Hội Bạch HạcPhần 9
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Lòng em vẫn ước ao tình hôm nay.
Trầu ăn ta lại càng say,
Càng say nhớ buổi hôm nay càng nhiều.
Ấy những người trai gái vùng quê họ thương yêu nhau chỉ tỏ tình qua mấy câu hát, và mai sau duyên nợ nên vợ nên chồng đó là số trời. Họ
không sàm sỡ không lần khân. Bản chất của họ ngây thơ như thế đấy!
Bởi vậy cho nên những năm về sau trước thời kỳ đệ nhị thế chiến, báo Hà Nội, nhất là báo Phong Hóa đề cao, nói nhiều tới nhan sắc của các cô gái Lim, các chàng trai Hà Nội rủ nhau về đồi Lim đông như kiến, chỉ
cốt đi tìm các cô gái Lim để chòng hoa ghẹo nguyệt với những cử chỉ sỗ
sàng, thiếu giáo dục. Từ ngày đó hội Lim, ban ngày bói cũng không ra bóng một cô thôn nữ yếm thắm giải lụa mỡ gà! Nói như vậy, không phải là các cô bỏ hội Lim. Các cô vẫn đi hội Lim, và chỉ tới đồi Lim vào lúc chạng vạng tối nghĩa là sau khi chuyến xe lửa Lạng Sơn và Hà Nội đã rời bánh khỏi ga Lim, mang theo tất cả khách Hà Nội đã đi hội Lim buổi sớm.
Lúc ấy các cô thôn nữ mới từ các ngả đường tới, Họ lại lễ Phật, lễ Thần, họ lại vào kể hạnh hoặc lại tìm bạn để hát cùng nhau mấy câu. Phong vị
hội Lim lại bắt đầu.
[1] Có người quê ở tổng Nội Duệ nói kín với chúng tôi: Chính ra không phải là Hát quan họ, phải gọi là Hát quan Hoạn mới đúng, vì đây là giọng hát do Hiếu Trung Hầu, một quan Hoạn đặt ra.
Hội Bạch Hạc
Với các cổ tục:
Cướp cầu
Thi thuyền trên sông Lô
Cờ bỏi
Cờ người
Làng Bạch Hạc, tổng Nghĩa Yên, huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú) hàng năm mở hai kỳ hội Xuân, kỳ đầu từ mồng 3 đến hết mồng 5
tháng Giêng, kỳ sau từ mồng 10 đến 13 tháng Ba.
Làng Bạch Hạc
Bạch Hạc chính là Phong Châu, kinh đô nước Văn Lang đời Hùng Vương.
Hùng Vương đô ở Châu Phong,
Ấy nơi Bạch Hạc, hợp dòng Thao Giang.
Đặt tên là nước Văn Lang,
Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền.
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
Bạch Hạc nằm bên tả ngạn sông Lô, theo danh từ địa phương còn gọi là sông Thao, trông sang thành phố Việt Trì. Muốn tới Bạch Hạc, du khách hoặc dùng xe lửa, đường Hà Nội đi Lao Kay, đến ga Bạch Hạc, cách Hà Nội chừng bảy chục cây số, xe lửa sẽ ngừng nơi đây trước khi đi qua cầu sông Lô để sang Việt Trì, hoặc du khách có thể đi theo đường bộ, quốc lộ
số 2 đường Hà Nội đi Tuyên Quang, Hà Giang, thẳng tới Bạch Hạc, quốc lộ số 2 cũng đi qua cầu Việt Trì trên sông Lô như thiết lộ.
Thần tích
Đình làng Bạch Hạc trông thẳng ra sông Lô, trên một khu đất cao vừa trang nghiêm vừa thanh tịnh. Nơi đây thờ Thổ Lệnh đại vương, một vị
thiên tướng đã xuất hiện xuống đất Phong Châu vào đời nhà Đường.
Thần tích ghi rằng về đời Đường khi Lý Thường Minh làm Thứ sử Giao Châu, một hôm nhàn du đến đây ngắm phong cảnh, nằm mộng thấy từ
trên trời bay xuống hai thiên tướng.
Hai thiên tướng này là hai anh em ruột. Lý Thường Minh mời hai vị thi tài, ai hơn sẽ ở lại hưởng hương khói của dân làng Bạch Hạc. Đức Thổ
Lệnh đại vương là anh, bước một bước qua sông, và một bước nữa thì lùi về chỗ cũ. Ngài bước mạnh đến nỗi in hằn vết chân lên một tảng đá, nơi đây khi hàng năm trong kỳ hội tháng Ba có cuộc đua thuyền, thuyền bắt đầu khởi hành.
