Sơ lượcPhần 3
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Thực ra trong hai chương I và II, khi nói tới Hội hè về kỷ niệm lịch sử và Hội hè về tôn giáo, chúng tôi cũng nhắc nhiều tới phong tục, nhất là tới nhiều cổ tục của dân quê, nhưng sở dĩ chúng tôi có chương thứ III này là vì ở đây chúng tôi chú trọng nhiều hơn tới phần phong tục, nhất là tới những cổ tục ở hai phần trên chúng tôi chưa có dịp nhắc tới.
Thường những cổ tục có những đặc tính riêng chỉ xuất hiện ở những thôn, xã, làng, xóm thờ các yêu thần, tà thần, và cũng vì thờ các yêu thần tà thần, nên mới có nhiều tục kỳ lạ, đã đành đôi khi tại một làng thờ các chính thần, cũng có những tục đặc biệt riêng của các làng ấy.
Trong phần hội hè về phong tục này, phần nhiều thần tích tại các làng có hội, dân làng giấu kỹ bởi đây là những dâm thần, những tà thần, thần ăn trộm, thần ăn mày v.v... để người ngoài xã biết e gây một sự chê cười.
Do đó ở chương này, khác với hai chương trên, phần thần tích hoặc sẽ rất đơn sơ, hoặc sẽ không có, vì chính kẻ viết cũng không hiểu rõ những thần tích ấy.
Đây là một sự thiếu sót chúng tôi rất lấy làm tiếc và chúng tôi rất mong được bổ khuyết. Trong những làng mà hội hè đình đám chúng tôi kể ra trong chương III này, có thể có nơi là quê quán của một vài bạn đọc, ước mong quý vị này sẽ gởi cho chúng tôi tài liệu về thần tích của làng xã quý vị, chúng tôi cảm tạ vô cùng.
Về những cổ tục nhắc trong chương này cũng như trong chương sau, nhiều điểm như phạm tới thuần phong mỹ tục, và nhiều người không biết tới có thể cho là chúng tôi bịa đặt. Chúng tôi xin thưa trước, trong mỗi cổ
tục đều có ý nghĩa riêng của nó, và những điều chúng tôi kể lại hoặc
chính mắt chúng tôi trông thấy hoặc do các bậc cha anh kể lại, hoặc qua các tài liệu sách vở chúng tôi đã đọc.
Dù sao, nghiên cứu về văn minh nước nhà, tìm hiểu về nếp sống dân tộc, thấy sao xin nói vậy, bỏ qua không đang tâm.
Hơn nữa, những điều viết trong cuốn sách này cũng như trong các tập Nếp Cũ khác chỉ là những điều đơn sơ, đặt ra cái sườn, để tiện giúp các nhà học giả hoặc các thế hệ sau muốn nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
Hội Đông Kỵ
Với các cổ tục:
Ôm cột
Đốt pháo
Múa hoa
Đánh vật
Tế bánh dầy
Rưới sinh thực khí
Làng Đông Kỵ thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), trên quốc lộ
số I, quãng đường từ Hà Nội đi Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng gần 20
cây số, về mé bên phải, du khách có thể thấy, trước đây một khu rừng nổi giữa đám ruộng, đó là Rừng Sặt, không xa phủ lỵ Từ Sơn bao nhiêu.
Gần ngay Rừng Sặt là làng Đông Kỵ, nằm trong tổng Nghĩa Lập. Đây là một làng trù phú với gần 500 mẫu ruộng, với dân số tất cả nam phụ lão ấu khoảng 1.500 người.
Xưa kia, dân làng giàu có, vì ngoài nghề nông, dân làng còn có nghề thợ
mộc và buôn bán. Người người trong làng cũng mát mặt không đến nỗi
quá khổ sở như dân nghèo các thôn xã khác.
Trong làng toàn nhà ngói với sân gạch, và ngay cả đường làng cũng lát gạch tinh tươm.
Làng có ngôi đình lớn lợp ngói. Ngay trước cửa đình là chợ làng rất lớn, một tháng sáu phiên là các ngày 1 và 6. Bên phải đình là chùa làng do sư
nam trông coi.
Ca dao vùng Bắc Ninh có câu:
Vật giao Phù Lưu hữu,
Vật thú Đình Bảng thê
Vật ấm Đông Kỵ thủy
Vật thực Cẩm Giàng kê.
nghĩa là:
Chớ bè bạn với người làng Phù Lưu,
Chớ lấy vợ người làng Đình Bảng,
Chớ uống nước làng Đông Kỵ,
Chớ ăn thịt gà làng Cẩm Giàng.
