Hội Lim với cổ tục hát quan họPhần 7

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Hàng năm ngày 13 tháng Giêng, các bậc tài tử cố đô Thăng Long rủ

nhau người người lớp lớp đi xem hội Lim, để nghe các trai gái đồng quê cùng nhau say đắm trong điệu hát quan họ.

Hội Lim tổ chức trên đồi Lim, tên chữ là Hồng Vân Sơn. Đây là một ngọn đồi thuộc địa phận ba xã Duệ Đông, Lũng Sơn và Lũng Giang, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), ở ngay gần quốc lộ số 1 từ Hà Nội đi Lạng Sơn, cách ga xe lửa, ga Lim, chừng hơn một cây số.

Từ Hà Nội tới đồi Lim, quãng đường xa 25 cây số, sở dĩ gọi là đồi Lim vì xưa kia trên đồi này mọc toàn cây lim, một thứ gỗ rắn chắc. Ngày nay rừng lim không còn, đồi thông trọc lốc với đá và đất núi sắc đỏ như sơn, thỉnh thoảng xen vào mấy nương sắn và mấy sơn trang. Dưới chân núi, thuộc địa phận xã Lũng Giang, sát bên lề đường quan lộ là chợ Lim với những lều gianh mái lá. Cửa chợ có một cây đa cổ thụ to lớn, bóng vùng rợp rất xa, các làng lân cận gọi là cây đa Lim. Gốc cây đa có quán ngói gọi là cầu Lim.

Trên núi có Hồng Vân tự. Đây là một ngôi chùa cổ quy mô rộng rãi với một quả chuông lớn đúc từ đời Cảnh Hưng. Chùa này dân quanh vùng gọi là chùa Lim.

Phía bên trái Hồng Vân tự là văn chỉ xã Lũng Giang. Văn chỉ xây lớn với bệ gạch rêu phong. Văn chỉ thờ đức Khổng tử và các tiên hiền tổng Nội Duệ, huyện Tiên Du. Cách chùa không xa, về phía tay mặt, có một ngôi lăng tường đá ong kiên cố, trước lăng là một tấm bia lớn đứng sừng sững khiến khách xem hội Lim không ai bỏ qua được. Trong lăng có đủ voi, ngựa, nghê, ngỗng cùng sập đá, ngai đá thật trang nghiêm.

Đây là lăng ngài Hiếu Trung Hầu, tên húy là Diễn, làm quan dưới triều vua Lê Cảnh Hưng. Xuất thân hoạn quan, ngài đã được thăng đến chức Thanh Hoa trấn đốc đồng. Dân chúng quanh vùng quen gọi lăng ngài là lăng quan Trấn.

Hiếu Trung Hầu không có con. Khi gần chết ngài bầu hậu hàng tổng và làm đình cho mấy xã. Để ghi nhớ công ơn ngài, hàng năm đến ngày 13

tháng Giêng âm lịch dân tổng Nội Duệ mở hội rất to tại lăng ngài. Ngày hội được gọi là ngày Hội Lim.

Hội kéo linh đình với cờ xí phấp phới, với rước xách tế lễ. Dân tổng Nội Duệ kéo nhau tới lễ lăng Hiếu Trung Hầu, tới lễ Hồng Vân tự để cầu nguyện được một năm may mắn.

Trong ngày hội có cờ bỏi, và tại chùa có kể hạnh do các bà vãi tụng lên công đức của chư Phật để khuyến thiện.

Ngoài ra còn có những trò chơi cờ bạc như đáo đĩa, tổ tôm điếm rất được dân chúng ham mê.

Đáng kể và đặc biệt nhất ở hội Lim là tục HÁT QUAN HỌ.

Hát quan họ

Tương truyền rằng hát quan họ là một lối hát do Hiếu Trung Hầu đặt ra để mua vui lúc tuổi già.