Theo lời dân chúng, ở bên kia sông cũng có một vết chân như vậy, nhưng vì lâu năm bị đất phù sa che lấp đi. Tảng đá về mé sông Bạch Hạc, dân làng còn ghi được và cất giữ ở Đình làng. Vết chân dài một thước, rộng năm tấc.
Em đức Thổ Lệnh đại vương là đức Thạch Khanh đại vương được dân làng Thọ Sơn, huyện Hạc Trì tỉnh Phú Thọ thờ phụng.
Do sự liên hệ huynh đệ giữa hai vị thần linh, dân hai làng Bạch Hạc và Thọ Sơn có tục giao hiếu với nhau trong những kỳ tế lễ hội hè của hai làng.
Những cổ tục
Hội Bạch Hạc với hai kỳ tháng Giêng và tháng Ba mỗi năm, nhiều cổ tục được nhắc lại, nhưng đáng chú ý nhất, ở đây có cuộc thi thuyền trên sông Lô và tục cướp cầu. Còn những tục khác như chơi cờ bỏi, tế lễ thì cũng không khác gì ở những hội Xuân, hội Thu khác miền Bắc.
Cướp cầu
Tục cướp cầu diễn ra trong thời kỳ hội mồng Ba tháng Giêng. Đây là một thú vui đặc biệt của dân làng và hàng năm, trong ngày hội, dân chúng các xã lân cận đã kéo nhau tới đây rất đông để xem và đôi khi cũng tham dự cuộc cướp cầu.
Mỗi năm dân làng cử một người may bộ cầu để tung cho dân làng cướp trong dịp hội. Được cử may bộ cầu là một điều vinh dự trong dân xã, thường là hương chức trong làng. Bộ cầu gồm một quả cầu mẹ và tám quả cầu con. Mỗi quả cầu gồm một nắm bông bọc trong vải ngũ sắc có thêu chỉ mầu sặc sỡ. Một sợi chỉ được đính vào quả cầu, một đầu chỉ
buộc vào một ngành tre. Mỗi quả cầu đều có dải buông thõng, dải hoặc khâu bằng lụa màu, hoặc kết bằng chỉ sặc sỡ.
Sáng ngày mồng Ba Tết, dân làng tới nhà vị Hương chức được chỉ định may cầu để rước bộ cầu ra Đình. Đám rước long trọng có cụ Tiên chỉ
trong làng cầm hương, các nam nữ thanh niên đi theo, có phường bát âm cử nhạc điểm theo tiếng chiêng trống rất oai nghiêm. Chín mẹ con quả
cầu bày trên long đình do bốn thanh niên khiêng.
Rước tới Đình, cả bộ cầu được kính cẩn đặt lên bàn thờ thay cho bộ cầu năm trước. Kế đó là lễ tế cầu. Tế cầu xong là cuộc tung cầu để dân làng và cả dân thiên hạ cùng chen nhau cướp.
Cầu tung từng ba quả một, mỗi lần tung đều do một vị hương chức hoặc một vị bô lão đảm nhiệm.
Đầu tiên là ông Tiên Chỉ, thời Pháp thuộc khi không có ông Tiên Chỉ, do ông niên trưởng trong làng, tung quả cầu Mẹ và hai quả cầu Con. Vị này trước hết phải đọc một bài văn chúc, đại khái ca tụng phong cảnh của làng, dân phong và nhất là sự linh thiêng của Đức Thành hoàng đã che chở cho dân được thịnh vượng, làng xã được bình yên. Sau bài văn chúc ba cành tre được giơ cao theo nhịp trống thờ. Khi tiếng trống dứt, dân làng hò reo ầm ĩ. Dứt hồi hò reo, vị Tiên Chỉ lại đọc một bài văn chúc thứ hai cầu cho dân chúng trong xã được mọi sự tốt lành. Tiếp theo bài văn chúc thứ hai lại là một hồi trống và một loạt hò reo ầm ĩ.
