Hội đền Hai Bà Trưng (tiếp)Phần 6
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Món bánh này, đối với dân làng Hát là một thứ bánh Thánh, Thánh hưởng thụ rồi người dân mới ăn. Nếu chưa đến ngày mồng 6 tháng Ba, người dân Hát Môn dù có đi đâu, được bạn bè mời ăn bánh trôi cũng không bao giờ họ ăn. Đây là do lòng thành kính họ đối với Hai Bà, chưa đến ngày giỗ Hai Bà, Hai Bà chưa hưởng, họ chưa ăn. Và họ cũng muốn nhớ lại cử chỉ cao đẹp của Bà hàng bánh trôi, dù nghèo khổ cũng dâng bánh lên Hai Bà, trước khi Hai Bà xuất trận.
Ngày mồng 4 tháng 9
Đây là ngày Hai Bà khao quân khi vừa rút quân ở Tây Hồ về. Trong ngày này dân làng kéo cờ Đại, giết trâu, dê, bò, lợn để tế Hai Bà.
Trong ngày hội này có lễ trình diện con trâu do các ông Quan viên chọn mua để tế Hai Bà. Con trâu này không phải chỉ béo tốt là đủ, tục lệ nơi đây cần đến tướng trâu. Con trâu mang trình diện phải có quý tướng, nghĩa là theo kinh nghiệm phải lưng cầu, đầu quạ, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi. Chọn được con trâu trúng cách, dân làng sẽ làm ăn phát đạt. Con
trâu mang trình diện được cho uống rượu, sau đó mới bị làm thịt cắt tiết thui vàng rồi khiêng vào trước sân đền để làm lễ tế.
Ngày 24 tháng chạp
Đây là ngày hội quan trọng nhất trong năm của xã Hát Môn. Trong ngày hội này hàng ngàn trai gái trong làng được động viên để chia thành hai đạo binh tiền hậu.
Tám cô trinh nữ nhan sắc được lựa chọn để theo sau hầu kiệu Hai Bà.
Các thanh niên được cắt đặt vào những địa vị cao thấp trong ngày hội tùy theo gia thế từng dòng họ. Thanh niên nào ba đời bạch đinh sung các chân vác cờ, vác giáo, khiêng chiêng, khiêng trống, hoặc làm quân lính.
Hạng thanh niên trí thức hay con nhà gia thế được mang gươm phù giá.
Cắt đặt xong mọi người phải tập dượt hàng tuần trước.
Nửa đêm hôm 24 tháng Chạp, nghe tiếng trống làng thanh niên thanh nữ
tập họp thành từng đội rước thần tượng ra bờ sông làm lễ mộc dục sau đó lại rước thần tượng về đền.
Đêm hôm giá lạnh mùa đông, đám rước rầm rộ giữa tiếng đàn nhạc.
Người dân Hát Môn vui sướng vì đã lo tròn nhiệm vụ đối với hai vị nữ
anh hùng trong ngày kỷ niệm và cùng nhau, đây là dịp người ta ôn lại lịch sử oai hùng của Hai Bà.
Hội đền Hạ Lôi
Làng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên (Vĩnh Phú) ngày nay, tức là Mê Linh xưa, dân làng cũng có đền thờ Hai Bà. Hàng năm làng này mở
hội vào ngày 15 tháng Giêng, nhân dịp lễ Thượng Nguyên.
Không hiểu tại sao làng này lại làm lễ kỷ niệm Hai Bà vào ngày Thượng Nguyên, có lẽ dân làng cho ngày rằm tháng Giêng là ngày tốt đẹp nhất trong năm chăng?
Trong ngày hội có nhiều trò vui cổ truyền như đánh cờ, đánh đu, đáo đĩa v.v... nhưng quan trọng hơn cả là đám rước tập trận.
Để cử hành đám rước này dân làng phải kén 150 thanh niên và 150 thiếu nữ để đóng làm quân Hai Bà Trưng. Nam thì áo dài đen quần trắng thắt lưng đỏ bó que, nghĩa là thắt ra ngoài áo dài đen, buộc múi sang bên cạnh sườn, nữ thì áo dài màu nâu, sống màu đen, áo dài tứ thân, hai vạt thắt ra đằng sau[4].
