Hội Bạch Hạc (tiếp)Phần 10
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Vân[3]. Vị Vân sinh được một người con trai tên là Chử Đồng Tử. Hai cha con đều tính nết hiền lành. Đã nghèo, chẳng may họ Chử lại gặp nạn cháy nhà, của cải hết sạch, hai cha con chỉ còn một chiếc khố vải, thay đổi nhau, ai đi đâu thì đóng.
Đến khi bị bệnh gần chết, cha bảo con:
- Ta chết đi, con cử tang trần, còn cái khố để đấy mà dùng.
Cha chết con không nỡ chôn bố trần truồng, lấy khố quàng cho cha. Từ
đó, Chử Đồng Tử không quần áo, chịu lạnh đói, ngày ngày câu cá, thấy thuyền buồm qua lại, đứng nửa mình dưới nước xin ăn.
Một hôm Tiên Dung đi chơi đến làng Chử Xá, thuyền bơi với tiếng chiêng trống đàn sáo, cờ tàn rợp đất, lính tráng rất đông. Đồng Tử sợ hãi
ẩn vào trong đám lau sậy, đào cát lên, nép mình xuống dưới, rồi lại lấy cát trùm lên trên.
Thuyền bơi tới đó Tiên Dung ngắm phong cảnh vừa ý, liền ghé thuyền lên bãi cát đứng xem. Thấy đám lau sậy, nàng truyền quân lính quây màn xung quanh để tắm. Nàng dội nước, cát trôi đi, trơ ra thân hình Chử
Đồng Tử trần truồng. Nàng liền hỏi nguyên do, Đồng Tử nói rõ hết đầu đuôi hoàn cảnh của mình.
Nghe qua câu chuyện, Tiên Dung bảo Đồng Tử:
- Ta nguyên không muốn lấy chồng, nay cơ sự đã thế này, âu là lẽ tự
nhiên tác hợp.
Đồng Tử từ chối, Tiên Dung nói:
Tự nhiên xui khiến nên có sự này, tại sao lại từ chối?
Nàng bảo Đồng Tử tắm táp, đưa cho quần áo, rồi đem xuống thuyền ăn uống vui vẻ.
Những người theo hầu Tiên Dung về tâu với vua Hùng Vương, nhà vua nổi giận phán:
- Tiên Dung không biết trọng danh tiết, không tiếc tiền của của ta, chơi bời đường sá, lại lấy kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào mà nhìn đến ta. Từ
nay mặc nó, không cho trở về cung điện nữa.
Tiên Dung được tin, sợ hãi không dám về, mới cùng Đồng Tử lập ra phố
xá buôn bán, nơi này ngày càng phồn thịnh trở thành chợ lớn, nay là chợ
Hà Lõa thuộc tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng). Người ngoại quốc qua lại buôn bán đối xử với vợ chồng Tiên Dung kính cẩn như chủ vậy.
Một hôm, có một người lái buôn đến mách với Tiên Dung:
- Nếu quý nhân bỏ ra một trăm cây vàng, cho người đi với tôi ra ngoài biển buôn những đồ quý, sang năm tất được lãi gấp mười.
Tiên Dung mừng rỡ bảo chồng:
- Vợ chồng ta do cơ trời khiến định, ăn mặc là của trời cho, chàng nên đem vàng ra biển mà buôn.
Chử Đồng Tử đem vàng theo lái buôn ra biển. Khi đến núi Quỳnh Lãng, trông lên núi cớ một am nhỏ, liền trèo lên xem phong cảnh. Trong am có một nhà sư còn trẻ, nhà sư Phật Quang, thấy Đồng Tử có cốt cách bèn truyền giáo lý cho. Được truyền thụ giáo lý, Đồng Tử trao vàng cho lái buôn, còn mình ở lại núi Quỳnh Lãng học đạo. Được hơn một năm, Đồng Tử trở về, Phật Quang tặng cho một cái gậy, một cái nón và dặn rằng:
- Phép linh thông ở cả cái gậy và cái nón này!
Đồng Tử trở về nói hết mọi sự cho Tiên Dung nghe và đem cả giáo lý đạo Phật dạy cho nàng. Tiên Dung giác ngộ bỏ nghề buôn bán cùng chồng đi học đạo.