Sau đó vị Tiên Chỉ hoặc niên trưởng tháo ba quả cầu buộc ở ngành tre ra, buộc lại với nhau làm một rồi tung lên để dân chúng xô nhau cướp. Bộ
ba quả cầu không kịp rớt xuống đất đã có người đỡ, nhưng liền đó, người đỡ được bộ ba quả cầu laị bị người khác chen đẩy giằng mất. Họ xô lấn
nhau, họ chen chúc nhau, họ cười, họ nói, họ gọi nhau ơi ới, người này ngã, người kia reo, cho đến khi một người nắm chặt được bộ cầu, sự ồ ạt mới ngừng.
Sáu quả cầu sau do hai vị chức sắc hoặc bô lão khác mỗi người tung ba quả, nhưng lần này, không còn hai bài văn chúc, chỉ có trống đánh nhịp và mọi người hò reo.
Mọi người lại xô đẩy chen lấn nhau như lần thứ nhất. Họ tin rằng cướp được cầu sẽ gặp may mắn. Họ tranh giành nhau rất hăng hái, đàn ông, đàn bà, thanh niên nam nữ đều dự cuộc, không phân biệt người thân kẻ
lạ, người gần kẻ xa, người sang kẻ hèn.
Cướp được cầu, dù một quả hay cả bộ ba quả, có thể đem về nhà làm kỷ
niệm, hoặc để thờ tại Đình. Thường thường dân làng Bạch Hạc cướp được cầu, họ vẫn mang tới Đình để thờ cho tới năm sau.
Tục cướp cầu, tuy chỉ là một cổ tục cử hành hàng năm theo nghi thức cổ
truyền, nhưng đây chính là một cổ tục đề cao tinh thần thượng võ, chứng tỏ người dân Việt Nam luôn luôn sẵn sàng đấu tranh, và ở đây đã biểu lộ
cả các tinh thần bất khuất nó đã khiến dân tộc Việt Nam được tự chủ với bốn nghìn năm lịch sử.
Thi thuyền trên sông Lô
Cuộc thi thuyền hàng năm làng Bạch Hạc tổ chức vào ngày rã đám trong kỳ hội từ móng Mười đến Mười Ba tháng Ba, tổ chức ngay trên dòng sông Lô để dân xã và khách trẩy hội từ thập phương tới có thể đứng hai bên bờ sông dự xem.
Làng có bốn giáp: Bộ Đầu, Tiểu Hạc, Đông Nam và Thần Chúc. Mỗi giáp có một chiếc trải dài bằng gỗ chò[1], dài hơn hai chục thước, rộng chừng thước rưỡi, đóng bằng nguyên cả cây gỗ theo chiều dài. Chiếc trải có năm chục bơi chèo ở hai bên; đầu trải uốn thành đầu rồng và đuôi trải cũng lượn khúc như đuôi rồng.
Để dự cuộc bơi trải các giáp đều kén những dân đinh khỏe mạnh sung vào những tay bơi, mỗi giáp năm chục người cho chiếc trải, nhưng giáp nào cũng kén dư một số người dự khuyết. Ngoài những tay bơi, mỗi giáp còn phải kén ba người, ba người này thường là các bậc đàn anh trong giáp, một người đứng đầu thuyền cầm cờ hiệu, một người đứng giữa gõ một chiếc trống khẩu để giữ nhịp cho những tay chèo, và ở cuối thuyền, một người ngồi cầm lái[2]. Mỗi bên mạn thuyền là hai mươi lăm tay chèo, đây là những tay trai lực lưỡng đã được hàng giáp lựa chọn, và đã có luyện tập cùng với ba vị đàn anh điều khiển chiếc trải. Trong lúc bơi, họ vừa chèo vừa hò reo.
Người đứng đầu thuyền cầm cờ hiệu, và đồng thời cầm trịch cho chiếc thuyền bơi. Người này trước hết phải luôn luôn đứng cho cân, tự giữ lấy thăng bằng, đừng vì mình mà thuyền thiên lệch, gây khó khăn cho các tay bơi. Đứng trên thuyền cho vững, mặc con thuyền lao đi vun vút trên mặt nước theo đà các tay chèo, trong khi đó lái phải cầm trịch cho chiếc trải, dùng cờ hiệu phất cho chiếc trải hoặc đi thẳng, hoặc tiến trái, hoặc tiến phải, hoặc vòng theo một độ nào để quay đầu trở lại, quả không phải là một việc dễ dàng. Chỉ cần một chút sơ ý có thể ngã lao xuống nước trong khi chiếc trải vẫn vun vút bơi đi.