Đây là một lối hát đối đáp giữa hai bên trai gái. Qua những câu hát các cô, các cậu khen ngợi nhau, tỏ tình với nhau. Lời hát đôi khi thật văn chương bóng bảy, đôi khi thật thắm thiết nồng nàn.

Hát quan họ phải hát giọng đôi, hai người chầu miệng vào nhau cùng hát, hai giọng quyện với nhau, tiếng ngân vang, vang vút, tiếng trầm êm ái như ru!

Hát quan họ có nhiều giọng, nhưng có ba giọng chính, nam nữ thanh niên thường dùng cùng nhau đối đáp trong những ngày hội để trao tình.

Ba giọng đó là:

Giọng Sổng, dùng để dạo giọng lúc bắt đầu hát. Giọng Sổng tiếng ngân vút cao nghe đầm ấm nồng nàn. Đây là giai đoạn đôi bên trai gái dò xét ướm hỏi lòng nhau:

Hôm nay tứ hải giao tình,

Tuy trong bốn bể như sinh một nhà.

Số anh phải lấy vợ xa,

Số em không lấy chồng nhà được đâu.

Đã trót yêu nhau lấy nhau cho được,

Bõ lòng này rày ước mai ao?

Trên đây là một câu hát giọng Sổng. Lúc hát lên có những khúc đệm i á, ý a hoặc những tiếng được láy đi láy lại để câu hát ăn với âm thanh và âm thanh ăn với giọng hát.

Những câu hát giọng Sổng, có thể dùng cho bên nam hay bên nữ cũng được, chỉ cần lúc hát lên đổi một vài chữ trong câu hát cho hợp với người hát.

Giọng Vặt: Sau khi đôi bên dạo giọng bằng một vài câu hát Sổng là những câu hát giọng Vặt để đôi bên gắn bó. Nếu giọng Sổng chỉ có một giọng thì giọng Vặt lại gồm rất nhiều giọng, giọng cao, giọng thấp, giọng dài, giọng ngắn, giọng buồn, giọng vui. Gọi là giọng Vặt vì những giọng hát này như vụn vặt, không đồng nhất như giọng Sổng. Có khi giọng hát bắt chước tiếng đàn với những lời đệm tình tang tang tính, có khi giọng hát bắt chước tiếng chim nghe êm ái trẻ trung, có khi lại bắt chước tiếng giun dế nghe buồn rầu ảo não.

Những câu hát giọng Vặt thường có hai câu đi đôi để đối nhau, bên nọ

hát lên bên kia đáp lại, dù bên hát trước là nam hay nữ. Cũng như những câu hát giọng Sổng, mỗi câu hát đều có thể dùng được cả cho đôi bên nam nữ, chỉ cần thay đổi một đôi chữ cho hợp với người hát.

Dưới đây là mấy câu hát giọng Vặt đối nhau:

Ngồi tựa vườn đào,

Thấy người thục nữ ra vào lòng những vấn vương.

Gió lạnh đêm trường,

Nửa chăn để đó, nửa giường để đó chờ ai.

So chữ sắc tài,

Có công gắn bó ai người phụ nghĩa quên công.

Nên chăng đấy vợ đây chồng.

Ngồi tựa vườn đào,

Thấy người bạn ngọc ra vào lòng những vẩn vơ.

Tháng đợi năm chờ,

Yêu nhau chớ để hững hờ với khách tài hoa.

Khấn nguyện trăng già,

Duyên tơ xe lại một nhà đầm ấm yên vui.

Nguyệt lặn sao dời,

Bõ công gắn bó, bõ lời gắn bó giao loan.

Nên chăng tình Tấn duyên Tần.

Hai câu hát Vặt trên là hai câu hát bao giờ cũng được trai gái quan họ hát tới, có đôi khi thay đổi một vài khúc. Cũng có khi thay vì câu hát tả tình trên, trai gái quan họ, cũng theo giọng hai câu trên, hát với nhau những câu tả cảnh:

Ngồi tựa mạn thuyền,

Trăng in mặt nước càng nhìn non nước càng xinh.