Một hôm hai vợ chồng bỗng gặp trời tối ở một nơi không có dân cư, do đó không có nhà trọ. Hai vợ chồng mới tạm chống gậy, che cái nón ở dọc đường để nghỉ. Canh ba đêm ấy, bỗng hiện ra thành quách, lầu ngọc điện châu, kho tàng dinh phủ, vàng bạc châu báu, giường chiếu, trướng màn đủ cả, lại thêm có tiên đồng, ngọc nữ tướng sĩ, thị vệ hầu hạ chung quanh.
Sáng ngày ra, ai ai trông thấy cũng lạ lùng sợ hãi, tranh nhau mang hương hoa ngọc thực đến dâng. Thành quách hiện ra lại có cả văn võ bá quan, có quân canh giữ các cửa thành tựa hồ như một nước.
Vua Hùng Vương hay tin cho là con gái mình làm loạn, phái quan binh tới đánh. Khi quan binh tới, quần thần xin chia quân ra chống cự. Tiên Dung cười bảo:
- Con không lẽ chống lại cha. Việc này tự nhiên mà có. Ta chỉ thuận theo lẽ phải, mặc ý cha ta giết cũng cam tâm.
Khi quan quân đến, đóng ở bãi Tự Nhiên bên này sông, bãi này ngày nay là Tự Nhiên Châu Xã, bởi cách sông trời lại sắp tối nên chưa kịp tiến binh. Chừng đến nửa đêm, bỗng nhiên trời nổi gió, cát bay cây đổ, rồi thì cả khu của bà Tiên Dung, nhà cửa, thành quách, người vật đều bay cả lên trời, chỉ còn chỗ đất sập quang thành một cái đầm lớn, đầm này được gọi là Nhất Dạ Trạch nghĩa là đầm một đêm. Sáng ngày, dân gian thấy sự
linh dị bèn lập miếu thờ hàng năm có tế lễ. Đầm Nhất Dạ ngày nay thuộc phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng) đối diện với phủ Thường Tín ở bên này sông Hồng Hà. Trước đây Khoái Châu được gọi là Man Trù Châu hoặc còn gọi là Tự Nhiên Châu. Và ở đây có chợ Hà Lõa, dân quê quen gọi là chợ Sông Truồng, nơi Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử.
Câu chuyện Chử Đồng Tử trên đây là hết, cả hai vai chính đều đã bay về
trời! Nhưng sách còn chép:
Sau này đến đời Lý Nam Đế, quân nhà Lương sang xâm chiếm nước ta dưới quyền chỉ huy của tướng Trần Bá Tiên. Vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục mang binh chống cự. Quang Phục mai phục quân ở trong đầm Nhất Dạ. Đầm sâu rộng, bùn lầy rất khó tiến lui, duy Triệu Quang Phục dùng thuyền độc mộc qua lại thuận tiện, thường nhân đêm tới, đột xuất đánh phá quân giặc và cướp lương thực, đồng thời tiêu hao lực lượng của chúng. Ba bốn năm trường, Trần Bá Tiên không đánh nổi quân ta. Hắn đã than rằng:
- Đời xưa gọi là Đầm Nhất Dạ thăng thiên, ngày nay là cái Đầm Nhất Dạ
đạo kiếp.
Gặp lúc đó bên Trung Hoa có loạn Hầu Cảnh, vua Lương triệu Bá Tiên về và giao quyền cho tỳ tướng Dương Sầm tiếp tục thống lĩnh quân Lương giao tranh với Triệu Quang Phục.
Triệu Quang Phục trai giới ở trong đầm đốt hương cầu đảo để xin thần nhân giúp sức phá giặc. Thoát thấy thần nhân cưỡi rồng giáng xuống giữa đầm bảo rằng:
- Ta tuy lên trời nhưng linh dị còn ở đây, ngươi có lòng thành cầu khẩn, ta đến giúp để bình loạn tặc.
Nói đoạn thần nhân nhổ một cái vuốt rồng trao cho bảo giắt vào đầu mâu sẽ thắng được giặc. Sau đó rồng bay lên trời.
Quang Phục theo lời thần nhân, giắt vuốt rồng vào đầu mâu[4], đem quân ra trận, vây đánh chém được Dương Sầm, phá tan quân Lương.
Khi vua Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục tự làm vua là Triệu Việt Vương, đóng đô ở núi Châu Sơn quận Vũ Ninh, thuộc tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) ngày nay.
