Mấy ngày hội ở Cai LậyPhần 13

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Về những ngày hội ở Cai Lậy, theo tài liệu thâu thập được, chúng tôi chỉ

nhắc tới các ngày lễ ở lăng Tứ Kiệt, ở đình Bang Lãnh và ở Thiên hậu Cổ miếu.

Hội lăng Tứ Kiệt

Lăng Tứ Kiệt ở sau dinh quận Cai Lậy, đây là lăng của bốn vị anh hùng kháng Pháp đã bị chết dưới lưỡi gươm của thực dân Pháp. Hàng năm dân chúng mở hội ở nơi đây vào hai ngày 15, 16 tháng Tám âm lịch để ghi nhớ công ơn các người.

Tứ kiệt là ai?

Đây là các ông Long, Thận, Rộng và Đước, không rõ họ các vị là gì, những người đã nghe tiếng gọi của núi sông, gia nhập nghĩa quân chống Pháp, đã làm cho quân Pháp nhiều phen thất điên bát đảo.

Không bắt được các ông, nghe theo mưu kế của lũ Việt gian bán nước, chúng bắt cha mẹ vợ con các ông, buộc các ông phải ra trình diện, nếu không chúng sẽ giết hết những người này.

Tình nước nặng, tình nhà cũng nặng, các ông đã nghĩ, không vẹn hiếu sao vẹn được trung, đành lấy hiếu làm trung, phải cùng nhau xuất thú để

chúng tha bố mẹ vợ con.

Thật đáng tội nghiệp, chỉ giận thay, lũ tay sai của giặc tham quyền cao lộc cả, nỡ bày mưu với giặc để hãm hại những người yêu nước.

Bốn ông xuất thú, gia đình các ông được tha về; giặc dụ các ông đầu hàng, phong cho chức tước, các ông đều từ chối, chúng đã đem cả bốn

ông hành hình. Chúng chém đầu các ông ở Cai Lậy, nhưng chưa thỏa nguyện, chúng còn đem đầu các ông bêu tại chợ cho dân chúng biết. Đầu các ông chúng bêu:

2 đầu tại Cầu Cá chợ, ngó về phía sông Ba Rài 1 đầu tại ngã tư Cai Lậy đường Mỹ Thọ đi Ba Dừa, 1 đầu tại ngã ba đường đi Cái Bè, Tân Hiệp, theo lộ dây thép chúng đã thiết lập khi chiếm cứ Cai Lậy để tiện việc liên lạc Cai Lậy với Mỹ Tho.

Trước cái chết của bốn ông, lại thấy đầu bốn ông bị bêu, dân chúng ai nấy đều xót thương, nhưng vì sợ quân giặc hung tàn, sợ lũ chó săn tay sai của giặc tọc mạch, không ai dám để lộ sự đau đớn của mình!

Tứ kiệt anh linh

Tuy bị giết, nhưng khí thiêng không mất, bốn vị anh hùng gần như vô danh trên đã tỏ ra rất anh linh. Theo lời dân chúng địa phương nhắc lại, sự hiển linh của các vị đã tạo ra nhiều sự việc rất đáng kể.

Chuyện thuật lại rằng ngay trong hai ngày đầu, một sự lạ đã xảy ra: nguyên có anh Ba tàu, gánh thịt heo đi bán dạo, đi ngang qua đầu một vị

thấy vị này mắt mở miệng há anh ta đã nói: ''Cái này chết rồi còn muốn ăn thịt, ngộ cho một miếng''. Anh nói xong liền bị hộc máu, mê man ngã xuống. Đem về nhà anh ta trợn mắt há miệng và nhắc lại y nguyên lời anh ta đã nói khi đi ngang qua chỗ bêu đầu. Sau cùng anh hộc máu đến chết.

Chuyện cũng lại thuật lại rằng, trong khi đầu bốn vị bị bêu luôn ngày đêm tại Cai Lậy, đầu này thấy cháy nhà, đầu kia thấy cháy nhà, có cháy đấy nhưng không nơi nào bị thiệt hại. Lửa cháy chỉ khiến cho dân chúng và các nhà cầm quyền băn khoăn lo sợ. Tìm hiểu, họ biết đây là do sự

hiển linh của bốn ông. Sau cùng làng xã và dân chúng phải làm đơn xin chính quyền cho phép mai táng thủ cấp của bốn vị, những thủ cấp này được chôn ngay ở phía sau dinh quận Cai Lậy.

