Hội đền thờ đức Tản ViênPhần 25
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Làng Và ở chân núi Tản Viên có đền thờ đức Tản Viên sơn thần. Hàng năm đều có mở hội vào ngày rằm tháng Giêng.
Núi Tản Viên trông hình như cái tán, là ngọn núi cao nhất tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) xa trông như có hai cánh phượng hai bên, nên còn được gọi là núi Cánh Phượng hoặc Phượng Hoàng Sơn Núi cao 1280 thước, còn gọi là núi Ba Vì, vì có ba tầng cao chót vót, nằm trên địa hạt huyện Bất Bạt, quê hương của thi sĩ Tản Đà. Từ tỉnh lỵ Sơn Tây đi lên núi có đường qua
các làng Vân Mộng, Hiệu Lực và làng Và ở ngay chân núi. Trên gần đỉnh núi cũng có đền thờ Tản Viên sơn thần.
Đối với dân chúng tỉnh Sơn Tây, nhất là ở hai huyện Phúc Thọ và Bất Bạt, Tản Viên sơn thần là một vị thượng đẳng thần rất linh thiêng và có nhiều phép thuật, luôn luôn phù hộ cho dân chúng quanh vùng được phong đăng hòa cốc thịnh vượng an ninh. Dân chúng sùng kính ngài và tạo nhiều xã có đền thờ ngài.
Thần tích
Có lẽ bạn đọc ai cũng biết chuyện cổ tích Sơn Tinh và Thủy Tinh, một vị
thần núi và một vị thần sông, hai vị cùng tranh nhau muốn lấy con gái vua Hùng Vương thứ 18 là công chúa Mỵ Nương, và người được may mắn làm rể vua Hùng Vương là Sơn Tinh.
Sơn Tinh chính là Tản Viên sơn thần. Tên tục của thần là Nguyễn Tuấn.
Tục truyền ngài là dòng dõi vua Lạc Long, nhà nghèo nên thường phải vào rừng kiếm củi. Một ngày kia, trong khi đốn củi, ngài đã chặt một cây cổ thụ, nhưng trời vừa tối, ngài ra về, sáng hôm sau trở lại thì ngạc nhiên biết bao, cây cổ thụ đã mọc trở lại như chưa hề bị một nhát dao nhát búa nào!
Ngài lại hì hục đốn cây cổ thụ cho tới gần chiều cây mới ngã. Sợ trời tối, ngài ra về và khi sáng hôm sau tới, cây lại sống trở lại y như hôm trước.
Lấy làm lạ, ngài đã toan tìm đốn cây khác nhưng sau một hồi ngẫm nghĩ, ngài lại tiếp tục đốn cây cổ thụ và cũng đến gần xế chiều cây ngã xuống.
Hôm nay ngài không ra về, ngài tìm một chỗ nấp để xem sự thể ra sao.
Chỉ một lát sau có sao Thái Bạch tinh quân ở trên trời xuống cứu cây ấy sống lại. Ngài chạy ra phàn nàn tình trạng nghèo khổ của mình, phải đốn củi kiếm ăn, mà Thái Bạch tinh quân lại đi cứu cây khiến cho ngài không biết lấy gì sinh sống.
Thái Bạch kim tinh bèn cho ngài một cây gậy và dặn rằng:
- Gậy này có phép cứu được bách bệnh cho người ta, hễ ai ốm đau chỉ
cầm gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu dân độ thế.
Ngài nhận cái gậy, từ đó bỏ nghề đốn củi, làm nghề đi cứu người đau ốm. Một hôm ngài cứu sống được một con rắn bị lũ trẻ chăn trâu đánh chết, trên đầu con rắn có chữ vương. Được cứu sống, con rắn bò xuống sống đi mất.
Vài hôm sau, bỗng có một chàng trai mang lễ vật tới biếu ngài và nói:
- Tôi là Tiểu Long Hầu, con vua Long Vương ở bể Nam. Hôm nọ đi chơi bị lũ trẻ chăn trâu đánh chết, may được ông cứu sống, hôm nay tôi đến trả ơn.
Ngài nhất định từ chối không nhận vàng ngọc châu báu của Tiểu Long Hầu. Tiểu Long Hầu cố khẩn khoản mời ngài xuống chơi dưới bể. Nể lời mời, ngài phải nhận lời. Tiểu Long Hầu đưa ra một cái ống linh tê rẽ
nước đi xuống.
Long Vương thấy ngài xuống chơi mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba ngày, rồi đưa tặng những của quý lạ, nhưng ngài hết sức từ chối không nhận gì cả. Sau cùng Long Vương biếu ngài một quyển sách ước, ngài nhận. Với quyển sách ước, ngài muốn ước gì được nấy.