Phong cảnh hữu tình,

Thơ ngâm ngoài lái, rượư bình giải trí trong khoang.

Tay lựa cung đàn,

Tiếng cao réo rắt, tiếng trầm năn nỉ thiết tha.

Tai nghe văng vẳng đường xa.

Dưới đây xin thêm hai câu hát giọng Vặt khác đối nhau:

Con chim bồ câu,

Nó liệng thấp nó lại liệng cao,

Liệng qua cửa phủ, liệng vào trong dinh

Ngọn đèn khơi ngọn tam tinh

Khơi lên cho tỏ ta nhìn mặt nhau

Nhìn người chẳng dám nhìn lâu,

Nhìn qua thấy mặt chịu sầu thiết tha!

Nào lời tôi dặn hôm qua?

Có nhớ những lời tôi dặn hôm qua

Con chim bồ câu,

Nó liệng thấp nó lại liệng cao,

Liệng qua cửa phủ liệng vào trong kho.

Ngọn đèn chịu gió phất phơ

Nào lời tôi hẹn bây giờ là đâu?

Khơi đèn nhìn mặt thêm sầu,

Khơi đèn nhìn mặt thêm đau tấc lòng!

Phụ tình ao ước chờ mong

Trách ai đã phụ tình ao ước chờ mong!

Như trên đã nói câu hát giọng Vặt rất nhiều. Có cả giọng ngâm thơ.

Những bài thơ thường do các cụ có văn học đặt sẵn cho. Xin chép ra đây

một bài làm thí dụ. Cũng như nhiều câu hát quan họ khác, bài thơ dùng để hát cũng chỉ nói đến tình yêu của trai gái: Biết chăng, chăng biết hỡi tri âm,

Vấn vít con tơ vận ruột tằm.

Khắc khoải sầu tuôn lòng tựa bể,

Bồi hồi dạ nhớ tháng như năm.

Chăn loan bên đắp bên chờ đợi,

Chiếu nguyệt nửa nằm nửa biếng thăm.

Một khúc tình thư đưa nhạn gửi,

Thấu tình chăng hỡi bạn tri âm.

Giọng Bỉ: Trai gái quan họ dạo giọng bằng giọng Sổng, gắn bó với nhau bằng giọng Vặt, và để chia tay nhau họ dùng giọng Bỉ, có người gọi là giọng Vỉ.

Giọng Bỉ ngân dài, nói lên được sự chua xót của phân ly, sự luyến tiếc của ngày mau tàn.

Thường những câu hát giọng Bỉ, cũng như phần lớn các câu hát khác của quan họ, đều là những câu lục bát, hoặc song thất lục bát. Có câu lấy ở

Kiều ra, có câu là những câu ca dao rất phổ biến.

Bây giờ giáp mặt đinh ninh,

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?

Hay là người đã nghe ai,

Thả chông đường nghĩa ráp gai nối tình?

Nội dung câu hát thường là lời căn dặn nhau, bảo nhau giữ lấy những lời hẹn ước đừng vì khuất mặt xa lời mà quên nhau.

Tuy ba giọng hát là ba thời kỳ của buổi hát: gặp gỡ, gắn bó và giã từ, nhưng nhiều khi hát sang giọng Bỉ rồi, có những đám quan họ lại trở lại hát giọng Vặt như cố níu lấy sự lưu luyến của trai gái đang tuổi yêu đương. Giọng Vặt một đôi câu, rồi vì ngày hội đã tàn, đêm đã xuống, họ

lại chuyển sang giọng Bỉ để từ biệt và hẹn hò nhau đến một đám hội khác trong vùng và một ngày mai sắp tới.

