Làng Xóm Việt NamPartie 21

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Lược dịch: Vào cửa toàn khách kinh luân Ngồi chơi toàn người cẩm tú.

chơi xuân, tiếp khách nhưng người dân quê bao giờ cũng nhớ

đến tiên tổ, lo điều nhân đức, cũng như nghĩ đến cháu con, làm điều tốt đẹp. các cụ xưa sợ con cháu quên những điểm này, nên có để lại đôi câu đối sau đây ta thường bắt gặp tại những gia đình đạo đức miền quê:

Niệm tiên tổ, duật tu quyết đức,

Khải hậu nhân, trường phát kỳ tường.

Diện hình và Tổ chức

Lược dịch:

Nhớ tiên tổ, đẹp điều nhân đức,

Tin cháu con, bền sự lạ hay.

cùng với ý nghĩa trên liên quan tới việc lo điều nhân đức, nhiều nhà treo những đôi câu đối sau:

Thảo ốc an cư, tích kim quang đắc đức, Bố y tùy phận cầu phúc đức lai tài.

Lược dịch:

Nhà cỏ ở yên, tích kim quang, được đức, áo vải an thân, cầu phúc đức, đến tài.

Với đôi câu đối trên ta thấy dân ta luôn luôn chú trọng tới phúc đức, ở nhà cỏ, mặc áo vải, muốn có tài phải cần có phúc đức.

Thiên địa vô tư, tích thiện tự nhiên thiện, Thánh hiền hữu giáo, tu thân khả dĩ vinh.

Lược dịch:

Trời đất vô tư, làm điều thiện tự nhiên được thiện Thánh hiền có dạy, lo tu thân có thể được vinh.

cầu phúc đức phải lo làm điều thiện, và làm điều thiện lại gặp điều thiện, cũng như muốn được vinh hiển thì phải tu thân.

người dân quê Việt nam, trong khuôn khổ đạo đức luôn luôn lo tu thân tích thiện.

Treo đôi câu đối trên trong nhà, cha mẹ muốn răn dạy con làm điều lành và cần phải sửa mình luôn luôn.

Và những người biết tích thiện tu thân tự nhiên sẽ gặp những điều tốt đẹp. Với năm mới sẽ được hưởng sự bình an hạnh phúc và với ngày xuân, điều vinh hoa phú quý sẽ lại. những điều may mắn trên, bình an và phú quý ai không mong mỏi, và cầu chúc cho nhau. Bởi vậy, tại nhiều nhà thường treo đôi câu đối: Tân niên hạnh phúc bình an tiến,

Xuân nhật vinh hoa phú quý lai.

Lược dịch:

Năm mới, hạnh phúc bình an đến,

Ngày xuân, vinh hoa phú quý về.

người dân quê cho rằng nếu họ được hạnh phúc bình an và vinh hoa phú quý đó là do Trời Đất thương mà ban cho. người ta không quên Trời Đất, và dưới đây là một câu đối nhắc đến sự rộng lượng của Đất, Trời:

Địa sinh tài, thế nghiệp quang huy, Thiên tứ phúc, gia thanh hiện tái.

Lược dịch: Đất sinh tài, nghiệp đời xán lạn, Trời ban phúc, nhà tiếng tốt tươi.

Khi đã được Đất, Trời ban tài cho phúc, sự phú quý vinh hoa sẽ gia tăng với phúc đức:

Phúc mãn đường, niên tăng phú quý,

Đức lưu quang, nhật tiến vinh hoa.

Lược dịch: Phúc đầy nhà, năm thêm giàu có.

Đức ngập tràn, ngày một vinh hoa.

ngoài những đôi câu nhắc nhở đến đạo đức như trên, có những đôi câu đối đề cập tới những cảnh trước nhà với những cây mai cây trúc báo điềm tài lợi lộc quyền là điều người ta hằng mong đợi:

Trúc bảo bình an, tài lợi tiến,

Mai khai phú quý, lộc quyền lai.

Lược dịch: Trúc giữ bình yên, thêm tài lợi, Mai khai phú quý, lại lộc quyền.

Trúc với mai là hai cây cảnh thường được trồng trước cửa nhà. Với xuân sang lá trúc xanh tươi, hoa mai trắng toát điểm trang cho vườn cảnh trước nhà, và với lá trúc xanh, hoa mai nở, người dân quê tin rằng năm mới sẽ thêm tài lợi và lộc quyền.