Dân chúng được yên ổn trong ít bữa, cảnh đầu này cháy nhà, cảnh đầu kia cháy nhà lại diễn ra, dân chúng ăn ngủ không yên, không còn lòng nào sinh hoạt được. Sau cùng vài bô lão trong làng trù tính xin phép xây miếu để an vị bốn vị anh hùng. Miễu xây xong, từ đó dân chúng yên ổn làm ăn, những sự việc cũ không xảy ra nữa.

Mộ bốn vị anh hùng linh thiêng lấm, dân chúng tôn kính kêu là Mộ Bốn Ông. Ai cầu xin điều gì cũng được. Đi ngang qua, không ai dám làm ồn ào, nói cười đùa giỡn vô phép. Người ta còn thuật lại rằng, thậm chí ngay trong Quận, nếu có vụ kiện thưa không biết gian ngay, chỉ cần đem ra Mộ BỐN ÔNG để các đương sự làm lễ thề, lập tức kẻ gian bị trừng phạt xây xẩm mặt mày, đành phải thú tội.

Trong khi có sự linh thiêng ấy, Mộ BỐN ÔNG vẫn chỉ là một ngôi mộ

hoang, cỏ dại mọc chùm cao ngất, không rào, không bệ, lại thêm bùn lầy dơ bẩn. Dân chúng muốn sửa chữa làm hàng rào, xây bệ mộ, nhưng mọi người đều sợ chính quyền Pháp, tuy có lòng cũng đành phải làm ngơ.

Chỉ trong vài ba năm đầu có người cháu của một trong bốn vị, đến tảo mộ, nhưng qua mấy năm sau cũng không thấy tới nữa.

Có dư luận cho rằng, người này đã bị người Pháp bắt vì tội đến thăm mộ

những ''người phản loạn''.

Chính quyền địa phương đã đứng lên tổ chức xây lại mộ bốn ông thành bốn mộ riêng biệt với bia mộ rào sắt và bên trong nấm mộ rất khang trang. Mộ được gọi là LĂNG TỨ KIỆT, và ngày khánh thành lăng đã được tổ chức trọng thể. Từ đó, để tỏ lòng tôn kính hơn, người dân không dùng danh từ Mộ Bốn Ông, họ đã gọi theo danh từ mới: Lăng Tứ Kiệt.

Và danh từ Tứ Kiệt cũng đã được dùng để đặt tên đường, tên sân vận động, tên trường học, tên hội trường ở Cai Lậy: là đại lộ Tứ Kiệt, hội trường Tứ Kiệt, trường bán công Tứ Kiệt, sân vận động Tứ Kiệt...

Ngày hội

Mỗi năm vào các ngày 15 và 16 tháng Tám âm lịch, dân chúng có tổ

chức lễ cúng bốn vị anh hùng ở lăng Tứ Kiệt. Trong hai ngày này có

cúng tế, và khách dự lễ rất đông gồm đủ các giới: Đại điện chính quyền địa phương, các hương lý chức còn tại chức hoặc đã mãn nhiệm kỳ, các thương gia điền chủ và toàn thể dân chúng xã Thanh Hòa xã sở tại quận Cai Lậy.

Ngày 15 tháng Tám là ngày rằm Trung Thu, cuộc lễ bái càng long trọng và dân chúng càng nhộn nhịp tham dự với cả tấm lòng thành kính và đồng thời được thưởng thức hai tối hát bội tổ chức hát thờ anh hồn Tứ

Kiệt.

Từ đó tới nay, lễ kỷ niệm Tứ Kiệt cùng với tết Trung Thu đã trở thành tục lệ của dân xã Thanh Hòa.

Hội đình Bang Lãnh

Tại chợ Cai Lậy, gần cầu đúc đi Hậu Giang có ngôi đình gọi là đình BANG LÃNH, vì đình này cất gần tiệm của ông Bang tên là Lãnh. Đình trước thuộc ấp Thanh Sơn, một ấp nằm trong xã Hỏa Sơn. Gọi là đình thờ thần, nhưng nơi đây không có sắc phong, sắc phong trước đây triều đình ban cho đình Ông Án, một ngôi đình khác, cách đình Bang Lãnh chừng 300 thước, đi từ chợ Cai Lậy phải qua một cây cầu treo bắc ngang sông Ba Rài.

