Hội Vàm Láng với cổ tục thờ và rước cá voiPhần 11

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

[2] Lĩnh Nam Trích quái của Trần Thế Pháp, bản dịch của Lê Hữu Mục, Khai Trí xuất bản, in lần thứ nhất, Sài Gòn 1961. Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính, Mặc Lâm Sài Gòn 1968.

[3] Theo Phan Kế Bính là Chử Cù Vân.

[4] Mũ của vị tướng thời xưa khi đội ra trận.

[5] Chép theo thần tích xã Đa Hòa nên không thấy nhắc tới xã Tự Nhiên và nhiều xã khác cũng có thờ Chử Đồng Tử và hai phu nhân.

[6] Nay là phủ Khoái Châu.

[7] Theo Nguyễn Đăng Thục trong Tư tưởng Việt Nam, Tư tưởng triết học bình dân, Khai Trí, Sài Gòn 1965, trang 155-157.

Hội Vàm Láng với cổ tục thờ và rước cá voi Vàm là chỗ cửa sông. Vàm Láng là cửa rạch Vàm Láng thuộc địa phận xã Kiểng Phước tỉnh Gò Công (Tiền Giang) nơi đây có tục thờ và rước cá Voi, hàng năm dân chúng mở hội làm lễ rước cá Voi vào đêm 15 rạng ngày 16 tháng 6 âm lịch.

Tục thờ cá Voi

Trước khi nói tới Hội hè ở Vàm Láng chúng tôi xin được phép nói sơ

qua tới tục thờ cá Voi của dân chúng các làng ven duyên, nhất là ở miền Trung và miền Nam.

Cổ tục này được nhắc tới trong nhiều sách vở Việt Nam nhất là trong Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển nói về Thừa Thiên, Linh mục L. Cadière cũng đã nhắc tới trong khi nghiên cứu về tín ngưỡng và tục ngữ bình dân vùng thung lũng Nguôn Sơn (Croyances et dictons populaires de la vallée du Nguon Son). Gần đây trong tập san Đệ nhị tam cá nguyệt 1972

của Hội Nghiên cứu Đông Dương, cũng có một bài đề cập tới tục này.

Ở đây chúng tôi nhắc lại với thêm ít nhiều chi tiết mà trong những tài liệu trên không nhắc tới, những chi tiết này chúng tôi có được qua sự hỏi han các ngư dân các nơi vùng duyên hải.

Cá voi là gì?

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí Thừa Thiên Phủ thì Cá Voi được gọi là Đức Ngư đầu tròn nơi trán có lỗ phun nước ra, sắc đen trơn láng, không có vảy, đuôi có hai vảy như đuôi tôm, cá tánh từ thiện hay giải cứu cho người khi qua biển mắc nạn. Đầu niên hiệu Minh Mạng vua đặt cho tên là Nhân Ngư, đầu niên hiệu Tự Đức đổi lại tên này (Đức Ngư). Loại cá này ở trong Nam Hải thì linh, còn ở biển khác thì không linh, sách An Nam Chí Dự Lục Ký của Cao Hùng Trưng đời Thanh nói: Cá này là thứ

cá rất lớn trong loại cá Hải Thu có tên là Hải Tù, nó phun hơi ra rồi nước tản lên không trung gặp gió nước tản như mưa. Sách ''Cách Trí kính nguyên'' của Trần Nguyên Long đời Thanh dẫn sách ''Chính Tự Thông''

của Minh Tự Liệt đời Minh nói: Loại cá Bạch Ngư dài 20 trượng, tánh lương thiện hay cứu giúp cho người, thấy người ra biển làm cá mà bị con cá dữ khốn bức, thì nó giải cứu cho. Lại trong Bắc Sử nói: Nước Chân Lạp có loại cá tên là Kiến Đồng có 4 chân, không có vảy, mũi như cái vòi voi, hút nước phun lên cao năm sáu chục thước. Trên đây có nhiều thuyết đầu chép vào để bị khảo[1].