Người cầm trống khẩu đứng giữa thuyền cũng phải giữ mình cho cân, cho khỏi ngã như người cầm trịch. Và tiếng trống phải sao cho đều để
khỏi lạc tay chèo những người đang bơi.
Người cầm lái đứng ở cuối, cầm cả vận mệnh của chiếc trải trong tay, trải đi nhanh hay chậm là do nhiệm vụ người cầm lái. Phải giữ lái cho trải đi thẳng, phải lựa tránh những chiếc trải khác mà vẫn vượt lên đầu.
Lại còn lúc quay, khi lượn, phải lựa cho thuyền theo lái. Với từng ấy khó khăn, người cầm lái lại phải đứng cho vững, cho cân trên cuối thuyền, nếu vô ý ngã xuống sông, chiếc trải không lái sẽ bơi ngang bơi ngửa...
Người cầm lái phải luôn luôn để ý tới người cầm trịch, theo hiệu của người cầm trịch lái chiếc trải.
Năm chục tay chèo, đã ngồi xuống chiếc trải, phải chú ý đến hết việc bơi, tai phải nghe tiếng trống, tay phải bơi cho đều đều, đừng sai nhịp với bạn cũng bơi.
Một tay chèo bơi sai nhịp, có thể gây rối loạn cho ba bốn tay chèo khác, có khi cho cả một mé chiếc trải.
Thật là khó khăn! Do đó phải có sự luyện tập hàng tháng trước.
Lúc xuống bơi trải, các tay chèo đều mình trần trùng trục mỗi người chỉ
vận một chiếc khố, mỗi bọn một mầu khố đều nhau, trông thật đẹp, nhất là khi hàng đoàn họ dắt nhau xuống từng chiếc trải trước cuộc bơi, trông họ với thân hình nở nang, bắp tay rắn chắc, có thể ví họ như những bức tượng đồng lực sĩ.
Lúc cuộc thi bắt đầu, bốn chiếc trải xếp hàng đều nhau ở ngay trước cửa đình làng. Thật là một cảnh nhộn nhịp cho người xem và cả cho người dự cuộc. Dân giáp nào cũng hồi hộp như chính những tay bơi.
Trên chiếc trải, ngoài những tay chèo mình trần đóng khố, ba người đàn anh cầm trịch, đánh trống và giữ bánh lái, người nào cũng khăn đóng áo dài, thắt lưng đỏ buộc múi sang bên, trông có vẻ ung dung bình tĩnh và rất tự tin.
Các chiếc trải khởi hành ở trước cửa đình làng và bơi cho tới ngã ba sông nhánh chảy vào sông Lô. Theo lời truyền tụng đây là dân làng diễn lại tích đức Thổ Lệnh đại vương, tiễn đức Tản Viên khi xưa, lúc đức Tản Viên tới thăm ngài ra về.
Chiếc trải về tới đình trước nhất sẽ được giải thưởng và làng đốt mừng bánh pháo.
Dân làng Bạch Hạc giải thích cuộc bơi trải căn cứ trên một sự tích huyền bí: Đức Thổ Lệnh tiễn đưa đức Tản Viên, nhưng trên thực tế, dân ta cần luôn luôn tập luyện cho quen sông nước, và đã hơn một lần chúng ta thắng giặc trên mặt sông! Bạch Đằng Giang còn đó, Chương Dương độ
còn kia, và cả trận sông Lô năm 1947, khi toàn dân kháng chiến đã khiến gần ba nghìn quân Pháp vong thân trôi theo dòng nước!
Xin xem quyển thượng, Hội Chùa Thầy.
Cờ người
Gặp những năm dân làng làm ăn thịnh vượng, mùa màng được, nhân dịp hội tháng Ba, dân làng tổ chức cờ người thay cho cờ bởi, cờ người cũng chơi như cờ bởi chỉ khác quân cờ thay vì những biển cờ có khắc chữ, là những nam nữ thanh niên mặc quần áo có thêu chữ mang tên những quân cờ, chữ thêu ở trước ngực và ở sau lưng người đóng quân cờ. Cũng có nơi, quân cờ mặc quần áo như thường, nhưng có thêm chiếc biển khắc hoặc viết chữ theo bộ cờ, như vậy mỗi nước đi, nếu quân cờ di chuyển phải mang theo chiếc biển của mình. Tại mỗi vị trí của bàn cờ đều có một chiếc ghế để quân cờ ngồi.