Theo Lĩnh Nam Trích quái cũng như Nam Hải dị nhân, truyện Chử Đồng Tử đến đây là hết, nhưng theo thần tích làng Đa Hòa, tổng Mễ Sở, phủ
Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng), cũng như thần tích Tự Nhiên Châu Xã, tổng Chương Dương, phủ Thường Tín tỉnh Hà Đông (Hà Tây) câu chuyện còn thêm đoạn sau:
''Một hôm Đồng Tử và Tiên Dung đi xem địa thế huyện Đông An, đến địa đầu làng ông Đình, bỗng nhiên gặp một người con gái nhan sắc độ
16, 17 tuổi đủng đỉnh chơi ở trước chùa Cổ Kính, Tiên Dung trông thấy người ấy phảng phất như tiên nữ chốn Quỳnh Dao, bèn trỏ mà bảo rằng:
- Chàng có muốn lấy nàng kia làm thứ thất không?
Đồng Tử mỉm cười, Tiên Dung biết ý, một mình đi đến trước người con gái mà hỏi:
- Nàng phải chăng là phàm hay tiên, gái phong tình chăng?
Lang quân ta tư chất cao, tài bộ thông minh, nàng làm thiếp người đó xứng đáng lắm. Ta tuy là một nàng Công chúa nhà vua nhưng không có thới ghen tuông, không tính kiêu căng, được nàng kết làm chị em chẳng cũng vui lắm sao?
Người con gái trả lời:
- Không đâu nàng, ta là Tiên Nữ Tây Cung. Vợ chồng nàng cũng đã hợp thành tiên, nay không hẹn mà gặp nhau ở đây là tại trời hay tại người?
Tiên Dung nói:
Tại Trời, nhưng mưu sự ở người mà thành sự tại Trời.
Hai người kết làm chị em mới đến trước nơi Đồng Tử ngồi mà thi lễ
cùng nhau yến tiệc vui vẻ.
Đương lúc bấy giờ ở làng Ông Đình có năm sáu xác chết sắp đem chôn, Đồng Tử bảo Tiên Dung và Tây Cung rằng:
- Ta học được phép tiên, có thể cải tử hoàn sinh. Nay trông thấy người ta chết, ta đến đó cứu họ sống lại, các người chịu theo ta chăng?
Tây Cung nói:
- Cứu người là việc phúc lớn, chúng tôi sao chẳng theo.
Đồng Tử tay cầm gậy trúc, miệng đọc thần chú, lấy gậy chỉ vào cái xác chết, quả nhiên cái xác sống lại, ngồi ngay ngắn, nói năng ăn uống như
thường. Ai nấy vui mừng khôn xiết đều cúi đầu lạy tạ, rồi rước Đồng Tử, Tiên Dung cùng Tây Cung ba vị về nhà làm lễ tạ. Mọi người lại nói, trong làng họ có ngoài trăm người bất hạnh bị bệnh ôn dịch.
Đồng Tử nói:
- Để họ chết đi rồi ta cứu cũng được.
Tây Cung nói:
- Lang quân cứu được người đã chết, không cứu được bệnh người ta sắp chết. Thiếp có thuật cứu được bệnh trăm vạn người.
Đồng Tử và Tiên Dung yêu cầu cho biết thuật đó. Tây Cung bèn lấy giấy trắng viết một chữ son đỏ, đốt đi, hòa tan tro giấy vào nước trong cho
bệnh nhân uống, ai cũng khỏi bệnh cả, cứu được vài trăm người làng ông Đình. Người già người trẻ làng ấy đều đến lạy tạ mà xin làm thần tử...
Được phong và thờ ở đền Đa Hòa và ông Đình[5].
Chử Đồng Tử Thượng Đẳn Đại Vương chí thánh tôn thần.
Tiên Dung Công Chúa Thượng Đẳng Thiên tiên tôn thần.
Nội Trạch Tây Cung Công Chúa huyền diệu tôn thần.
Từ đó về sau sinh hóa làm thánh hay Tiên mãi mãi, kể là vị thứ hai trong bốn Bất Tử (Tản Viên, Chử Đồng Tử, Phù Đổng, Liễu Hạnh) của nước Việt ta. Trải qua các triều Đinh, Lý, Trần, Lê có phù hộ cho nước, cứu dân độ thế rất linh ứng, nên đời vua nào cũng phong tên đẹp, hàng năm Quốc Tế hai kỳ xuân thu mãi mãi vô cùng.