Qua những điều trên ghi trong các sách được nhắc lại bởi Đại Nam thống nhất chí, thì cá voi là một loại cá biển lớn không vảy, thường hay cứu người. Do sự cứu người này, những ngư nhân sinh sống về biển rất chịu ơn cá voi, và gọi tôn kính là cá ÔNG. Ngoài ra cá Ông còn được xưng tụng Cự tộc Ngọc Long tôn thần và đã từng được vua Gia Long phong là Nam Hải đại tướng quân, sắc phong hiện còn được lưu giữ tại nhiều lăng đinh thuộc các vạn miền duyên hải.[2]

Những ngư dân sinh sống về biển cả, khi gặp gió bão, cá ÔNG thường nâng đỡ thuyền bè chống sóng cả gió lớn đưa vào bờ.

Sự tích cá voi

Nằm trong tín ngưỡng của dân ta, nhất là dân chúng ven duyên hải có tục thờ cá voi, cá voi có một sự tích, sự tích thần bí cũng như các linh vật khác, sự tích thường được ngư dân nhắc nhở tới.

Tục truyền rằng cá voi là tiền thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Đức Quan Thế Âm đã có lần hóa thân để cứu khổ chúng sinh. Ngài hoá thân thành Ông Nam Hải đi tuần du biển Nam Hải.

Một hôm trên tòa sen nhìn lướt qua sóng gió đại dương Nam Hải, ngài không khỏi đau lòng thấy muôn ngàn sinh linh gặp cơn phong ba bão táp phải bỏ mình vì sóng gió, mà những nạn nhân đáng thương này chỉ là những ngư dân hiền lành chất phác lấy nghề đánh cá nuôi thân.

Trước cảnh tượng đau lòng đó, Bồ Tát liền cởi chiếc pháp y xé tan thành từng mảnh vụn ném xuống mặt biển mênh mông. Mỗi mảnh vụn theo nguyện ý của Bồ tát đã biến thành một cá voi với trách vụ cứu nguy đám ngư dân lâm nạn trước bão tố của Nam Hải Đại Dương. Kể từ đó, cá voi là ân ngư của đám thuyền chài sống về biển cả.

Tiếc thay! Hình vóc cá voi lúc đó tương đối nhỏ, không đủ sức chống trả

với bao nhiêu sóng cả gió lớn bao phủ chiếc thuyền. Trước tình trạng ấy Đức Quan Thế Âm liền cấp tốc mượn bộ xương của ông Tượng trên rừng cho đàn cá. Nhờ được xương to, đàn cá có vóc lớn đầy đủ sức mạnh chống lại sức mạnh của đại dương. Từ đó cá mang tên CÁ VOI vì mượn xương voi và cũng vì to lớn như voi. Người ta còn bảo rằng hài cốt của voi và của cá voi giống nhau như một.

Nhờ sức vóc to lớn, cá voi mặc sức vẫy vùng ngoài biển cả, và đã đương đầu chống lại sóng to bão lớn, kèm giữ cho thuyền ghe được thăng bằng, không bị tan vỡ giữa sức tung hất của sóng gió, lại dìu cho thuyên ghe này vào tận bờ biển. Tuy nhiên, to lớn thì chậm chạp, nên nhiều trường hợp biết có thuyền chài ngộ nạn, nhưng ở quá xa, dù cá voi cố sức bơi tới cũng không cứu kịp nạn nhân. Để giúp cho cá voi làm tròn nhiệm vụ

cứu nạn của mình, đức Bồ Tát đã ban cho cá voi phép thu đường, giúp cho cá voi ở bất cứ nơi nào, cần đến nơi nào để cứu nạn đều có thể kịp

thời. Nhờ có phép thu đường, cá voi đã kịp cứu các ghe thuyên lâm nạn không kể ở hải điểm nào, xa gần bao nhiêu.

Bởi vậy, những người dân sống về biển cả đều cầu nguyện đến cá voi mỗi lần gặp nạn. Theo ngư dân ven bờ biển Bình Thuận, họ có 12 câu nguyện gọi là Thập Nhị đại nguyện. Tương truyền là của Đức Quan Thế

Âm truyền cho họ để cầu lên kêu cứu với Nam Hải Đại Vương trước mọi tai nạn.

