Lễ hội Ka Tê của người Chăm Thuận HảiPhần 2
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Cứ mỗi độ Thu về là người Chăm theo đạo Bà La Môn ở Thuận Hải lại tưng bừng đón Tết Ka Tê. Người Chăm ăn tết không đón mùa Xuân mà lại đón mùa Thu. Ngày Tết Ka Tê 30 tháng 6 và 1 tháng 7, theo lịch Chăm, trùng ngay vào 6 và 7 tháng 10 dương lịch (1991).
Cũng như Tết Nguyên Đán của người Kinh, đồng bào Chăm ăn Tết cũng chu đáo lắm. Cũng thịt mỡ dưa hành, heo, gà, vịt, bánh tét, mứt, kẹo, pháo. Có khác chăng, người Chăm có thêm món ăn thịt dê thì người Kinh có mấy “món” chơi (cây nêu, câu đối, chơi hoa). Và nếu như người Chăm (Bà La Môn) kiêng thịt bò thì người Kinh lại không ăn Tết bằng thịt vịt.
Ở phía Bắc Thuận Hải, người Chăm ăn Tết vui nhất là ba điểm: Miếu Bà ở Hữu Đức, thờ Đức Bà Rôi Nư Cành - Người mẹ của xứ sở Chăm.
Điểm thứ 2 ở tháp Pô Ka Lông Gia Rai (thường gọi là Tháp Chàm). Đây chính là vua Pô Ka Lông Gia Rai. Điểm thứ 3 là Tháp ở Hậu Sanh, lăng vua Pô Rô Mê.
Từ sáng, trên đường vào các làng Chăm, gặp hàng đoàn các bà, các chị, đi chợ về, đội trên đầu những cái thúng đẹp, đựng đầy thực phẩm, hoa trái vào từng nhà, cũng chính các bà, các chị tất bật làm bánh, nấm thịt, chuẩn bị cho cỗ bàn.
Trưa 30-6 trên sân Miếu Bà, xuất hiện nhiều cờ quạt, trống chiêng, võng lọng để chuẩn bị đi rước xiêm y của người Do, người Rắc Lây từ trên núi
mang xuống. Theo truyền thuyết, thì thuở xưa người Rắc Lây làm con nuôi của Người. Do họ hiền lành, chân thật nên Người quý mến giao y trang cho họ cất giữ. Và cứ đến Ka Tê thì đưa y trang về cho Người, hết Ka Tê lại đưa về núi giữ gìn bảo quản. 12 giờ 30 đoàn người đi rước y trang bắt đầu xuất phát. Đi đầu là các em trai, em gái, ăn mặc đẹp, xếp thành 3 hàng khua vang chiêng trống. Tiếp theo là các cụ bô lão cao tuổi nhất trong làng, mang cờ, võng lọng. Sau cùng là dân làng. Đi đến giữa một trái đồi thì gặp đoàn người Rắc Lây mang y trang của Người cũng vừa tới Hai bên gặp nhau, tay bắt mặt mừng rồi ngồi xuống giữa đường làm lễ bàn giao. Người Chăm tiếp tục rước y trang cua Người về miếu, người Rắc Lây cũng về dự lễ. Tiếng trống, kèn của hai dân tộc hòa quyện với nhau tạo thành một hợp âm có sức lay động náo nức vô cùng.
Đến chiều, trên sân vận động Hữu Đức, người Chăm và cả người Kinh các làng lân cận có đến hàng vạn dồn về dự hội... Từ tám hướng các vũ
nữ tiến vào sân, chào quan khách rồi tung lên không hàng ngàn quả bóng rực rỡ sắc cầu vồng. Tiếp theo là những điệu múa cổ truyền dân tộc. Mỗi vũ nữ xòe ra hai cái quạt như hai cánh bướm. Năm thiếu nữ có lối trang phục đặc biệt hơn, múa giữa sân như năm bướm chị. Còn hàng trăm
"bướm em" múa lượn ở vòng ngoài, tạo thành một cái hoa khổng lồ
nhiều cánh. Cả sân vận động là một bông hoa, một rừng hoa là một cánh đồng bướm. Những ''con bướm” uốn lượn nhịp nhàng, đôi cánh rập rờn theo tiếng trống, tiếng nhạc. Người xem được thưởng thức những điệu múa tuyệt vời và với một quy mô có lẽ là hiếm có…
Tối 6 tháng 10, các làng người Chăm và các xã có đông người Chăm theo đạo Bà La Môn đều tổ chức múa hát vui chơi mừng Ka Tê cho đến tận giao thừa. Ngày 7-10 (mùng 1 Tết) ở 3 điểm có miếu và tháp, từ
sáng, các thầy cả (thầy Kò Kè, chuyên lo việc cúng tế ở các làng Chăm) cùng bà con mang hương hoa, bánh trái lên Miếu, Tháp cúng. Các thiếu nữ, các đội văn nghệ người Chăm và đồng bào nhiều dân tộc đổ về đây xem Hội.
Tết Ka Tê, Tết Nguyên Đán cũng như bao lễ hội của các dân tộc từ Bắc chí Nam, từ rừng tới biển trên dải đất hình chữ S này đã làm phong phú
thêm cho truyền thống văn hóa Việt Nam.
TRẦN MỸ
Thanh niên nguyệt san
(Bài đăng Thanh niên
Nguyệt san số 7 15-11-1991)
Kết luận
Các hội hè Về Tôn giáo thực ra còn nhiều, và mỗi hội thường có những tục lệ khác biệt, và sự khác biệt này tùy theo mỗi tôn giáo. Chúng tôi rất tiếc không đủ biết để trình bày thêm. Đối với một vài tôn giáo chính, như
Cao Đài giáo chúng tôi đã có tìm hỏi, nhưng không nhận được những điều chỉ dẫn cần thiết nên chúng tôi không dám đề cập tới những hội hè liên quan tới các tôn giáo này.
Cũng có nhiều hội hè có thể xếp vào chương hội hè tôn giáo, nhưng chúng tôi đã dành lại chương thứ ba, vì tại các hội hè này, phần phong tục nặng hơn, nhiều tục lệ thật là đặc biệt qua sự tín ngưỡng mà không kể
thuộc về tôn giáo được.
Dù sao, cũng như ở chương đầu, chúng tôi không tránh được sự thiếu sót và chờ mong sự chỉ giáo của bạn đọc để bổ khuyết.
Nói về tôn giáo là một điều rất tế nhị, rất dễ xúc phạm tới tín ngưỡng, bởi vậy, khi viết tập sách này chúng tôi không khỏi có sự dè dặt, nhưng dù dè dặt, chúng tôi vẫn sợ có điều xâm phạm tới các tôn giáo vì vô tình.
Rất mong bạn đọc lấy sự thông cảm mà tha thứ, nếu vì vụng về hoặc vô ý chúng tôi đã có điều gì thất thố với tôn giáo của quý bạn. Trình bày về
hội hè đình đám, chúng tôi chỉ muốn nêu một khía cạnh nếp sống cổ
truyền của dân mình, ngõ hầu lưu lấy những cái gì đã mất để giúp ích những ai sau này muốn khảo cứu về văn hóa nước nhà hoặc muốn tìm hiểu về phong tục xã hội Việt Nam.