Tại những xã lớn thịnh đạt, những nam nữ đóng quân cờ còn mang theo khí giới, và khi quân bên nọ ăn quân bên kia, quân cờ ăn sẽ múa một thế
võ như hạ quân cờ bị ăn, y như trong một màn hát bội.
Trên đây là mấy cổ tục đặc biệt diễn ra hàng năm tại xã Bạch Hạc trong những ngày hội. Ngoài những cổ tục trên, hội còn nhiều trò vui khác như
tổ tôm điếm, đáo đĩa v.v..., đã nhắc tới hoặc sẽ nhắc ở những bài khác, nên ở đây không đề cập đến.
[1] Theo các cụ kể lại, gỗ Chò là một thứ gỗ quý thường được vua Thủy Tề dâng nước lên rừng lấy. Năm nào bị lụt nước dâng cao, các cụ cho là vua Thủy Tề lấy gỗ Chò. Gỗ Chò trôi ở dòng sông mà không ai vớt được.
Đôi khi, vua Thủy Tề dành cho làng nào cây gỗ để làm cột đình, cây gỗ
sẽ tạt vào làng ấy.
[2] Tôi đã được đích thân dự một cuộc thi này vào đầu năm 1940.
Những tài liệu nhắc lại đây một cách chính xác chúngtôi căn cứ theo cuốn "Monographie de Vinh Yen" của ông Từ Bộ Thực nguyên Chánh án
tòa án Đệ nhị cấp Vĩnh Yên. Sách này đánh máy trước đây lưu trữ tại tòa xứ Vĩnh Yên và Thư Viện Q.G.Hà Nội.
Hội tự nhiên Châu Xã
Với đám rước bảy kiệu
Với các cổ tục:
Cờ bỏi
Tổ tôm điếm
Hát chèo
Đấu roi
Làng Tự Nhiên tục gọi là làng Gói thuộc phủ Thường Tín tỉnh Hà Đông (Hà Tây) nằm trên một bãi đất bồi của sông Hồng Hà, ở phía ngoại đê, cách Hà Nội trên hai mươi cây số về phía Nam. Khi nhắc tới làng mình, dân làng Gói thường dùng bốn tiếng Tự Nhiên Châu Xã như ý muốn nhắc nhở tới sự liên quan của làng, với câu chuyện thần thoại Chử Đồng Tử.
Chữ Đồng Tử là một trong bốn vị được coi là bất tử của Việt Nam[1] và là vị Thành hoàng của Tự Nhiên Châu Xã.
Xã này có hai thôn trên cạn, thôn Thượng, thôn Hạ và một thôn Thủy Cơ, dân chúng thôn này sống thành một xóm chài trên mặt sông Hồng Hà, và lấy nghề đánh cá làm nghề độ nhật, mang danh thôn Thủy Tộc.
Cả ba thôn, mỗi thôn đều có một ngôi đình, đình hai thôn Thượng, Hạ, từ
xưa vẫn xây trên bãi đất làng, còn đình thôn Thủy Tộc trước đây cất trên một chiếc bè lớn, về sau cũng xây trên đất làng, ở ngay ven sông, trên bờ, nơi trông xuống thuyền bè của dân thôn.
Hằng năm Tự Nhiên Châu Xã mở hội vào ngày mồng Một tháng Tư âm lịch với sự tham dự của cả ba thôn.
Thần tích
Trước khi nói tới hội làng, xin nói lại sơ qua sự tích Chử Đồng Tử mà chúng tôi tin rằng bạn đọc ít nhiều cũng đã biết.
Sự tích này chúng tôi xin nhắc lại theo truyện Đầm nhất dạ trong Lĩnh Nam Trích quái cùng với tài liệu ghi trong Nam Hải dị nhân của Phan Kế
Bính[2].
Vua Hùng Vương thứ ba có một người con gái nhan sắc rất xinh đẹp.
Tuy đã 18 tuổi nhưng Công chúa không muốn lấy chồng, chỉ thích ngao du đây đó, chơi thăm các núi sông xem phong cảnh. Vua chiều con mặc ý Công chúa muốn đi đâu cũng không cấm. Mỗi năm khoảng tháng Hai, tháng Ba, Công chúa sửa soạn thuyền bè đi chơi theo sông biển, thường chơi quên cả ngày về.
Thời ấy ở làng Chử Xá, có một người họ Chử, nhà rất nghèo là Chử Vị