Cá voi của vua Gia Long

Theo lời truyền tụng lại, khi vua Gia Long bôn tẩu trốn tránh quân Tây Sơn, một lần ở ngoài biển, nơi phía trước cửa sông Soài Rạp, ngài đã gặp một trận bão lớn. Thuyền ngài muốn đắm, trong tình trạng thập phần nguy hiểm. Ngài lâm râm cầu nguyện Trời đất và sau đó ngài đã được một cá Voi hiện tới, che chở cho thuyền ngài, đưa tới bờ tại Vàm Láng thuộc xã Kiểng Phước, tỉnh Gò Công (Tiền Giang).

Sau này, khi ngài đã thắng quân Tây Sơn, thống nhất đất nước, nhớ tới công ơn Cá Voi đã cứu ngài, ngài liền phong Cá Voi là Nam Hải Đại Tướng Quận với sắc phong được gởi tới các làng ven duyên hải gần nơi trước đây nhà vua đã nhờ cá Voi cứu thoát. Theo các ngư nhân vùng này sắc phong triều đình đã cấp cho ba xã Cần Giờ tỉnh Gia Định, Kiểng Phước tỉnh Gò Công, và Vĩnh Luông tỉnh Vĩnh Long. Tưởng nên nói thêm, sông Soài Rạp phân chia ranh giới giữa hai tỉnh Gia Định và Gò Công (Tiền Giang).

Các sắc phong của ba xã nói trên cho đến thời tiền thế chiến, xã Kiểng Phước vẫn lưu giữ tại Đình làng. Với các sắc phong, nhà vua đã ra lệnh cho các xã liên hệ phải lập đền thờ Nam Hải Đại Tướng Quân cho xứng đáng.

Ngư dân tôn thờ cá voi

Đối với dân các xã ven duyên sống về biển cả, người ta thật là cung kính khi nhắc tới Cá Voi. Họ gọi qua danh từ ông Nam Hải,và họ phân biệt

ông Lớn và ông Cậu, Ông Lớn chỉ loại cá voi to lớn, còn được gọi là Ông Khơi khi ở ngoài khơi, Ông Cậu chỉ loại cá voi nhỏ và còn được goi là ông Lộng khi ở gần bờ. Ngoài ra những danh từ ông Thông, ông Chuông, Ông Máng cũng được dùng để gọi Cá Voi một cách tôn kính.

Thêm danh từ Cá Ông rất thường dùng.

Theo những ngư dân Bình Thuận, song hành với việc cứu nguy dân chài, hàng ngày Ông Nam Hải còn tập trung cá đàn giúp ngư dân đánh lưới.

Mỗi khi ngư phủ thấy Cá ông xơi, tiếng địa phương chỉ cá ông ăn cá, hả

miệng xốc tới đàn cá, người ta vội vàng chèo ghe tới bủa lưới. Thấy ngư

dân đánh cá, cá ông tránh xa, nhường cá cho dân chài tha hồ thu hoạch.

Đối với dân chài, ân cá voi thật sâu, bởi vậy những ai đã sống về nghề

chài lưới đều không thể vong ân bội nghĩa đối với Ông Nam Hải.

Cá ông khi chết được gọi là Lụy. Dân chài Bình Thuận cho biết, nếu ông chẳng may lụy ở ngoài khơi, lập tức có một ông khác kề lưng dìu đưa thi hài ông vào tới gần bờ. Nơi đây ngư dân trông thấy, họ lập tức cho thuyền đón rước, cung nghinh xác ông vô lăng dinh vạn, nơi thờ cá ông.

Trong những lần tiếp rước cung nghinh này, ngư dân thường được cá voi ở ngoài hải phận tỏ sự biết ơn và hài lòng đối với dân chài bằng cách thả

ra làn khói trắng theo lỗ thông đạo ở đỉnh đầu, lỗ thông đạo chính là lỗ

phun nước nhắc trong Đại Nam Nhất Thống Chí. Sau đó có những tiếng kêu bong bong, như chuông đồng ngân vang.

Mỗi lần chết, cá voi phải chịu trôi nổi lênh đênh trên biển cả, trong lúc dập dềnh trôi nổi này, bao giờ cá voi cũng nằm ngửa, theo ngư dân, lối nằm ngửa này cốt để bảo vệ ruột gan khỏi bị các loài thủy tộc khác xúc phạm ăn mất. Cũng theo ngư dân trong lúc dập dềnh trôi nổi, Ông Nam Hải được các vị thủy thần bảo vệ cho đến khi có ngư dân phát giác thấy đem thuyền đón rước cung nghinh.