Những thanh niên thiếu nữ này phải luyện tập trước. Hôm rước họ sẵn sàng để hiểu biết tuân theo hiệu lệnh của người chỉ huy, chịu trách nhiệm về toàn thể buổi rước.
Đám rước bắt đầu từ đình, đi vòng dưới chân đê sông Hồng Hà, nghỉ ở
bờ sông, rước kiệu xuống sông lấy nước rồi lại quay về đình. Đám rước không đi vòng lên đê, vì bờ đê cao hơn mặt đình, quân sĩ leo lên bờ đê sẽ
mất vẻ tôn kính đối với Hai Bà xưa nay vẫn được thờ ở đình.
Trong lúc đi rước đám quân nam, nữ hò reo và hát lên những bài hát, trong số đó có bài sau đây, theo ông Trịnh Đình Rư là một khúc hát có từ
đời Hai Bà đặt ra để quân lính hát khi đồn trú trên núi.
Ta lên núi,
Ta lên núi,
Đuổi đàn hươu,
Đuổi đàn hươu,
Chị em năm ba mặt cũng rầu rầu.
Ta lên núi,
Ta lên núi
Đuổi đàn nai
Đuổi đàn nai,
Nỗi niềm tâm sự than thớ cùng ai?
Đoái trông phương Đông: nước rộng mênh mông, Đoái trông phương Tây: đá trắng gỗ ghề,
Đoái trông phương Nam: mây che đầu ngàn, Đoái trông phương Bắc: núi cao ngất.
Trong bài ca trên Hai Bà dụng ý cổ võ nhân dân và khuyến khích quân lính cùng lo việc đuổi quân Đông Hán.
Có lẽ còn có nhiêu nơi ở Việt Nam lập đền thờ Hai Bà và hàng năm, đã có đền thờ ắt phải có cúng lễ kỷ niệm, nhưng biết tới đâu chúng tôi xin thưa tới đó và chúng tôi chờ mong sự chỉ dẫn của các bạn đọc để sau này, có dịp tái bản tập sách chúng tôi sẽ bổ khuyết thêm.
Để kết luận về các ngày hội kỷ niệm Hai Bà, chúng tôi xin mượn lời thơ
sau đây của Hoàng Thái Xuyên, bài thơ nhan đề Trưng Vương: Tượng đá trời Nam giãi tuyết sương,
Nghìn năm công đức nhớ Trưng Vương.
Tham tàn trách bởi quân gây biến,
Oanh liệt khen cho gái dị thường,
Liều với non sông hai má phấn,
Giành nhau loài giống một da vàng,
Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy,
Chỉ thấy Tây Hồ ánh nước gương.
Đền thờ Mã Viện
Nói đến công ơn Hai Bà Trưng, không bao giờ chúng ta quên nỗi hận thù đối với Mã Viện. Người Hán ghi công Mã Viện vì hắn đã đem quân đánh dẹp được Trưng Vương để tái lập nền đô hộ trên đất nước ta, họ ghi công ca tụng, nhưng người Việt chúng ta, chúng ta chỉ nhớ đến Mã Viện là một kẻ xâm lăng. Trong một bài thơ về Mã Viện, Hải Nam Đoàn Như
Khê đã kết luận:
Mặc kẻ ghi công ta chép oán,
Công riêng ai đó, oán ta chung!
Chúng ta oán Mã Viện là oán con người Mã Viện trong tước Phục Ba tướng quân đã đem quân cướp nước chúng ta, nhưng không vì thế chúng ta chê Mã Viện. Dù sao Mã Viện cũng là một tôi trung của Hán Triều, chỉ biết mệnh vua, chẳng quản khó nhọc, để từ miền Bắc sang chinh phục phương Nam.
Có lẽ vì thấy Mã Viện không những là một bầy tôi trung lại có đảm lược, nên dân ta đối phó với họ Mã đã có một sự quảng đại không một dân tộc nào có thể có được. Tổ tiên chúng ta đã bao dung cả sự thờ phụng Mã Viện ở ngay giữa Kinh đô của nước nhà trước đây là Hà Nội.
Thực vậy, trước đây ở phố Hàng Buồm Hà Nội có đền thờ Bạch Mã Thần. Đền này chính là đền thờ Mã Viện do người Trưng Hoa lập nên.