Về ba điểm kia, chúng tôi không được biết rõ, xin được miễn nói ở đây, duy về điểm chớ uống nước làng Đông Kỵ, vì nguyên do làng này nằm ngay bên vực Dê, một chiếc vực ăn từ vùng Đông Anh tỉnh Phúc Yên (Vĩnh Phú) chảy về, nước vực này đục ngầu, và vì ảnh hưởng của vực Dê, nước ao chuôm trong làng cũng đục hết.
Gia dĩ dân làng này dùng nước ao, không đào giếng mà ao trong làng lại thường không có cầu, khi múc nước người làng Đông Kỵ dùng gàu bằng
dây như gàu tát nước, khiến nước ao đã đục, bị gàu quăng xuống khua khoắng càng đục thêm.
Người làng Đông Kỵ dùng nước đục, bởi vậy dân Kinh Bắc mới khuyên nhau vật ẩm Đông Kỵ thủy.
Làng Đông Kỵ hàng năm mở hội từ ngày mồng một Tết. Dân làng thờ
Ngài Thiên Cương đế.
Thần tích
Theo lời các bô lão kể lại thì Thiên Cương đế là tước phong của vị
Thành hoàng làng này. Đây là một vị thần được phối hưởng nơi này từ
đời Hùng Vương thứ VI. Ngài là người làng Đông Kỵ, đã có công dẹp được giặc Xích quỷ (?).
Dẹp tan giặc, đem quân về, về đến Kẻ Chợ, Ngài được tin thân mẫu qua đời, liền cáo quan về chịu tang.
Giữa lúc ấy giặc Ân sang tàn phá nước ta. Được tin, Ngài lập tức trở lại Kinh thành để quyết tâm xin nhà Vua đi dẹp giặc, nhưng khi Ngài tới nơi, giặc đã bị Phù Đổng Thiên Vương dẹp tan rồi.
Ngài rất tiếc không được thi thố tài năng, và rất hận Phù Đổng Thiên Vương đã lập được công lớn trước Ngài. Mối hận này còn lưu truyền mãi về sau nên giữa dân làng Đông Kỵ và dân làng Phù Đổng vẫn gầm ghè nhau, và những khi Đức Thành hoàng làng Đông Kỵ được lịch triều truy phong, trong khi dân làng đi rước sắc, nếu gặp dân làng Phù Đổng là có sự xô xát ẩu đả.
Những cổ tục
Từ trưa ngày mồng một đầu năm, làng Đông Kỵ bắt đầu mở hội tế lễ
nước xách với những cổ tục đặc biệt của dân làng, hội làng kéo dài cho tới ngày 16 tháng Giêng.
Ôm cột
Cổ tục này nhắc lại sự tích Thiên Cương đế kén tướng tiên phong đi dẹp giặc. Dân làng Đông Kỵ kể lại rằng:
Năm ấy vào ngày 30 tháng Chạp, Ngài được lệnh đem binh trừ giặc. Lập tức Ngài triệu tập các tướng binh dưới cờ để kén tướng tiên phong.
Các tướng sĩ ai nấy nao nức, các tướng tài ai cũng muốn quả ấn tiên phong vào tay mình. Cuộc tranh ấn thật là tưng bừng náo nhiệt. Rất tiếc dân làng không nhớ rõ và trong thần tích cũng không ghi ai đã được lĩnh chức tiên phong.
Cuộc tranh ấn tiên phong, hằng năm mỗi lần tháng kiến dần trở lại, dân làng ĐÔNG Kỵ lại nhớ tới và cho diễn lại tích xưa qua tục Tranh cột Thái Bạch, còn gọi nôm na là tục ôm cột.
Làng Đông Kỵ có 4 giáp: Giáp Tiên, giáp Thượng, giáp Đông, giáp Đoài. Theo nguyên tắc 4 giáp đều tham dự cuộc tranh cột Thái Bạch.
Tục tranh cột diễn ra ngay từ đêm 30 Tết, khởi sự lúc giao thừa và kéo dài cho tới bình minh, vào khoảng 6 giờ sáng.
Cột Thái Bạch là chiếc cột cái bên tả của Đình làng, trước bàn thờ Thần.
Tranh cột Thái Bạch nghĩa là tranh nhau ôm lấy cột này, tượng trưng cho ấn tiên phong trước đây.
Thường 4 giáp đều có sự thỏa thuận và nhường nhịn nhau luân phiên giữ
cột, nhưng cũng nhiều năm các giáp tranh nhau. Trong những năm này, những giáp nào không chịu sự xếp đặt của dân làng đều cử ra cụ già nhất giáp để tranh tài.
Các cụ đều ăn vận chỉnh tề, mũ ni, quần chồi đỏ, áo lụa hồng.