Các thủy thần bảo vệ Ông Nam Hải gồm Cá Đao, Tôm và Mực là những thủy tộc có những vũ khí sắc bén chống lại bất cứ loài thủy tộc nào muốn xâm phạm tới mình ông.

Cá Đao có chiếc đao trước mũi, dài trên một thước, cứng như xương, hình răng cưa, sắc như cưa máy, dùng chém đuôi cá mập, cá xà. Mực có túi mực xịt khối lượng nước khổng lồ làm toàn vùng hải phận bị đen tối, trong khi đó tôm bể có cặp càng to lớn bén nhọn khác thường, dài trên hai thước sẽ tấn công các loại cá đến bu quanh xác chết cá voi.

Khi cá voi chết, ngoài việc nằm ngửa để bảo vệ ruột gan, còn có đặc điểm nữa: ruồi nhặng không bu vào xác chết cá voi như vào xác các sinh vật khác, và cũng không bao giờ thịt rữa mà sinh dòi bọ.

Đám tang cá voi

Khi ngư dân khám phá ra cá voi chết, họ phải rước về làm đám tang để

chôn xác ở Lăng dinh vạn, làng nào chôn ở địa phận làng ấy. Đám tang được cử hành long trọng.

Người trông thấy xác cá voi đầu tiên phải chịu tang trong đám táng, được coi là con ông Nam Hải. Người này ở địa phương nào được phép cung nghinh xác ÔNG về cấp táng ở Lăng Dinh và thường xuyên canh gác bên cạnh xác cá voi cho đến khi hoàn tất cuộc ma chay.

Lễ chôn cất cá ÔNG thay đổi tùy địa phương. Ở xã Cẩm An, tỉnh Quảng Nam, trong việc chôn cất cá ÔNG, hoặc người ta mổ ra để đựng vào nhiều quan tài, hoặc trong trường hợp xác ông quá lớn, nếu xẻ ra phải để

vào quá nhiều quan tài bất tiện, người ta lập trại quàn thi hài ông ngoài bể chờ cho thịt rữa ra, có khi hàng tháng mới đem bộ hài cốt vê thờ.

Ở các xã thuộc tỉnh Bình Thuận, người ta di chuyển nguyên cả xác cá ông về Lăng Dinh cấp táng. Có điều đáng chú ý là xác cá ông lớn, họ vẫn di chuyển được, nhưng phải do chính những ngư phủ thuộc cùng địa phương với người đã thấy xác cá ông đầu tiên. Nếu chẳng phải là người bắt gặp xác Ông đầu tiên dù có huy động bao nhiêu người cũng không xê dịch nổi xác ông, trái lại, chỉ cần một số ít ngư phủ cũng xê dịch nổi, nếu đây là đám ngư phủ do người phát giác ra xác Ông huy động.

Trong lễ chôn cất cá ông, có một điều giống nhau tại khắp mọi địa phương: người thấy cá ông đầu tiên trong đám tang phải ăn mặc tang phục như một trưởng nam, và trong lúc đưa đám tang phải đi lùi trước linh cữu.

Ông Anh Hạ, một nhân viên Ty Thông tin Hội An trước đây trong bài dự

thi văn chương, do Bộ Thông tin tổ chức năm 1967 nhan đề ÔNG LỤY

có đoạn tả đám tang Cá ông ở Cẩm An như sau:

''Cốc! Cốc! Cốc! Thanh âm chát chúa của đôi sinh gõ chạm vào nhau hòa với tiếng nhạc bi ai hỗn hợp của trống kèn, thanh la, tiêu quyển... khiến cho kẻ tâm hồn cứng rắn đến đâu cũng phải bồi hồi cảm xúc.