Năm giọng trên

Thường gặp nhau trong ngày hội trai gái quan họ chỉ bắt qua ba giọng Sổng, Vặt và Bỉ, nhưng ngoài ba giọng phổ thông trên, quan họ còn có năm giọng nữa, là năm giọng Trên. Năm giọng này khó hát vì tiếng hát phải xuất phát từ bề sâu trong cuống họng. Năm giọng Trên này chỉ dùng tới khi hát giải. Năm giọng này mang những tên rất lạ: 1. Lên núi: Giọng hát khi hát lên, người nghe có cảm giác như thấy một đoàn người reo hò cùng nhau leo núi. Câu hát lối thứ tự. Rất tiếc kẻ viết bài này lâu ngày không còn nhớ được câu nào.

2. Đường bạn: Giọng gắn bó keo sơn với những lời hát rất tình tứ.

3. Xuống sông: Cũng như giọng lên núi, khi hát lên người nghe có cảm giác như một đoàn người đang bước xuống kín nước ở dòng sông.

4. Hừ la: Tên thật kỳ khôi với những bài hát giọng kéo dài đặc biệt.

5. Tình tang: Cũng như giọng hừ la, lúc hát câu hát được đệm bằng những tiếng tình tang.

Năm giọng trên của quan họ chỉ người lão luyện mới hát nổi, vừa tốn hơi tốn sức, lại phải diễn tả cho đúng điệu của mỗi giọng.

Nguồn gốc tục hát quan họ

Như trên đã nói, theo tương truyền thì tục hát quan họ do Hiếu Trung Hầu đặt ra để mua vui lúc tuổi già. Vốn là một hoạn quan, không có con cái, hầu đã phó thác sự cúng giỗ của mình sau khi nhắm mắt cho dân chúng tổng Nội Duệ, nhưng trong tuổi già sống không con trơ trọi, ngày tháng nặng nề hầu tìm cái vui trống cái vui của đàn trẻ trong thôn xã, trong hàng tổng.

Dựa theo lối hát ví của vùng Kinh Bắc tức là tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), Hầu đặt ra lối hát quan họ này để cho trai gái hát với nhau trong những buổi gặp gỡ. Hầu dùng lối hát quan họ thay cho hát ví, hát ví bao giờ

cũng chỉ có một giọng đều đều, kém linh động, kém tình tiết, kém cả

nồng nàn trong lối diễn tả. Vốn đã được hầu hạ nhà vua trong cung cấm, Hầu căn cứ vào những điệu nhạc khi vui khi buồn khi đầm ấm khi dằn dỗi để đặt ra những giọng hát quan họ, diễn tả cho đúng tình cảm từ lúc trai gái mới gặp nhau, qua thời kỳ gắn bó cho tới khi từ giã tượng trưng bởi ba giọng chính: Sổng, Vặt và Bỉ:

Lúc mới sơ khởi, Hầu có ban nhạc hòa theo các giọng hát, nhưng về sau trong thôn quê, không phải lúc nào cũng sẵn nhạc, nên dân chúng gặp gỡ

nhau là hát theo những điệu giọng Hầu đã đặt ra. Thay vì nhạc, họ hát giọng đôi để tránh sự trơ trẽn của đơn ca, để người có giọng ấm có thể

dìu dắt người còn non giọng. Hát quan họ lúc đầu chỉ có tại mấy xã thuộc tổng Nội Duệ như Lũng Giang, Lũng Sơn v.v... nhưng dần dần dân chúng vùng lân cận thấy hay đều cùng nhau tập hát. Cho tới thời tiền chiến, tục hát quan họ này lan suốt nhiều xã thuộc hai huyện Tiên Du và Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh, và còn lan tràn sang một số các xã tỉnh Bắc Giang ở bên kia sông Cầu như Mật Ninh, Nội Ninh...