Các cụ đợi lễ giao thừa, lần lượt vào lễ thần. Lễ thần xong các cụ nhập cuộc tranh ôm cột. Dân các giáp ở ngoài hò reo cổ vũ với những lời khuyến khích để nâng cao tinh thần hăng hái của các cụ. Được hàng giáp chứng kiến khích lệ, chính các cụ cũng gắng sức để đoạt phần thắng cho
giáp mình, làm vinh dự cho giáp trước làng xã và cũng chính để tạo sự
kiêu hãnh cho bản thân mình.
Lễ thần xong, cụ nào cụ nấy đều nhào tới ôm lấy cây cột. Chỉ có một cây cột, cụ nào cũng muốn ôm lấy, các cụ phải tranh nhau xô đẩy, quần áo chỉnh tề của các cụ biến thành xốc xếch. Các cụ có thể ôm được cây cột, nhưng các cụ không giữ nổi cây cột.
Cụ này ôm được cây cột, cụ kia đã vén quần, xắn tay áo, cài vạt áo, xông vào lôi mạnh cụ ra. Một bên cố ôm lấy cột, một bên cố lôi cho ra, có khi trong trường hợp cả 4 giáp đều dự tranh, một cụ ôm cột, hai ba cụ lôi ra.
Cuộc tranh ôm cột trước còn là lôi kéo, sau biến thành vật nhau... và trong khi đó dân các giáp đứng ngoài cứ vỗ tay, reo hò cổ vũ.
Các cụ cứ tranh nhau, quần áo xô lệch tả tơi, có cụ văng cả mũ ni, tuột cả
búi tóc, nhưng không cụ nào chịu bỏ cuộc, và vì tuổi già, các cụ vừa thở
hổn hển vừa tranh nhau. Các cụ tranh nhau cho tới bình minh, không ai chịu thua ai. Lúc ấy ban hội đồng làng với các quan viên can thiệp để
định đoạt. Sự định đoạt có nhiều khi các cụ không chịu, cho là thiếu vô tư, nhưng thiểu số phải phục tùng đa số, lệnh của ban hội đồng với các quan viên là lệnh của làng, các cụ không phục cũng đành ôm hận thôi.
Đốt pháo
Ngày Tết, ngày hội Xuân, thường thường làng nào cũng đốt pháo, nhưng đặc biệt làng Đông Kỵ, khi đốt pháo thì đốt những quả pháo khổng lồ
bên những tràng pháo dây. Chiếc pháo khổng lồ này có thể to bằng thân một phi cơ DC3, bằng đầu máy một đoàn xe lửa.
Tiếng pháo tượng trưng cho tiếng súng của Thiên Cương để bắn quân địch.
Theo sự tích, ngày mồng bốn, quân của Thiên Cương đế giao tranh với quân giặc kịch liệt và đã đại thắng trong trận này.
Để nhắc lại võ công hiển hách của thần linh, dân làng đốt liên hồi những tràng pháo thay cho tiếng súng. Tiếng pháo cũng nói lên sự vui mừng của dân làng, thay cho tiếng ba quân hò reo, lại thay cả những tiếng hô của tướng lĩnh thúc ba quân xung phong tiến.
Pháo đốt ở sân đình bắt đầu từ giờ Mùi cho đến chiều tối, cho đến khi nào dân làng đốt hết pháo. Pháo nổ lạch tạch đùng, những quả pháo cối nổ xen lẫn những tràng pháo dây, nghe như ngày nay những tiếng đại bác lẫn vào những tiếng liên thanh.
Giữa những tiếng pháo nổ lại có những tiếng la hò của dân làng như lệnh vỡ. Thật là tưng bừng, thật là náo nhiệt, thật là vui thú với cảnh thanh bình.
Trước (1945), vật liệu làm pháo còn mua được dễ dàng, trong làng có người làm được những quả pháo dài tới 16 thước ta, đường kính 4 thước ta (gần hai thước ngày nay), nghĩa là to nhinh nhỉnh như thân chiếc phi cơ DC-3. Quả pháo được treo cao trên cây, ngòi thật dài, lúc đốt dân làng phải tránh xa.
Còn những tràng pháo cũng dài, dài một cách khả kính, lúc đốt đã phải treo trên cây cao, vẫn còn phải vắt qua tường đình, qua nhà tám mái thõng xuống sân đình. Bắt đầu đốt, pháo nổ phải hàng giờ mới hết.
Lớn, nhỏ, dân làng ai cũng đốt pháo. Tiếng pháo làm hoảng sợ quân địch, xua đuổi tà ma, nói lên sự hân hoan của dân làng và tượng trưng cho sự thịnh vượng của toàn xã.