Mỗi năm vào các ngày 16, 17 tháng Bảy âm lịch, dân xã Thanh Hòa có lệ cúng thần tại đình Bang Lãnh. Trong ngày cúng thần, hương chức tân cựu trong xã có lễ rước sắc thần long trọng từ đình Ông Án về cúng.

Suốt trong hai ngày cúng lễ, dân xã mời ban hát bội tới hát ngày đêm, và đèn nhang nghi ngút trên bàn thờ, dân chúng luôn luôn tới lễ bái tấp nập.

Đình làng không có sắc thần, rước sắc thần bên đình ông án về cúng, cúng lễ xong, dân làng lại rước hoàn trở lại.

Không có sác thần, để thờ vọng, bài vị chỉ có mấy chữ Thành hoàng bản cảnh.

Có người dân Cai Lậy bảo rằng, nơi đình Bang Lãnh thờ ông Huỳnh Tấn Chiêu.

Ông Huỳnh Tấn Chiêu là ai?

Cai Lậy xưa kia là một vùng hoang vu, cỏ cây sầm uất với bùn lầy hào vũng. Sông Tiền Giang có vàm sông chảy thông lưu ngang qua chợ đến gần Đồng Tháp Mười mang danh sông Ba Rài, có nhiều rạch: Rạch Ông Toan, Rạch Bà Ụt, Rạch Nàng Gồng, Rạch Ông Hiệu. Khỏi chợ có rạch Xoa Rài, Rạch Cà Mau, Rạch Nàng Chưng, Rạch Tràm, Rạch Trát tiếp liền với kinh Ba Bèo.

Về hướng Đông Nam Cai Lậy, có đồn lũy, các Giồng Tha La, Giồng Mồ

Côi, Giồng Bà Trà, Giồng Cây Quéo[1].

Trên đây là tình hình Cai Lậy thuở xưa, khi nơi đây mới chỉ có toàn dân Miên lập nghiệp làm ăn với ngôi chợ được dựng lên. Ta đừng lấy làm ngạc nhiên nếu những tên rạch và giồng mang âm thanh tiếng Khờme.

Chính Cai Lậy cũng do Miên ngữ mà ra, và khởi thủy là hai chữ Cai Lễ.

Khi người Việt Nam tới Cai Lậy làm ăn, người Miên họ tự ý rời bỏ nơi này di cư xuống miền Bạc Liêu, Cà Mau. Họ đi khỏi, với số dân Việt Nam ít ỏi, Cai Lậy như hoang vắng. Lúc ấy có ông HUỲNH TẤN

CHIÊU đứng lên khai khẩn, biến nơi hoang phế này thành ruộng, thành vườn, sửa lại chợ Cai Lễ, cho người Hoa kiều mướn đất làm nhà, dần dần nơi đất hoang vu này biến thành một nơi dân cư đông đúc, và danh từ Cai Lễ cũng biến đổi thành Cai Lậy.

Hồi đó quân Pháp tiến đánh Nam Việt. Dân chúng bỏ chạy khi chúng tiến đến Cai Lậy, ông Huỳnh Tấn Chiêu bỏ hết nhà cửa ruộng vườn đi theo các quan chức triều đình. Ông không trở về sợ quân Pháp sát hại, đành bỏ hết sản nghiệp đã tạo nên, sản nghiệp này sau được nhập làm công sản xã Thanh Hòa ngày nay.

Vì nhớ công khai thác tạo thành Cai Lậy sầm uất, dân chúng, do các Hương chức đứng lên xin trích ra một số tiền và những hoa lợi trong

những tài sản của ông Huỳnh để mỗi năm đến ngày rằm tháng tám âm lịch là ngày giỗ ông, dân chúng cúng giỗ.

Chợ Cai Lậy nhỏ lúc trước đã được mở mang xây to lớn sau này do tiền của tịch thu và hoa lợi ruộng vườn của ông Huỳnh.

Ông Huỳnh có phải vị thần linh được thờ ở nơi đình Bang Lãnh không?

Điều này, chúng tôi đã hỏi lại, có người xác nhận, có người phủ nhận.

Chúng tôi xin ghi lại đây để quý vị muốn tìm hiểu tường tận hơn có thể

dùng những điều chúng tôi đã nêu trong này để bắt đầu.