Đại để những đôi câu đối xuân thường luôn luôn mang ý 354

Diện hình và Tổ chức

nghĩa tốt đẹp, và đôi khi nhắc nhở con người ta đến điều đạo đức. Trên đây chỉ là một số những đôi câu đối được đan cử ra trong hàng trăm nghìn câu đối cổ khác.

ngoài ra, đôi khi vào một gia đình tổ tiên trước đây đã có một sự nghiệp, ta có thể được đọc một đôi câu đối trong đó con cháu đã khéo léo ghi lại sự nghiệp của ông cha và ý muốn noi theo nghiệp nhà:

Tiên tổ phương danh lưu quốc sử,

Tử tôn tích học hiển gia phong.

Lược dịch:

Tiên tổ danh thơm ghi sử nước,

Cháu con tích học nổi cơ nhà.

câu đối thường treo ở hai bên bàn thờ gia tiên, nhưng nếu trong nhà có thờ các vị Thần, phật, mỗi bàn thờ đều có câu đối riêng. Dưới đây là một đôi câu đối treo ở bàn thờ phật: liên tọa đài tiền hoa hữu thực,

Bồ đề thụ thượng quả thanh nhàn.

Lược dịch:

Tòa sen đài trước hoa đầy đủ,

Cổ thụ bồ đề quả thanh nhàn.

câu đối đỏ tăng vẻ tưng bừng cho ngày Tết và đem màu xán lạn lại trong nhà trước cảnh xuân. người dân quê đón Tết với hương hoa, bánh trái, nhưng không bao giờ họ quên câu đối đỏ.

Pháo

nếu tranh mang màu sắc cho ngày Tết, nếu câu đối đem ý đẹp cho mùa xuân, thì pháo mang cả màu sắc lẫn sự vui tươi tới cho con người trong dịp xuân sang Tết đến.

có câu đối, có tranh, thì phải có pháo. cả ba, nếu người ta muốn đón Tết một cách trang trọng với đủ cả màu sắc của dân

tộc, trong buổi thanh bình người ta không thể thiếu được một.

Thiếu một thứ, phong vị ngày Tết chưa hoàn toàn dù trong nhà đầy bánh chưng xanh, đầy thịt mỡ dưa hành, dù ngoài sân đủ

nêu cao, đủ hoa đào tươi thắm.

Bởi vậy, pháo không thể thiếu được!

Thường bắt đầu sang tháng chạp, lác đác thỉnh thoảng người ta đã được nghe tiếng pháo ở cổng làng, ở chợ làng, ở trước đình làng v.v... của một vài trẻ em ưa pháo đốt chơi.

ca dao có câu rằng:

Thừa tiền mua pháo đốt chơi,

Pháo nổ lên trời, tiền vứt xuống ao!

ca dao muốn nói sao thì nói, ngày Tết người ta cứ đốt pháo, dù biết rằng tiền mua pháo là tiền vứt xuống ao!

còn gì vui bằng tiếng pháo ngày Tết! còn gì đẹp bằng sắc pháo đỏ ngày xuân! Và còn gì hương vị bằng mùi thuốc bốc lên khi pháo nổ, nhất là gặp những ngày xuân mưa dầm gió lạnh!

Vậy thì Tết đến người ta phải đốt pháo!

pháo được đốt nhiều bắt đầu từ lúc chiều ba mươi Tết khi mọi nhà trong làng đèn hương cúng tổ tiên. Rồi tiếng pháo lác đác kéo dài cho đến nửa đêm.

Lúc này là lễ trừ tịch, tiếng pháo lại vang nổ nhiều gấp năm gấp mười lúc buổi chiều. nhà nào ít nhất cũng đốt một bánh pháo. cùng với tiếng pháo liên thanh, còn những tiếng pháo đùng nổ to, giữa tiếng lạch tạch của những tràng pháo nhỏ.

pháo đốt rộ lên một lúc, tiếng pháo lại thưa cho đến sáng.

Khi mọi người trong làng làm lễ đầu năm thì pháo lại nổ nhiều.

phải nói thêm rằng, trong đêm ba mươi Tết, trời tối đen như

mực, những tàng pháo đốt lên lòe lửa giống như những bông hoa cà hoa cải, điểm trang cho đêm tối.

ngoài những lúc cúng giao thừa, cúng các cụ, người ta còn đốt pháo để mừng nhau.