Kiêng kỵ sáu chữ Đồng Tử, Tiên Dung, Tây Cung và cấm mặc hai sắc vàng đỏ.
Đền chính Dạ Trạch ở làng Đa Hòa, tổng Mễ Sở, huyện Đông An[6] tám xã thờ chung.''
(Theo bản thần tích xã Đa Hòa)
(Ngọc Phả Chử Đồng Tử, Tiên Dung và Tây Cung thuộc triều Hùng Vương- chép theo chính bản của bộ Lễ triều Nguyễn)[7].
Thần tích trên có ghi tại xã Đa Hòa cũng như nhiều xã khác, trong đó có Tự Nhiên Châu Xã.
Tục lệ ngày hội
Hội làng Tự Nhiên nhắc lại cho dân chúng nhớ tới thần tích trên, và trong khi mở hội, ngoài những việc tế lễ tất nhiên có những cổ tục riêng của dân làng.
Đám rước bảy kiệu
Đã có đình đám tất nhiên có rước xách, nhưng đặc biệt đám nước nước của Tự Nhiên Châu Xã cử hành ngày mồng Một tháng Tư rất long trọng và nhộn nhịp hơn những đám rước các xã lân cận với bảy long kiệu của đình Thượng ba kiệu, đình Hạ ba kiệu và đình Thủy tộc một kiệu.
Thôn Thượng và thôn Hạ, sở dĩ mỗi thôn có ba cỗ long kiệu vì ở những nơi đây dành cho ba vị linh thần Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân, mỗi người một Long kiệu, riêng thôn Thủy tộc cũng thờ cả ba vị, nhưng họ
rước trên một Long kiệu với bài vị chung.
Đám rước bắt đầu từ đình thôn Thượng, đúng theo nghi trượng cổ truyền với một nghi vệ trọng thể đầy đủ các tự khí với trống chiêng, cờ quạt, tàn lọng và bát âm nhã nhạc. Lúc bắt đầu, đám rước chỉ cử hành với dân thôn Thượng với ba cỗ kiệu của thôn này. Đám rước đi từ đình thôn Thượng tới đình thôn Hạ thì tạm ngừng để chờ dân thôn này cũng rước ba cỗ kiệu với các tự khí như thôn Thượng.
Rồi đám rước tiếp tục, thôn Thượng đi trước, thôn Hạ đi sau, tiến thẳng nẻo sông Hồng Hà. Khi tới ngã ba đường, nơi đường làng Tự Nhiên gặp con đường đi đến bên sông thì ở đây dân thôn Thủy Tộc đã sẵn sàng chờ
đợi với cỗ kiệu của mình để đi tiếp vào sau đám rước, tiến ra bờ sông.
Tại bên sông, đã sẵn sàng bảy chiếc thuyền lớn, rước bảy chiếc kiệu ra giữa dòng sông để lấy nước trong dùng trong lễ mộc dục.
Quãng sông Hồng Hà thuộc địa phận xã về phía hữu ngạn đã được dân làng cắm cọc và có thuyền chăng dây để ngăn cản thuyền bè qua lại. Cờ
ngũ hành được trương lên ở khúc sông nơi bắt đầu vào và nơi rời khỏi địa phận làng để báo hiệu từ xa cho mọi thuyền bè xuôi ngược biết. Và dân làng cũng đã cắt người đứng sẵn trên thuyền từ sáng sớm, mỗi khi có thuyền bè đi qua đều ra hiệu để họ đi tránh về phía bên kia sông.
Bảy cỗ kiệu trên bảy chiếc thuyền bơi ra giữa dòng sông Hồng Hà, có những thuyền cờ quạt và âm nhạc đi theo. Đến giữa dòng sông cả ba thôn đều lấy nước để cho thôn mình dùng trong lễ mộc dục. Lấy nước xong, đám rước lại quay trở về. Lúc này, khi bảy chiếc thuyền rước bảy
chiếc long kiệu cặp bến, kiệu thôn Thủy Tộc được rước lên đầu tiên, thứ
đến ba chiếc kiệu thôn Hạ, rồi mới đến ba chiếc kiệu thôn Thượng.