Cùng thờ với Mã Viện, ở nơi đây người Trung Hoa còn thờ cả Thành hoàng phường Hà Khâu, huyện Thọ Xương tức là Hà Nội ngày nay. Đây cũng chỉ là một mánh khóe của họ để lôi kéo người Việt cùng vào lễ tại đền này, người Việt lễ Thành hoàng Hà Nội, còn họ lễ cả Thành hoàng lẫn Mã Viện. Mặc dầu vậy, người Việt cũng chỉ lác đác có đôi người tới lễ, còn người Trung Hoa quanh năm hương khói tới lễ đông lắm.
Đáng chú ý là tại đền có một bức hoành phi của Đốc Biện quân vụ
Quảng Tây Phùng Tử Tài cúng vào năm Đồng Trị thứ 8 tức là năm 1869
với bốn chữ DU LẬP TRỤ TÔN để nhắc tới Đồng Trụ của Mã Viện đã dựng nên ở biên giới của hai nước.
Hội các đền thờ các tướng lãnh của Hai Bà Nói đến những ngày hội tại các xã có đền thờ Hai Bà Trưng, lẽ tất nhiên không thể bỏ qua được những hội làng tại các nơi có đền thờ các nam, nữ tướng lãnh đã cùng Hai Bà dấy quân khởi nghĩa đánh đuổi quân Hán, bọn người đã cai trị dân Nam một cách quá tàn nhẫn độc địa.
Danh tướng của Hai Bà nhiều, nam cũng như nữ, và dân Nam thờ các vị
này ở rải rác nhiều nơi. Chúng tôi rất tiếc không biết hết để nhắc lại trong sách này dù tóm lược, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm, hỏi các cụ
già, nhưng người ở miền Nam tìm hiểu về những điều ở miền Bắc, nhất là những điều đã thuộc vê quá khứ, kết quả rất ít ỏi chẳng có bao nhiêu.
Chúng tôi ghi chép lại đây những điều gì chúng tôi biết, và cũng như ở
các điểm khác, chúng tôi chờ đợi sự chỉ dẫn của những vị biết nhiều hiểu rộng.
Hội Mai Động nơi có đền thờ bà Lê Chân
Làng Mai Động, tổng Mai Điệp, Đại Lý Hoàn Long, Hà Nội ở ngay Hà Nội, trên con đường ngã tư Trung Hiền đi Vĩnh Tuy là nơi có đền thờ bà Lê Chân, nữ danh tướng của Hai Bà Trưng đã cầm quân chống quân Mã Viện ở Bạch Đằng.
Hàng năm làng này mở hội trong ba ngày vào các ngày mồng bốn, năm và sáu tháng Giêng.
Trong ba ngày này, ngoài các cuộc tế lễ, có những trò vui xuân cho dân làng giải trí, nhưng đặc biệt nhất ở nơi đây có cuộc thi vật.
THI VẬT. Thi vật ở ngay trước bãi đình làng. Các tay đô vật các nơi kéo nhau về dự giải vật ở đây đông lắm, và những trận vật hào hứng đã kéo được rất nhiều khách ở Hà Nội tới xem.
Trong những trận đấu vật, có các cụ, các quan viên đánh trống cái cầm trịch, lại có một anh tuần đinh cầm trống khẩu đánh ngay sát bên tai các đô vật, nửa như thúc giục, nửa như khuyến khích.
Đánh vật còn được gọi là chọi vật.
Đánh vật lẽ đương nhiên phải dùng sức, nhưng muốn chế ngự bên địch, sức khỏe không đủ, cần phải biết thế vật gọi là miếng để lừa địch để
ngáng hoặc đội địch lên.
Đánh vật, muốn thắng hoặc phải vật ngã ngửa, danh từ vật gọi là vật ngã trắng bụng, hoặc là đội bổng địch thủ lên.
Trong hội xuân, những cuộc đánh vật bao giờ cũng được hoan nghênh.
Những làng mở hội thường treo giải vật, gồm ba giải chính, nhất nhì ba và nhiều giải hàng.
Giải hàng là những giải được vật trước khi có vật các giải chính. Trong giải hàng hai đô vật vào với nhau, ai thắng là được giải và làng tặng một món tiền hoặc một món quà nhỏ.
Ba giải chính có người giữ giải và thường chỉ vật vào ngày chính hội.