''Dưới lệnh chỉ huy của ông ''TỔNG'' và sự đôn đốc của bốn vị ''ĐẦU

ROI'' trang phục như các viên tướng trong tuồng hát bộ, đoàn ''Âm Công

'' trên 50 người đầu vấn khăn tang, đồng phục quần cụt đen, áo lót trắng mới tinh, tiến những bước nhỏ đều và hết sức nhẹ nhàng dưới bụi thu mờ

ảo. Trên vai họ là chiếc linh cữu to tướng sơn đen viền đỏ, để trong một tòa nhà gỗ mầu sắc lộng lẫy, bốn phía có sáo mành che kín và có treo nhiều gốc trúc tiện trổ thành hình tứ bửu hay long lân quy phụng sơn dầu trông bóng nhoáng.

''… Người trưởng nam mặc đại tang, dây rơm mũ bạc cầm đuốc đi giật lùi trước linh cữu...''

Chôn cá ông tùy theo ông Lớn hay ông Cậu, sự chôn cất hơi khác nhau.

Với ông Lớn người ta xây bọc bằng ván bao quanh, trên đổ cát trắng tinh, với ông Cậu, người ta an táng nơi mộ phần[3]. Trong lễ này, toàn thể ngư phủ trong làng có bổn phận tập trung đông đủ để cử hành lễ mai táng cho trọng thể, lễ diễn ra trong ba ngày đêm liên tục. Đúng ba năm thịt cá voi rữa hết, người ta lại phải làm lễ quật mồ, hốt cốt đem vào lăng để thờ gọi là Ngọc cốt. Ngọc cốt được rửa bằng rượu trắng và phơi khô do một ngư phủ cao niên phụ trách, rồi được cho vào thùng niêm phong cẩn thận.

Người thọ tang phải chịu tang trong ba năm, tang phục thay đổi tùy nơi.

Ở Bình Thuận, người này phải bịt khăn điều. Trong khi thọ tang, phải có cử hành những lễ nghi theo tục lệ cổ truyền: 3 ngày sau phải làm lễ tạ mộ, lễ mở cửa mả.

21 ngày phải làm lễ cầu siêu.

100 ngày phải cúng tuần bách nhật, tuần Tốt khốc.

Đúng một năm sau phải làm lễ tiểu tường.

3 năm sau phải làm lễ đại tường[4].

Cùng với lễ đại tường là lễ hốt cốt giống như lễ cải táng đối với cơn người, chỉ khác ở chỗ, hài cốt người ta cải táng để chôn đi nơi khác, còn đối với cá voi, cải táng để mang hài cốt vào dinh vạn tôn thờ. Lễ cải táng này được gọi là Thượng Ngọc cốt, và khi đưa cốt vào dinh vạn, ngư dân gọi là thỉnh ngọc cốt.

Theo lời ngư dân, trong thời gian ba năm chịu tang người trưởng nam của ông thường luôn khỏe mạnh, nhưng về đường tài lợi chỉ được ở mức trung bình. Tang mãn, người này sẽ làm ăn thịnh vượng và gặp nhiều may mắn.

Trong lúc thọ tang, đương sự phải giữ mình tránh mọi sự bê tha, nhất là những hành động có hại tới uy tín của ông. Thí dụ nếu rượu chè say sưa, lập tức bị ông hành. Nạn nhân sẽ la hét om sòm, nhảy múa tung tăng hết ngày nọ tới ngày kia, nhảy hét cho đến khi mệt lả sẽ tới nằm vật bên cạnh mộ ông, tỉnh dậy lại la hét nhảy múa, cho đến khi nào thân nhân biết làm lễ tạ mới hết bị hành.

Lễ thỉnh ngọc cốt

Đám tang cá voi long trọng, lễ thỉnh ngọc cốt cũng long trọng không kém.

Ông Thái Văn Kiểm đã viết về lễ này qua những điêu ông được chứng kiến ở Vàm Láng vào năm 1957[5]:

''Ông Hương Cả, mặc lễ phục, khấn với ông xin thỉnh ngọc cốt lên chùa.

''Một keo âm dương bằng hai đồng tiền, gieo trong một chiếc đĩa nhỏ, nếu được nhất âm nhất dương là ông ưng thuận.

''Lúc đó người ta mới thượng ngọc cốt, xương cốt của ông được bày trên một chiếc nong và được rửa hai lần bằng nước hoa và nước ngũ vị hương nóng.

''Những bộ phận của hài cốt được gói trong vải đỏ cùng với vàng mã và đặt trong nhiều chiếc quan tài lớn di chuyển vào chùa''.