Chiếc gậy thần và quyển sách ước đã giúp ngài cứu dân độ thế, đi đến đâu dân chúng cũng được nhờ ngài. Ngài đi chu du khắp trong nước chỗ
nào dân chúng thuần hậu thì ở lại, chỗ nào nhân tình đơn bạc chuộng phù hoa thì bỏ đi.
Phép thuật ngài cao cường, thần thông biến hóa, không thần thánh nào bì kịp.
Ngài đi tới huyện Phúc Lộc, ngày nay là huyện Phúc Thọ và một phần lớn huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) thấy có núi Tản Viên, ba từng núi xòe ra như hình chiếc tán, phong cảnh u nhã lấy làm bằng lòng lắm.
Ngài liền hóa phép làm một con đường về phía Nam núi, ăn từ bến Phan
Tân, bên dòng sông Hắc Giang đến tận chân núi, qua cánh đồng các làng Vệ Đổng, Nham Toàn, Thạch Bàn, Vân Mộng và Hiệu Lực. Ngài ở trên tầng núi cao nhất.
Ngài thường ra chơi sông Tiểu Hoàng xem cá, và luôn luôn ngài cứu giúp dân chúng quanh vùng qua khỏi những cơn bệnh hoạn và hàng năm mùa màng nơi đây đều tốt đẹp.
Nhớ ơn ngài, dân chúng các làng quanh núi Tản Viên có nhiều nơi lập đền thờ ngài, và ở các nơi khác những nơi ngài đã đặt chân tới, cũng có đền thờ. Đi tới đâu ngài hóa phép thành lâu đài tới đó, và thấy lâu đài dân chúng lại lập đền miếu để thờ.
Bây giờ vua Hùng Vương thứ 18 có công chúa là nàng Mỵ Nương rất xinh đẹp. Ngài và vua Thủy Cung cùng hỏi xin lấy làm vợ, ngài đã được vua Hùng gả con cho vì mang đồ lễ tới trước.
Vua Thủy Cung tức giận dâng nước vây đánh ngài, mưa gió sấm sét ầm ầm, trời đất mù mịt, nhưng phép thần thông của ngài rất ghê gớm, vua Thủy Cung không làm gì được phải rút quân về.
Từ đó về sau hàng năm, nhớ tới thù cũ, vua Thủy lại dâng nước đánh ngài, gây cảnh lụt lội trong dân gian.
Dần dần về sau ít ai gặp ngài, nhưng ngài vẫn giúp đỡ cho mọi người.
Các đền thờ ngài được nhiều người tới lễ bái, và ngài rất linh ứng. Các cụ nhắc lại gặp những năm hạn hán cầu đảo là có mưa liền, hoặc mưa nhiều cầu tạnh cũng linh nghiệm. Cũng theo lời truyền lại, những khi trời tạnh, ngài hay hiện hình đi chơi các khe suối, thường có đám mây phủ
như hình tán quạt.
Ngày hội ở đền Và
Ngày hội ở đền Và, dân các xã lân cận đều tới tham dự.
Trong ngày hội có tế lễ, và cũng có những trò vui xuân như hát đúm, đánh cờ người.
Đặc biệt ở hội này là có đám rước từ đền Và lên đền Ngài ở gần đỉnh núi Tản Viên. Các làng quanh vùng đều cắt cử người tới tham dự. Các thanh niên cắt lượt nhau khiêng kiệu trong đám nước.
Đường lên dốc núi cheo leo, đi không cũng đã vất vả, vậy mà đám rước đi có vẻ nhẹ nhàng, từ các cụ già đến các trai tráng vác cờ quạt tàn tán, nhất là những người khiêng kiệu.
Dân chúng đi theo đám rước cũng không ít. Quanh năm đền Ngài ở trên núi vắng vẻ, ít người dám đi tới, phần vì đi khó khăn, phần sợ gặp các thú dữ, nhất là chúa sơn lâm.
Đám rước lên đến đền Núi, dân các xã cùng nhau tế một buổi. Tế xong, dân chúng vào lễ bái và độ gần chiều, kiệu Ngài lại được rước trở về đền Và.
Hội đền Và tổ chức cốt để các dân làng xã lân cận tới lễ, các trò vui tuy có nhưng việc chính là lễ bái. Nhiều người có người nhà bệnh hoạn tới lễ
xin bùa dấu. Theo lời truyền lại có nhiều người mắc những chứng bệnh nan y đã được phép của Ngài chữa khỏi.