Múa quan họ

Chính ra, trai gái quan họ có thể hát với nhau quanh năm bất cứ lúc nào, nhưng đời sống nông dân, bận lam lũ làm ăn, nên quanh năm nếu có hát quan họ cũng chỉ có hát lẻ tẻ mà hát như vậy, lối hát ví thích hợp với đồng quê hơn. Bởi vậy, quan họ chỉ được hát trong những dịp lễ bái quan trọng, hoặc những dịp khao cưới ở các tư gia.

Mùa xuân là mùa hội hè lễ bái, dân quê nhân vụ chiêm vừa cấy xong, vụ

gặt chưa tới, làng làng đua nhau mở hội và nam nữ thanh niên họp nhau thành từng bọn rủ nhau đi hội để hát quan họ. Mùa quan họ tới với mùa xuân tưng bừng, tới với lòng hân hoan của những chàng trai quê cũng như những cô thôn nữ nụ cười nhí nhảnh, yếm thắm thắt lưng điều.

Bắt đầu ngay từ mồng 4 tháng Giêng âm lịch, sau ba ngày lễ Tết mừng xuân, làng Hữu Chấp, tục gọi là làng Chắp ở huyện Vô Giàng đã mở hội, và các trai gái quan họ từ các làng khác đã cùng nhau kéo tới đây để gặp gỡ và hát với nhau.

Họ tới hội vào lúc quá trưa, và họ hát cùng nhau cho tới tan hội. Trên đường đê làng Chắp ven sông Cầu, lúc trở về họ vẫn tiếp tục hát, nam xướng nữ đối cho tới khi về tới làng họ. Có nhiều trường hợp, họ còn mời nhau về làng hát đêm và sự mời mọc hát đêm, có khi bạn trai mời bạn gái, có khi bạn gái mời bạn trai, đã được phụ huynh, theo tục lệ chấp nhận.

Nếu không mời nhau hát đêm, lúc chia tay nhau họ cũng hẹn hò nhau để

ngày hôm sau lại gặp nhau, ở hội Ó, tức là hội làng Dương Ổ. Hội làng Dương Ổ tan, mồng 6 họ đến hội làng Khả Lễ và ngày mồng 7 họ kéo nhau tới hát ở hội làng Đống Cao, mồng 8, họ đi hội Trọi tức là làng Trà Xuyên, mồng 9, họ kéo nhau tới hội Chùa Cao làng Thị Cầu, ngày 11 và ngày 12 hội làng Xuân Ái. Ngày 13 tháng Giêng họ đi hội Lim, ngày 14, 15 họ đắt nhau đi các hội khác và cứ như thế cho tới hết tháng Xuân, thỉnh thoảng mới có ngày họ nghỉ vì không có hội.

Ngày 18 tháng Giêng, hội làng Thanh Sơn.

Ngày 20 tháng Giêng, hội chùa Điều, làng Thị Cầu.

Ba ngày 21, 22, 23 là hội ở làng Diêm Xá, tục gọi là làng Diêm.

Ngày 28 tháng Giêng, hội ở Đào Thôn.

Ngày mồng 2 tháng Hai, hội ở Linh Quang.

Và còn nhiều hội lắm, suốt tháng Giêng, tháng Hai là những tháng hội hè và cho tới tháng Ba, hội hè còn lác đác. Rất tiếc lâu ngày, kẻ viết bài này không nhớ hết.

Mùa xuân là mùa của hội hè. Mùa hội hè là mùa quan họ.

Tại sao lại gọi là hát quan họ

Tại sao giọng hát này lại gọi là quan họ? Về điềm này, trước đây đã nhiều người giải thích. Mọi người đều cho rằng vì sự kính trọng bọn người cùng hát với mình nên dùng tiếng quan để xưng hô, còn họ tức là ý nói một bọn đông. Quan họ là một bọn nhiều người được sự tôn trọng của những người khác. Hát quan họ tức là lối hát của những người này.