Đám rước theo con đường cũ trở về. Các kiệu đi theo thứ tự lúc ở sông lên. Đến ngã ba đường, nơi kiệu thôn Thủy Tộc đã nhập vào đám rước lúc trước, đám rước ngừng lại rồi một lát sau thôn Thủy Tộc rước kiệu thôn mình về đình thôn. Hương chức ba thôn họp mặt trước khi kiệu thôn nào rước về thôn đó, hương chức ba thôn Thủy Tộc tới khấu đầu trước các kiệu hai thôn Thượng, Hạ, và hương chức hai thôn này cũng tới khấu đầu trước kiệu thôn Thủy Tộc.
Chờ cho kiệu thôn Thủy Tộc đi rồi, hai thôn Thượng và Hạ lại tiếp tục rước sáu chiếc kiệu trở về, kiệu thôn Hạ đi trước, kiệu thôn Thượng đi sau. Đám rước trở về tới trước đình thôn Hạ thì ngừng lại. Ở đây dân thôn Hạ rước ba kiệu vào trong đình sau nghi thức khấu đầu của hương chức thôn này trước ba chiếc kiệu của thôn kia.
Còn lại dân thôn Thượng với ba chiếc kiệu của thôn mình, họ tiếp tục đám rước cho đến đình thôn.
Đám rước chung của ba thôn rất nhộn nhịp tưng bừng, cờ quạt tán tàn phất phới, chiêng trống ầm ĩ với những bản nhạc của phường bát âm.
Dân chúng ba thôn đi theo đám rước tới tận bờ sông, họ chờ ở đó để lại đi theo đám rước thôn nào về đình thôn đó, khi các kiệu ra giữa sông lấy nước trở về.
Điểm đặc biệt ở đây bạn đọc hẳn nhận thấy, lẽ ra lễ mộc dục, như tại các làng khác chỉ cử hành ở đình chính của làng, thì ở đây, lễ này đã được cử
hành ở cả ba đình thôn Thượng, thôn Hạ và thôn Thủy tộc. Những cuộc tế lễ của ba thôn cũng cử hành riêng, và trong ba ngày hội, hương chức hai thôn nọ phải tới lễ tại đình thôn kia, và dân chúng cả ba thôn đều kéo nhau đi lễ ở cả ba ngôi đình, tuy họ hiểu ở cả ba nơi này đều thờ phụng Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân.
Những cổ tục và các cuộc vui
Tế lễ ba thôn tế lễ riêng, nhưng các cuộc vui và các cổ tục lại cử hành chung. Thôn Thủy Tộc chỉ có các cuộc tế lễ và không có cuộc vui cổ
truyền nào.
Tại hai thôn Thượng và Hạ, dân làng có tổ chức gồm có cờ bỏi và tổ tôm điếm.
Cờ bỏi: Đã trình bày trong HỘI CHÙA THẦY.
Tổ tôm điếm: Đã trình bày trong HỘI CUNG THUẬN.
Chử Đồng Tử là một trong Tứ Bất Tử theo tín ngưỡng của người Việt Nam, và rất được dân chúng Việt Nam tôn sùng. Nhiều làng có đền thờ
ông và hai phu nhân.
Qua câu truyện về ông, ta nhận thấy bên trong đã gói ghém triết lý nhân sinh của Đạo Lão sống theo tự nhiên, với nếp sống phù hợp với thiên nhiên như lúc mới sinh ra của cha con họ Chử, với lòng hiếu tự nhiên của con đối với cha khi Đồng Tử đem chôn chiếc khố độc nhất theo cha, với sự gặp gỡ rất tự nhiên trong khung cảnh trời sinh giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, hai người đã gặp nhau không y phục như lúc chào đời, với nếp sống phóng khoáng của Tiên Dung ưa cảnh thiên nhiên không thích lầu son gác tía, và với sự sống của cặp vợ chồng này theo lẽ tự
nhiên không câu nệ nghi lễ.
Câu chuyện cũng đã nói lên sự hợp dung giữa đạo Lão và đạo Phật tại Việt Nam qua truyện nhà sư Phật Quang truyền phép cho Chử Đồng Tử, cây gậy và chiếc nón đã không là gì và đã tạo nên tất cả. Phải chăng đây tượng trưng cho triết lý cao xa của đạo Phật, mọi việc đều do tâm, có hay không ở nơi tâm cả.
[1] Bốn vị này là: Tản Viên Sơn Thần, Phù Đổng Thiên Vương, Liễu Hạnh Công Chúa, và Chử Đồng Tử. Xin xem trong Tín Ngưỡng Việt Nam của soạn giả.