Diện hình và Tổ chức

Khách đến xông nhà, mừng nhà chủ, đốt một bánh pháo và nhà chủ để mở hàng mừng khách cũng đốt một bánh pháo.

con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ xong, đốt pháo!

Học trò đến mừng Tết thầy, đốt pháo!

Dân đến mừng Tết hương chức, đốt pháo!...

nhiều người cầu kỳ, kén pháo để đốt ngày xuân. người ta kén pháo toàn hồng để xác pháo đỏ rắc đầy sân đem vui mừng lại quanh năm. người ta lại kén pháo kêu đều, kén pháo nổ to, và kén pháo điện quang để khi đốt lên hoa lửa bắn ra.

pháo giữ một vai trò quan trọng trong ngày Tết của dân quê. Giàu nghèo gì, cũng phải có bánh pháo để mừng xuân, cũng như phải có tranh Tết để dán trên tường, đúng như lời ông Tú Xương:

Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột,

om xòm trên vách bức tranh gà.

có nhiều làng có tục thi đốt pháo như ở làng Thị cầu vào ngày mồng ba Tết. Hôm đó, một quả pháo đại thật lớn được treo trên cột cờ, rồi dân làng dùng những quả pháo nhỏ đốt ném lên để đốt quả pháo đại. Ai ném đốt được quả pháo lớn thì được thưởng.

nguyên làng này trước đây có nghề làm pháo, dân làng nhà nào cũng làm pháo, nhưng chỉ làm pháo đùng ngòi ngang, nghĩa là ngòi dùi ngang bụng pháo, không dùi dọc đầu pháo như pháo tràng. pháp này gọi là pháo nến, vì trông giống cây nến.

Để ném đốt quả pháo đại, họ tự làm lấy những pháo nến, thuốc pha riêng và giấy làm pháo là loại giấy bắt lửa. Quả

pháo nổ lên, lửa ở thuốc pháo bắt vào giấy pháo, bắn sang ngòi quả pháo đại và như vậy quả pháo đại bắt nổ. nói như vậy, nhưng dùng pháo nhỏ đốt được quả pháo đại thật khó khăn, có nhiều năm không có người nào đốt nổi, ông cai đám phải cầm hương đốt.

Tóm lại, kể từ chiều ba mươi Tết, người ta đốt pháo, và luôn trong mấy ngày Tết, tiếng pháo như điểm cho cung bực của phong vị ngày xuân. Sáng ngày mồng bốn Tết, người ta cũng đốt pháo nhiều nhân dịp cúng hóa vàng tiễn các cụ.

CàNh Đào

ngày Tết người ta còn có tục chơi cành đào, nhất là tại miền Bắc và miền Trung, về mùa xuân có hoa đào nở.

Hoa đào màu đỏ nhạt rất hợp với cảnh xuân.

người chơi hoa đào thường kén giống bích đào, là giống đào chỉ có hoa đỏ tươi mà không có quả.

Tục tin rằng hoa đào trừ được ma quỷ. Đây là do tích cũ về

hai vị thần Uất Lũy và Thần Trà:

Xưa ở dưới gốc cây đào lớn núi Độ Sóc có hai vị thần là Thần Trà và Uất Lũy cai quản đàn quỷ. Quỷ nào làm hại dân gian bị trừng phạt ngay.

ngày nay, cành đào ngày Tết tượng trưng cho hai vị thần trên.

Ma quỷ trông thấy cành đào phải tránh xa.

Dân các làng quê, Tết đến mỗi nhà cắm một cành đào ở bàn thờ, thường là thứ đào ăn quả, dân quê không cầu kỳ, như người chơi hoa đào. người ta chặt cành đào ở cây đào ngoài vườn, hoặc nếu trong vườn không có, thì người ta xin ở một nhà hàng xóm hoặc bất cứ một nhà nào ở trong làng. nhà có cây đào không bao giờ tiếc người làng, và ở đây ta lại thấy tinh thần hòa đồng tương trợ của người dân Việt nơi đồng ruộng.

cành đào chặt về, người ta đốt phía dưới rồi cắm vào bình có nước, đào sẽ tươi tốt trong mấy ngày Tết, sẽ trổ hoa và nảy lá.

cành đào cắm trên bàn thờ tăng vẻ huy hoàng của bàn thờ và chính là bảo vệ cho tổ tiên về hưởng Tết, vì ma quỷ thấy cành đào sẽ không bén mảng tới, và như vậy tổ tiên không bị quấy nhiễu trong những ngày Tết.