Người giữ giải tức là người nhận lấy cái giải đó về phần mình, ai vật nổi người giữ giải sẽ được thế để giữ. Người giữ giải có thể được giải không cần vật, nếu trong thời gian ấn định bởi làng treo giải không có ai là người phá giải.
Thường thời gian giữ giải là ba ngày.
Tại một làng mở hội xuân với giải vật, đô vật các nơi kéo nhau tới xin vật. Trong lúc vật, họ cởi trần và chỉ đóng một chiếc khố cho kín hạ bộ.
Cởi trần để đôi bên không thể nắm áo nắm quần nhau gây lợi thế cho mình được.
Khố các đô vật đóng màu hồng điều, màu xanh hay màu vàng, thường phần nhiều bằng lụa, nhiễu, lụa nhiễu đây chính là những vuông nhiễu,
vuông lụa họ đã được giải trong các giải vật.
Trước khi vào vật, hai đô vật lễ vọng vào trong đình.
Cuộc vật bắt đầu, các đô vật lên đài, nghĩa là đi đi lại lại múa tay khoa chân để rình miếng nhau. Lên đài một hồi họ mới xông vào ôm lấy nhau.
Họ lừa, họ dùng những miếng ngáng cho nhau ngã xuống, hoặc dùng đầu đội bổng nhau lên. Có những tay đô vật bị hở cơ, phải vội nằm sấp xuống, bò nhoài trên mặt đất. Địch thủ muốn thắng phải vật ngửa họ
được lên. Với miếng nằm bò, tay đô vật nằm lì mặc cho địch thủ bẩy mình, rồi bất thần trong lúc địch sơ hở, họ lại nhỏm đứng dậy để tiếp tục cuộc vật.
Các cuộc vật các giải chính bao giờ cũng rất hào hứng. Khi vật các giải chính có lệ:
Giải nhất trong sáu ngoài năm,
Giải nhì trong năm ngoài bốn,
Giải ba trong bốn ngoài ba.
Theo lệ này thì ở giải nhất người giữ giải phải thắng luôn sáu keo, vật ngã sáu đô vật khác nhau mới được giải còn người phá giải chỉ cần thắng năm keo, nghĩa là vật ngã người giữ giải và bốn người khác nữa là được giải; giải nhì, người giữ giải phải thắng luôn năm keo còn người phá giải chỉ cần thắng luôn bốn keo, ở giải ba, người giữ giải phải thắng luôn bốn keo, người phá giải thắng luôn ba keo.
Thường thường giả ba được vật trước, rồi đến giải nhì và sau cùng là giải nhất. Mỗi một giải vật xong, người thắng giải thường được làng đốt mừng một bánh pháo.
Vật các giải chính gay go lắm, các đô vật lừa nhau từng miếng, người xem ở ngoài cũng thấy thú vị và nhiều khi hồi hộp như chính mình là một đô vật đang dự cuộc vật vậy.
TẠI SAO LÀNG MAI ĐỘNG CÓ CUỘC THI VẬT. Như trên đã nói, làng Mai Động thờ bà Lê Chân, nữ danh tướng của Hai Bà Trưng. Bà là tướng tiên phong, chống giữ với quân Mã Viện ở Bạch Đằng, sau rút lui về hồ Lãng Bạc (Hà Tây). Ở đây bà đã chống cự rất anh dũng với quân Hán, nhưng quân ít, bà đã không địch nổi giặc do chính Mã Viện điều khiển, với sự phụ tá của hai phó tướng là Phù Lạc Hầu Lưu Long và Đốc Lâu Thuyền Tướng Quân Đoàn Chí. Bà Lê Chân phải lui về Mai Động và bị chết tại đây.
Dân làng Mai Động lập đền thờ bà. Vê sau bà được phong làm Thượng Đẳng Phúc Thần công chúa.
Làng Mai Động ngày này mở hội có thi vật là để ghi nhớ những cuộc thi binh tuyển tướng của hai bà ngày xưa mà môn vật đã là một môn quan trọng trong các môn võ nghệ.
Chính ra vật là một môn võ rất được dân ta ưa chuộng nhất là giới bình dân.