Với pháo đốt như vậy, chúng ta hãy tưởng tượng sân đình ngày hôm đó, xác pháo rắc ra sao, và mùi khói pháo bốc lên vừa thơm vừa khét tới độ
nào. Xác pháo hồng như muốn khoe với hoa xuân, đua với màu sắc sặc sỡ quần áo ngày xuân.
Ngày Tết càng vui vẻ, người ta chơi Tết càng hân hoan theo pháo nổ để
tự thưởng công cho những ngày lam lũ vất vả quanh năm.
Múa hoa
Sau trận đốt pháo là cuộc múa hoa của dân làng, nhưng hoa đây không phải là hoa thật, cũng không phải là hoa giấy, và người múa hoa cũng không phải là các thanh nữ trong làng hoặc các ca nhi vẫn vừa hát thờ
thần vừa múa hoa như tại hội hè các xã khác.
Dân làng Đông Kỵ gọi là tục múa hoa, nhưng đây là một cách đề cao tinh thần thượng võ, một tục để nhân dịp các thanh niên đồng quê được phô bày sức khỏe của mình với những thân hình rắn chắc, những bắp thịt nở nang, những đường gân vững chãi.
Tham dự cuộc múa hoa là thanh niên bốn giáp.
Từng giáp một, đám thanh niên này mình trần trùng trục, mỗi người chỉ
vận một chiếc khố đỏ, màu đỏ là màu của vui mừng, của Tết nhất. Họ
cùng nhau kiệu lên vai ông Đám giáp họ, ông này quần áo loè loẹt, những bộ đồ màu toàn hồng thắm bằng nhiễu, vóc, lụa hoặc gấm, tùy theo khả năng tài chánh của từng ông, nhưng không ông nào mặc áo vải trong dịp long trọng này.
Mặt các ông tươi, mắt các ông sáng hẳn lên và ông nào cũng có nụ cười thoả thích.
Các ông Đám được thanh niên kiệu đi quanh sân đình ba vòng giữa tiếng chiêng, tiếng trống hòa lẫn trong hò reo của dân làng. Sau ba vòng rước, các ông Đám được đặt ngồi vào một chiếc chiếu cạp điều trải ở giữa đình, ngay trước bàn thờ thần linh.
Ông Đám thường là người cao niên nhất trong giáp. Các ông đợi ông Tiên chỉ làm lễ khấn cầu Đức Thành hoàng để xin gắp thăm xem Ngài ban ân cho giáp nào nhất, nhì, ba, tư.
Đánh vật
Sau cuộc gắp thăm là cuộc đấu vật giữa thanh niên các giáp. Lệ vật ở đây cũng theo thể lệ chung của môn đô vật cổ truyền.
Tế bánh dầy
Quân của Thiên Cương đế ngày mồng 4 giao tranh kịch liệt với quân giặc, kết cục giặc thua và quân Ngài đại thắng, ca khúc khải hoàn. Ngày mồng 6 là ngày khao quân mừng chiến thắng.
Để nhớ lại tích xưa, ngày mồng 6 dân làng có lệ tế bánh dầy, bánh dầy dùng trong việc khao quân.
Theo lệ làng, các cụ, cả cụ ông lẫn cụ bà từ 52 tuổi trở lên mới được dâng lễ thánh, dưới tuổi ấy, không ai được hân hạnh hưởng vinh dự này.
Muốn dâng lễ Thánh mỗi cụ phải mang ra đình dù giàu nghèo cũng vậy, năm nong bánh dày. Các cụ nghèo thay vì 5 nong có thể mang 5 nia, 5
mâm, 5 sàng hoặc 5 mẹt bánh dày, con số nhất định phải là 5.
Bánh dày phải làm bằng thứ nếp cái thật thơm, bánh giã cho trắng, khuôn làm to nhỏ tùy người, trên mặt mỗi chiếc bánh đều có dán một mảnh giấy đỏ tròn, trên mảnh giấy đỏ có chữ thọ cũng cắt tròn bằng giấy trang kim vàng óng ánh, dán đè lên.
Với tinh thần ganh đua, cụ nào cũng kén gạo nếp thật ngon, bánh giã thật khéo.
Sáng mồng 6, các cụ cho con cháu khiêng bánh dày ra Đình. Cùng với bánh dày có kèm theo 10 quả cam ngọt, 10 đoạn nứa dài và một con gà trống đã làm thịt luộc chín, béo vàng ệnh.
Con gà đặt nằm ngay trong nong, mâm, nia hay sàng, mẹt bánh dày, miệng ngậm một bông hoa đỏ, thường hoa lựu hoặc hoa hồng.
Con gà này hoặc tự các cụ bắt con cháu nuôi lấy, vỗ cho thật béo, hoặc phải kén mua từ trong năm.