà, trẻ con cùng chư khách thập phương hò reo inh ỏi. Thỉnh thoảng lại một tràng vỗ tay ầm ĩ để thưởng một cậu trai làng vừa đánh được một con cá lớn. Dưới ao, những chàng trai khác càng hăng hái, cố

úp, cố săn cho được nhiều cá hơn. Những hỏi trống ngũ liên luôn luôn khuyến khích mọi người.

Một đôi khi, một con cá to phá rách vó chạy trốn, cả bao nhiêu nơm vó khác lại xúm nhau lại để săn cho kỳ được.

Ai bắt được con cá nào đều đưa cho người nhà đợi sẵn ở trên bờ. Cá của người nào để riêng cho người đó.

Cuộc đánh cá ầm ĩ cho tới nửa buổi hôm: Cụ Tiên chỉ đốt một tràng pháo để báo hiệu cuộc đánh cá đã ngừng. Tức thì những chàng trai ở dưới ao vội vàng thu nơm, xếp vó lên cả trên bờ, và cùng người nhà khiêng cá vào sân đình để các cụ chức sắc và bô lão phân hơn kém và phát thưởng cho chàng trai nào đã đánh được nhiều cá nhất và bắt phạt những chàng

trai nào đánh được ít cá nhất. Người được thưởng lãnh tiền của làng, còn những chàng trai bị phạt phải nhận cá các cụ giao cho mang về nhà nướng cho kịp giờ tế thần.

Số cá đánh được, các cụ đem chia cho dân làng sau buổi tế.

Cuộc đánh cá vui lắm. Đã có câu ca dao:

Nhất hội Hương Tích, nhì hội Phủ Giầy,

Vui thì vui vậy, chẳng tầy đánh cá làng Me.

Làng Me không phải làng duy nhất ở miền Bắc có tục đánh cá, tại nhiều làng khác cũng có tục này, như làng Ngư Xá tỉnh Hà Đông (Hà Tây).

Ngươi ta tổ chức cuộc vui mỗi làng một khác, nhưng tựu trung vẫn là cá của dân làng lại đem chia cho dân làng.

Những tục lệ trong ngày hội

Tục đánh cá là cuộc vui then chốt của ngày hội làng Cung Thuận, nhưng ngoài cuộc vui này, dân làng tổ chức nhiều trò vui khác, ấy là không nói tới những cuộc tế lễ rước xách ở hội nào cũng có.

Trong các trò vui có múa rối, tổ tôm điếm, tam cúc điếm, đánh vật, hát đúm, đáo đĩa v.v... và buổi tối cũng như tại các hội xuân khác miền Bắc có hát chèo để thờ thần và để dân chúng mua vui.

Hát đúm

Đây là lối hát đối đáp của nam nữ cũng giống như hát ví. Trai gái các làng thường hẹn hò nhau tới ngày hội xuân gặp gỡ nhau để cùng hát trao tình, tìm hiểu nhau qua câu hát trước khi đi tới cuộc lứa đôi chỉ Tấn tơ

Tần.

Tổ tôm điếm

Ca dao Việt Nam có câu:

Làm trai biết đánh tổ tôm, Uống chè mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều.

Câu ca dao trên cho ta biết thời xưa đã gọi là làm trai phải biết đánh tổ

tôm, biết thưởng thức chè mạn hảo và đọc văn chương của cụ Nguyễn Du.

Đánh tổ tôm là một thú chơi tao nhã. Chơi tổ tôm phải đấu trí cũng phân biệt cao thấp như chơi cờ. Con người phong nhã phải biết giải trí bằng tổ

tôm. Tổ tôm không bị coi là một môn cờ bạc, mà được liệt vào hạng thú thanh cao.

Trong những ngày khao vọng, giỗ chạp cưới xin ở vùng quê đều có vài bàn tổ tôm để các cụ giải trí. Và trong những ngày hội, hầu hết tại các làng vùng quê miền Bắc đều có mấy bàn tổ tôm và muốn để cuộc đấu trí được long trọng hơn, những bàn tổ tôm này được tổ chức công cộng để

cho mọi người đi hội được dự cuộc đấu trí của các đấu viên: người ta tổ

chức tổ tôm điếm.

Tổ tôm chơi năm người, người ta lập năm cái điếm là Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung. Những điếm này có thể cất trên một khoảng đất rộng. Mỗi điếm là một cái chòi, có thang để đấu viên lên. Những điếm này cũng có thể là những bàn quây kê ở tam quan đình hoặc ở phòng nhà hội đồng.