Trong thời bình đây là một môn giải trí, nhưng trong thời loạn, đây là một môn võ thực dụng đề tự bảo vệ mình và để giúp nước. Hầu hết các thanh niên đồng quê đều có tập qua một vài miếng vật. Có nhiều làng có những tay đô vật có tiếng như làng Chung Màu, làng Yên Xá tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), làng Vị Thanh, làng Lầm, bàng Dịch Đồng, làng Hội Hạ
tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú), làng Mộ Trạch tỉnh Hưng Yên, làng Mai Động (Đại Lý Hoàn Long cũ) Hà Nội v.v...
Bà Lê Chân, ngoài đền thờ ở xã Mai Động còn có nhiều nơi khác có đền thờ bà, như ở làng An Biện, huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương (Hải Hưng) và Ngõ Nghè, Hải Phòng.
Hội làng Tân La
Làng Tân La tỉnh Thái Bình, hàng năm mở hội vào ngày 16 tháng Giêng.
Làng này thờ Bát Nàng công chúa, một nữ tướng của Hai Bà.
Chồng Bát Nàng công chúa là một lạc tướng bị quân Tàu giết chết.
Trước nợ nước thù chồng, Bát Nàng công chúa đã dẫn quân theo Hai Bà khi Hai Bà khởi nghĩa. Bà được sung vào đạo quân tiền phong cùng với bà Lê Chân.
Khi Hai Bà chết, Bà cũng chết theo.
Không rõ tên thật của Bà là gì, thần tích làng Tân La chỉ ghi là Bát Nàng công chúa.
Hội làng Tân La chỉ có rước xách tế lễ để dân làng mua vui trong dịp đầu xuân. Trước kia, cũng có năm dân làng tổ chức những cuộc đánh Trung bình tiên.
Hội làng Thượng Lạp
Làng Thượng Lạp, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú) có đền thờ Cao Nguyên, một nam tướng của Hai Bà. Hàng năm làng mở hội vào dịp đầu xuân trong khoảng thượng tuần tháng Giêng.
THẦN TÍCH. Cao Nguyên là một danh tướng của Hai Bà, đóng quân ở
Mê Linh cùng với Trưng Mẫu là bà Man Thiện. Khi quân Hai Bà bị quân Mã Viện đánh ở Hát Môn, quân của Trưng Mẫu cùng các tướng trong đó có Cao Nguyên kéo quân tới cứu viện, nhưng vì quân Hán quá đông, quân Hai Bà đánh không lại, Hai Bà phải tự vận, thì quân Hán cũng đánh dồn đạo quân của Trưng Mẫu lui về Mê Linh. Ở đây, đạo quân này cố
sức chống cự, nhưng ít khó chống nhiều nên sau cùng cũng bị tiêu diệt, và các tướng nam nữ hoặc bị chết trận hoặc nhảy xuống sông tự tận.
Riêng tướng Cao Nguyên, sau khi tử tiết, xác trôi về hạt Vĩnh Tường ở
Phong Châu và được dân làng Thượng Lạp vớt lên lập đền thờ. Hàng năm, mỗi độ Xuân về, tại đền Ngài dân làng có mở hội tế lễ trước là để
tỏ lòng biết ơn đối với một vị anh hùng đã vì nước bỏ mình, sau là để
nhân dịp hội hè dân làng mua vui.
NHỮNG CUỘC VUI TRONG NGÀY HỘI. Hội làng Thượng Lạp ngoài các cuộc tế lễ rước sách theo nghi lễ, còn các trò vui xuân như đánh vật, đánh phết và các môn cờ bạc như đáo đĩa, quay đất v.v...
ĐÁNH PHẾT. Trong các trò vui ngày hội, đáng kể và vui một cách ồn ào nhất là đánh phết. Thú vui này chúng tôi đã trình bày cặn kẽ trong PHONG LƯU ĐỒNG RUỘNG.
Đây là một môn du hí lưu truyền từ đời Hai Bà, rất vui nên ta đã có câu vui ra Phết.
[ 1] Phù Đổng Thiên Vương tức Đức Thánh Gióng
[2] Bà Triệu, sau Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Cửu Chân nay là Thanh Hoá
[3] Danh từ bánh trôi có lẽ do đây mà có.
[4] Sống tức là váy, quần 1 ống, áo tứ thân là áo may bằng 4 mảnh vải, 2 mảnh đằng trước bằng nhau là 2 vạt áo.