Diện hình và Tổ chức

Cỗ Đơm

Trong dịp Tết đến, ông bà cha mẹ còn sống con cháu thường phải biếu Tết như trên đã nói.

Đối với ông bà cha mẹ đã khuất núi, người con trưởng giữ

việc khói hương, ngày Tết phải có cỗ bàn cúng các cụ. những người con thứ phải gửi Tết từ trong năm, nhưng ngày Tết đến họ vẫn phải làm cỗ mang tới nhà trưởng để cúng ông bà cha mẹ. cỗ này gọi là cỗ đơm.

cỗ đơm làm vào ngày mồng hai Tết. Trong ngày nguyên đán con cháu chỉ đến lễ nhà gia trưởng và cỗ bàn trong ngày đầu năm này, người gia trưởng phải lo.

ngày mồng hai Tết, những người con thứ mang cỗ đơm tới nhà người gia trưởng, người gia trưởng đặt lên bàn thờ cúng tổ

tiên, rồi hết một tuần nhang, những cỗ bàn này được dọn xuống để tất cả con cháu cùng ăn.

Thường con cháu đều ở trong làng, nên ngày mồng hai Tết là dịp để đại gia đình gặp gỡ nhau, cùng nhắc lại những kỷ niệm của ông bà cha mẹ đã khuất.

những người con gái đã đi lấy chồng cũng có cỗ đơm về cúng ông bà bố mẹ, và khi lấy chồng khác xã thường ngày mồng ba các con gái mới mang cỗ đơm về cúng gia tiên nhà mình. những người đi xa vắng hoặc lấy chồng ở những nơi xa xôi, ngày Tết không về được và không có cỗ đơm để cúng gia tiên vẫn gửi đồ

lễ và tiền về nhờ người gia trưởng làm cỗ cúng cha mẹ.

Việc làm cỗ đơm ngày Tết có một ý nghĩa rất đẹp trước hết là để con cháu tỏ lòng biết ơn tổ tiên, và sau nữa là để anh chị em chú bác cô dì nhân dịp này được cùng nhau toàn gia sum họp.

Giàu nghèo, ngày Tết, tại các làng quê xưa, người ta cũng có mâm cỗ đơm để cúng ông bà cha mẹ. Mâm cỗ có thể đơn sơ

nhưng cũng đủ nói lên lòng tưởng nhớ của con cháu đối với ông bà cha mẹ đã khuất. Mâm cỗ dù không linh đình nhưng bao giờ

cũng có trầu cau rượu, vàng hương là những đồ lễ mà đã gọi là cúng bái thì không thể thiếu được.

CúNg TIễN ÔNg VảI

Trong ba ngày Tết, ngày hai lần, người ta có mâm cơm cúng các cụ, và luôn luôn trong mấy ngày này, đèn hương trên bàn thờ được đốt liên tiếp.

Đến sáng ngày mồng bốn người ta làm lễ cúng tiễn ông vải.

cũng có nhà, gặp phải ngày xấu không hợp tuổi của người gia trưởng, phải cúng tiễn các cụ trước hoặc sau một ngày.

Tất cả ở các làng quê, thường là ba ngày, và nhà nào cũng cúng các cụ trong ba ngày, không như ở tỉnh, nhất là ở Sài Gòn ngày nay, có nhà chỉ cúng tổ tiên một hai ngày là đã có lễ cúng tiễn.

hóA VàNg

Sau lễ cúng tiễn ông vải là hóa vàng.

Bao nhiêu vàng mã đã cúng trong ngày Tết, do người gia trưởng mua hay do các ngành thứ đem gửi Tết đều được đem đốt sau tuần cúng tiễn các cụ.

Khi vàng đốt gần hết người ta đổ vào đống tro vàng một chén rượu cúng. Tục tin rằng có như vậy ở dưới cõi âm, các cụ mới nhận được vàng và vàng mã mới biến thành vàng tiêu được.

Rồi người ta đem hai cây mía đã mua trong năm và đã dựng ở hai bên bàn thờ gia tiên để thờ trong ba ngày Tết, ra hơ trên những đống tàn vàng còn đang đỏ ối.