Sau lễ thỉnh ngọc cốt, ngày hôm sau có lễ rước Ông theo như tục lệ vẫn được cử hành trong những ngày hội vào đêm ngày 15 rạng ngày 16 tháng Sáu tại nơi đây.

Cá voi với ngư dân Vàm Láng

Như trên đã trình bày, Kiểng Phước bao gồm cả Vàm Láng là một trong ba xã đã nhận được sắc phong của vua Gia Long để thờ phụng cá voi.

Ngoài sắc phong, cá voi đối với Vàm Láng còn có nhiều liên hệ khác.

Dân chúng nơi đây thuật lại rằng trước đây thời ông Huỳnh Văn Bính lãnh đạo ngư dân Vàm Láng có một lần trời mưa liên tiếp trong ba ngày.

Theo kinh nghiệm, đây là điềm báo có cá voi đạt vào bờ, lập tức ông phụ

tá của ông Bính, ông Vạn vượt sông Soài Rạp qua phía làng Đông Hòa thuộc tỉnh Gia Định (thành phố Hồ Chí Minh) để tìm kiếm. Ông đã thấy một xác cá voi, chỉ có một khúc giữa, riêng khúc giữa này đã to bằng một chiếc thuyền lớn. Ông điều động ngư dân di chuyển khúc xác này về

xã Kiến Phước và để chờ cho thịt rữa, hốt cốt vào một chiếc quan tài thờ

ở Vàm Láng, cốt này còn tồn tại cho tới ngày nay, luôn luôn được sự tôn kính của dân làng.

Ít lâu sau, một ngư dân xã Phước Hải, tỉnh Bà Rịa ngày nay, tới Vàm Láng điều đình xin mua lại hài cốt khúc xác cá voi nói trên với giá một trăm quan tiền.

Ngư dân này bảo rằng chính Ông qua một cuộc ngồi đồng đã báo cho dân xã Phước Hải biết nguyên do Ông phạm lỗi với Thượng đế bị xử tội chặt làm ba khúc rải rác ở ba nơi: đầu ở Phước Hải, thân ở Kiểng Phước và đuôi ở Vũng Tàu. Ông lại cho biết nếu dân xã Phước Hải tập trung được cả ba khúc của ông về thờ, làng xã sẽ thịnh vượng.

Dân chúng Vàm Láng đã không thuận nhường lại cho xã Phước Hải hài cốt của Ông, họ giữ lại thờ và được sự che chở của Ông.

Ngoài câu chuyện trên, dân chúng Vàm Láng còn nhắc đến câu chuyện sau đây:

Hai năm sau việc dân xã Phước Hải điều đình mua lại cốt cá ông, một hôm, một dân chài tên là Sự tung lưới đánh cá đã kéo lưới được một xác cá voi nhỏ, nhưng vì không hiểu sự linh thiêng của cá voi, anh Sự đã thả

xác cá này trở lại biển cả. Xác này lại dạt vào bờ xã Tần Bình Diên, ở

phía nam Vàm Láng đôi chút và được hai người bắt cua là Mạnh và Nhiên trông thấy, nhưng họ không hiểu đó là xác vật gì. Nhiên, với chiếc móc cua, bổ vào xác này và lôi ra một miếng thịt. Lập tức hắn lên cơn sốt mê man, không tìm đường về nhà, qua đêm trong rừng. Thấy vậy Mạnh khấn:

''Nếu Ngài là Ông, xin cho Nhiên khỏi bệnh ngay, chúng tôi sẽ báo cho dân làng biết để rước Ngài về thờ''.

Lập tức Nhiên khỏi bệnh, tỉnh táo để trở về nhà. Trong lúc ấy Mạnh vội vã đi báo cho ngư dân Vàm Láng biết. Lập tức, đám ngư dân này mang thuyền đi để rước Ông về. Khi họ tới nơi, trời vừa tối họ phải đặt đuốc tìm nhưng không kiếm thấy xác Ông. Mạnh lại khấn:

''Ông linh thiêng xin làm con hắt hơi, khi con đi cạnh xác ông.''

Một lát sau, Mạnh hắt hơi. Những ngọn đuốc tập trung quanh nơi đó đã giúp đám ngư dân thấy xác ông.