Tôi đã được dịp hỏi người dân Lũng Giang, các cụ già nơi đây đã trả lời:

''Ta gọi nó là hát quan họ thì là hát quan họ. Chính tôi ở nơi đây cũng không hiểu tại sao lại có danh từ này. Theo các cụ tôi truyền lại thì đầu tiên những người hát là thân nhân họ hàng quan Hầu được Ngài dạy cho trước. Quan họ là những người có họ hàng với quan Hầu, và hát quan họ

là lối hát của quan Hầu tập cho những người này đầu tiên.''

Lời giải thích xét ra rất có lý, vì lúc đầu truyền giọng hát mới, Hiếu Trung Hầu tất nhiên phải truyền cho con cháu trước, rồi sau mới do con cháu truyền cho người khác.

Kẻ viết bài này vốn người làng Thị Cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), lúc nhỏ đã có dịp đi theo chúng bạn để dự vào những buổi hát quan họ, và ở tại làng Thị Cầu, mỗi mùa xuân có hai hội chùa Cao và chùa Điều vào ngày 9 và 20 tháng Giêng thường có trai gái quan họ các nơi tới hát, nhưng cũng không hiểu tại sao lại gọi là hát quan họ. Bởi vậy nghĩ rằng đưa ra một giải thích này cũng không bằng tạm chấp nhận lời giải thích của các cụ làng Lũng Sơn, nơi có đồi lim và có thể là quê tổ

của tục hát quan họ[1].

Một bọn quan họ

Trai gái quan họ, đi hội, họ họp nhau thành từng bọn quan họ gồm ít nhất năm người, do một người dẫn đầu, lo việc mời mọc bạn hát, hoặc quyết định những điều liên quan tới cả bọn. Người này bọn quan họ tôn là anh Hai hoặc chị Hai.

Sau đó là các anh chị Ba, Tư, Năm và Sáu...

Nếu quan họ có sáu người, thì ngoài anh Tư hoặc chị Tư còn có anh chị

Bốn. Không có anh Cả hoặc chị Cả như hát ví.

Một bọn quan họ bao giờ cũng gồm toàn những người cùng một làng, để

còn đối đáp hát với trai gái làng khác. Trai gái trong làng không cùng hát với nhau ở hội.

Họ có thể hát tập, hát chơi với nhau trong làng, nhưng đã đến hội, bao giờ họ cũng tìm những bọn quan họ thiên hạ để mời hát, như vậy vừa được dịp tỏ tài năng nêu danh tiếng cho làng mình, vừa được hát thẳng cánh không nể nang gì, với những câu giọng vặt khó và lạ để cho bọn cùng hát với mình không đối được, tăng thêm giá trị cho bọn mình.

Tại các hội xuân, trai gái quan họ, trông thấy những bọn quan họ ở làng nào là họ nhận ra ngay. Một bọn đều có một đặc điểm riêng, khi đứng với nhau cũng như khi hát với các bọn bạn.

Cho đến trước năm 1945, những bọn quan họ được nhiều các bạn làng khác chú ý thường là các bọn sau đây:

Quan họ nữ làng Đào Thôn huyện Võ Giàng vừa đẹp vừa trắng, giọng nhẹ và êm, lúc hát thường gượng nhẹ với các bạn hát nếu bạn hát tỏ ra không đối nổi các câu hát của bọn mình.

Quan họ nữ làng Xuân Ái huyện Võ Giàng, người gọn gàng sắc sảo với nhiều câu hát lạ cùng những giọng mới và khó tập. Trong những cuộc hát có giải thưởng luôn luôn chiếm giải.

Quan họ nam làng Thị Cầu quần áo chải chuốt ăn mặc lịch sự với nhiều câu hát tình cảm. Lúc mời mọc bạn hát tỏ ra rất lịch thiệp. Đặc biệt tại làng Thị Cầu không có quan họ nữ như các làng khác. Quan họ nam làng Thị Cầu đã từng có dịp thắng quan họ nữ làng Xuân Ái trong một cuộc hát giải.