Điếm muốn lập ở đâu cũng được, điều cốt yếu là giữa năm điếm phải có một chỗ trống rộng để khách đi hội có thể xem được. Bài tổ tôm điếm cũng giống như bài tổ tôm thường với ba hàng Văn, Sách, Vạn thêm những quân chi chi, thang thang, ông cụ, tổng cộng 120 quân, nhưng bài không phải là những hình vẽ trên bìa cứng như tổ tôm thường; đây là hai mảnh gỗ ghép lại với nhau, có thể mở ra được. Trên một mảnh gỗ có viết chữ để chỉ quân bài, còn mảnh kia ghép lại như nắp đậy. Lúc đánh bài, mở nắp ra, nhưng lúc chia, người chia bài phải đậy nắp lại, để tránh sự

trông ngó của các đấu viên hoặc sự gian lận thông lưng giữa người chia bài với một số đấu viên nào.

Luật lệ chơi tổ tôm điếm cũng giống như luật lệ chơi tổ tôm thường. Vẫn những phu dọc, phu bí, phỗng, lưng với tôm lèo. Cách bắt cái lấy phần cũng giống như bài thường.

Chơi tổ tôm điếm cần có một người chạy bài, người này rao những quân bài của điếm đánh để các điếm khác rõ. Muốn phỗng hay ăn đều hiệu trống.

Tại mỗi điếm đều có một chiếc trống nhỏ để đấu viên sử dụng. Nghe người rao bài, đấu viên muốn ăn, muốn bốc muốn phỗng hoặc muốn ù đều có hiệu trống riêng.

Tung cắc là hỏi lại

Tung là ăn

Cắc là không ăn

Tung tung là phỗng

Tung tung một hồi dài là ù

Bài tổ tôm điếm chia để vào các ngăn riêng, người rao bài chuyển lên các điếm cho các đấu viên. Các đấu viên dỡ bài ra xếp bài, rói đánh trống báo hiệu đã xếp bài xong.

Điếm cái đưa bài cho người rao bài để đánh quân đầu tiên.

Bắt đầu một ván bài, bao giờ người giao bài cũng hỏi các điếm xem đã sẵn sàng chưa. Câu hỏi như sau: Trình bốn điếm xong chưa nổi hiệu phát bài!

Khi bốc bài cũng như khi bắt đầu cái đều do người rao bài. Lúc bốc hắn nhặt một quân bài ở ngăn nọc, rồi mở ra đọc cho các điếm nghe.

Chơi tổ tôm điếm, đối với các cụ lý thú lắm. Đây là một cuộc tranh tài công cộng, giữa bao nhiêu khán giả.

Ban tổ chức thường đặt ra những giải thưởng để tặng đấu viên nào được ù chi chi nảy. Thường là một bánh pháo thật kêu đốt sau hồi trống báo tin ù. Khói pháo bốc lên khiến quang cảnh ngày hội càng tưng bừng. Những người xem bàn tán ngợi khen.

Tam cúc điếm

Cũng như tổ tôm điếm, tam cúc điếm cũng chơi như tam cúc thường với cỡ bài 32 quân gồm có tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã và tốt.

Chỉ có ít nơi có tổ chức tam cúc điếm, vì mặc dầu tam cúc không thể là một món cờ bạc bóc lột, nhưng nó giản dị, và cũng kém tao nhã không hợp với các cụ.

Sở dĩ có nơi tổ chức tam cúc điếm là vì tổ tôm điếm hơi khó đối với một số dân quê, nên có lập thêm tam cúc điếm để những người này mua vui trong ngày hội.

Hội làng Cung Thuận với mọi cuộc rước xách tế lễ, với mọi trò vui kéo dài trong tám ngày từ mồng 2 đến mồng 10 tháng Hai âm lịch như trên đã trình bày.

Dân chúng trong vùng và hầu như trong toàn tỉnh Sơn Tây kéo nhau nô nức tới dự hội, một phần vì những trò vui, nhưng mục đích để lễ bái.

Người dân quanh vùng này, - rất nhiều làng thờ Tản Viên sơn thần, - rất sùng kính Sơn Tinh mà đối với họ sự linh ứng rất mầu nhiệm, và họ đã chịu ơn rất sâu xa, như trong thần tích đã nhắc ở trên.

Đến lễ bái ở đình làng Cung Thuận, người ta chỉ làm bổn phận một tín đồ với thần linh, và người ta cũng còn xin thẻ xin bùa dấu như ở chùa Hương hoặc ở đền Phủ Giầy vậy.