Xác này được đi chuyển về chùa Vàm Láng. Ở đây Sự đã nhận ra chính là cái xác cá mình đã thả trở lại biển cách đây chín ngày khi anh ta tung lưới đánh cá. Xác còn nguyên vẹn chưa bị tan rữa, ruồi kiến đều không bu tới.

Tang lễ đã cử hành. Sự và Mạnh đóng vai hiếu chủ thọ tang. Hài cốt của cá voi này được thờ cùng một nơi với phần hài cốt của cá voi đã nói trên.

Sau đó Sự và Mạnh làm ăn thịnh đạt, mỗi lần ra khơi đánh cá đều có kết quả tốt. Con cháu các ông này, cho đến trước năm 1945 vẫn sinh hoạt thịnh vượng ở Kiểng Phước.

Ngư dân Vàm Láng luôn luôn được sự che chở của cá Ông. Nhiều người đi biển gặp tai nạn đã được cá Ông cứu.

Đám rước cá voi

Vàm Láng thờ cá voi, hàng năm có lễ rước cá voi trong đêm hôm rằm rạng ngày 16 tháng Sáu âm lịch. Ông Gamichon trong tập san Indochine, số 112, đề ngày 22-10-1942 có thuật lại buổi lễ được cử hành trong tháng Sáu âm lịch năm đó, năm Nhâm Ngọ, theo Tây lịch là đêm 27 rạng ngày 28 tháng 7 năm 1942.

''Cuộc lễ bắt đầu ở ngay nơi thờ phụng Ông vào lúc 11 giờ đêm, có các nhà sư tụng kinh. Lễ vật gồm vàng mã bánh trái bày la liệt trên một chiếc giá đặt trước bàn thờ.

''Chư sư tụng kinh vào khoảng một tiếng đồng hồ, sau đó vàng mã được đem hóa, bánh trái chia cho trẻ em trong làng.

''Đúng một giờ sáng là lễ Nghênh Ông:

''Một chiếc thuyền trang hoàng lộng lẫy có đặt bàn thờ với đồ lễ mặn, heo quay và các đồ lễ khác dùng đề rước Ông, chở ông Hương Cả, các

quan viên chấp sự, các nhạc công và các ca nhi tiến trên rạch Vàm Láng về phía sông Soài Rạp, ngừng ở trước cửa sông, phía bờ biển cách Vàm Láng ước chừng hai cây số. Ở đây, vàng hương được đốt lên, ông Hương Cả và các quan viên làm lễ nghênh ông. Âm nhạc nổi lên hòa với giọng ca của các ca nhi.

''Lễ tất, chiếc thuyền nghênh ông trở về theo lộ trình cũ trên rạch Vàm Láng:

''Hai bên rạch, thuyền lớn thuyền nhỏ đều chăng đèn với các màu sắc rực rỡ từ khoang thuyền lên mui thuyền và lên cả cột buồm, từ đầu thuyền tới cuối thuyền.

''Trên bờ, tại các nhà dân chúng hai bên, các bàn thờ được bày ra để đón tiếp Ông với một sự hân hoan nồng nhiệt của mọi người.

''Khi chiếc thuyền nghênh Ông trở lại tới rạch, một tiếng ồn ào reo hò nổi lên liên tiếp cho tới khi thuyền ghé trước nơi thờ tự, những tràng pháo liên tiếp nổ từ các thuyền lớn nhỏ để đón mừng Ông đang ngự trên chiếc thuyền lễ.

''Rạch Vàm Láng đã được trăng rằm soi sáng càng tưng bừng sáng rực hơn với muôn ngàn ngọn đèn lồng sặc sỡ ở trên bờ, ở dưới sông.

''Thuyền lễ ghé bến, đỉnh trầm được trịnh trọng rước về nơi thờ phụng để

làm lễ An vị.

Lễ An vị cử hành với ông Hương Cả làm chủ lễ ở ngay trước bàn thờ

thần, nơi nhà tiên tế, theo nghi thức cổ truyền.

''Sau đó là lễ túc trực và lễ túc trực cũng cử hành như tại các đình đền khác trong những ngày hội''.

Theo dân chúng Vàm Láng, trong ngày hội có thể ở ngoài khơi có cá ông về dự, nếu từ trong bờ người ta thấy ở xa xa những tia nước bắn vọt lên

cao. Trong trường hợp này, dân chúng vui mừng lắm, sự hiện diện của ông báo hiệu một năm thịnh vượng được mùa cá.

Theo ông Thái Văn Kiểm trong tài liệu đã dẫn, trong dịp dân chúng Vàm Láng tổ chức để rước ngọc cốt của một cá voi tử luỵ năm 1957, ngoài những nghi thức cử hành như ngày hội nói trên, còn có một đám rước đi quanh phố xá tới nhà vị hương chức có nhiệm vụ giữ gìn sắc phong của triều đình. Sắc phong được đặt lên bàn thờ, sau đó bàn thờ được rước xuống thuyền và thuyền tiến ra biển để làm lễ nghênh Ông.

Mê tín hay tín ngưỡng

Hội Vàm Láng, lẽ ra chúng tôi ngưmg bút ở nơi đây, nhưng nhân dịp xin được phép trình bày thêm mấy dòng và một đôi điều liên quan tới tục tôn kính cá Ông, sự tôn kính đã đi tới một mức tin tưởng hầu như mê tín, và đã có một số người lợi dụng sự tin tưởng này.

Theo một số người thuộc các tỉnh duyên hải phía Bắc Trung Việt, sự linh thiêng của cá ông đã đi đến việc nhập cốt lên đồng. Một thiếu niên chưa lập gia đình và chưa có những giao du xác thịt được lựa chọn để ngồi cốt lên đồng. Trong lúc nhập đồng, thiếu niên sẽ kể lại tai nạn cá voi đã gặp để đi đến tử lụy, và báo trước mùa màng trong năm xấu tốt. Việc lên đồng thường chỉ có khi dân chúng mới bắt gặp một xác cá voi dạt vào bờ.

Tại Bình Thuận, trong những ngày đầu năm, ngư dân thường tới Lăng Dinh Vạn lễ để mừng tuổi Ông nhân dịp năm mới và đồng thời xin xăm.

Họ tin rằng lá xăm cho họ biết trước những sự rủi may trong năm.

Vì ngư dân sùng tín cá Ông nên đôi khi đã có những tệ trạng sau đây: Trước đây có một số ngư phủ bất chính tổ chức việc câu bắt cá voi bằng một loại lưỡi câu vô cùng nguy hiểm gọi là Câu Kiều. Xác cá voi câu được họ bán cho các ngư dân vẫn hằng tin tưởng tôn kính cá Ông. Nghề

câu kiều không tiếp tục được vì ngư dân khiếu nại, và chính các đương sự cũng gặp những sự thất bại.

Lại có một thiểu số ngư phủ, mỗi khi bắt gặp cá voi tử lụy họ tìm cách tung tin cho các ngư dân biết, những ngư dân hiền lành này phải chuộc xác, tục gọi là Chuộc Ông, chuộc Cậu, để lo mai táng.

Tục thờ và rước cá Voi đã ăn sâu vào nếp sống ngư dân Việt Nam. Theo các người hiểu biết, sự tín ngưỡng cá voi do dân Chàm truyền lại cho ta cùng với những nghi thức thờ cúng cá voi, nghi thức đó ngày nay còn tồn tại với những hội hè đình đám hàng năm như ở Vàm Láng.

[1] Đại Nam Thống Nhất Chí, Thừa Thiên phủ, tập hạ, bản dịch Tu Trai NGUYỄN TẠO, Nha Văn Hóa, Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản, 1962, trang 111-112.

[2] Ngoài cá Voi ra, còn có các thủy tộc khác được dân chúng tôn sùng và cũng được sắc phong. Xin xem trong TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM

Quyển hạ của soạn giả.

[3] Tục lệ ở Bình Thuận. Tục lệ này khác tục lệ ở Cẩm An nói trên.

[4] Muốn hiểu những lễ này, xin đọc trong Nếp Cũ. Con người Việt Nam của soạn giả.

[5] Thái Văn Kiểm: Le culte de la baleine. Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises - Nouvelle série - Tome XLVII, No2. 2e Trimestre 1972, trang 311 - 326.