Hai cây mía đó, người ta bảo là gậy các cụ. các cụ sẽ dùng hai cây mía này để gánh vàng về cõi âm, và cũng dùng làm khí giới chống lại bọn quỷ sứ muốn ăn cướp vàng.

Diện hình và Tổ chức

Lễ hóa vàng chấm dứt ngày Tết tại các gia đình. Do đó sáng ngày mồng bốn, các con cháu thường tề tựu tại nhà gia trưởng để cùng nhau ăn uống kết thúc ngày Tết.

Sau bữa cơm Tết này, những con cháu làm ăn nơi xa, lại ai đi phương nấy.

Trong lễ hóa vàng đúng ra là trong lễ tiễn các cụ cũng có đốt pháo.

viếNg mộ Đầu xuâN

Tại nhiều làng, người ta không đi thăm mộ trước Tết, người ta đợi đầu xuân, sau khi hóa vàng tiền các cụ mới cùng nhau đi viếng mộ đầu xuân.

Làng Thị cầu, tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) có tục đi viếng mộ vào ngày mồng bốn tháng Giêng, và nhân dịp này, người ta tảo mộ.

Sáng hôm đó, mọi nhà trong làng đều làm lễ gia tiên từ tinh mơ. Sau cuộc lễ, có đốt pháo, hóa vàng rồi nhà nhà đều rủ nhau đi thăm mộ.

phần đông gia đình, già trẻ lớn bé đều đi viếng mộ hết. Gia đình nào cũng mang theo hương để cắm lên mộ, vàng để đốt tại mộ, và nhất là mang theo cuốc xẻng để đắp lại các nấm mộ

cho cao, vun lại các nấm cho đẹp, đánh nhổ đi hết các khóm cây dại mọc lẫn vào mô.

Ở nghĩa địa, chân núi Thiềm Sơn, đủ nam phụ lão ấu với áo màu sặc sỡ của ngày xuân.

có nhiều người lại đốt cả pháo, như muốn xua đuổi cái lạnh lẽo của nơi mộ địa bằng pháo và cũng như muốn để cho hương hồn người khuất được chia vui thêm với người sống nhân dịp xuân về.

Thăm mộ là một tục rất đẹp và rất có ý nghĩa. Tục này còn, gia đình còn và con người sẽ không bao giờ mất gốc.

ĐộNg thổ

Với buổi cúng tiễn các cụ, Tết như đã hết tại các gia đình nhưng Tết làng chưa hết, và dân làng, tuy hết Tết, nhưng vẫn chưa bắt đầu làm việc được, nhất là công việc nhà nông phải động chạm tới ruộng đất.

người ta phải chờ làng làm lễ Động Thổ.

Động thổ nghĩa là động đến đất, và lễ động thổ là lễ động đến đất. Và trong khi động đến đất phải có lễ cúng Thổ thần để

trình xin bắt đầu động đến đất cho một năm mới.

Hàng năm, thường sau ngày mồng ba Tết, tại các làng có làm lễ động thổ để cho dân làng có thể bắt đầu bới cuốc xới.

chính ra thì ngày lễ động thổ không nhất định là ngày nào, nhưng để tiện giúp dân chúng làm ăn, các làng thường cử hành lễ này sau ba ngày Tết.

các bậc ký lão và quan viên được cử làm chủ tế và bồi tế. Lễ

vật gồm có hương đăng, trầu rượu, y phục và kim ngân đồ mã.

Trong buổi lễ Thần Đất, ông chủ tế với nguyên áo thụng xanh cuốc mấy nhát xuống đất để lấy một cục đất đặt lên bàn thờ, tường trình với Thổ thần xin cho dân làng được động thổ.

Sau buổi lễ động thổ này, dân làng mới được động tới đất. Ai cuốc tới đất trước lễ động thổ bị dân làng bắt vạ.

Trong ba ngày Tết nếu không may có ai qua đời, tang gia không được chôn ngay, phải chờ làng làm lễ động thổ xong mới được đào huyện làm ma.

lễ khai hạ

Tết tuy hết từ ngày mồng bốn, nhưng có thể nói là người ta vẫn còn nghỉ Tết, vì chưa ai bắt đầu làm việc. Mọi việc nông tang và buôn bán còn đình lại, chờ đến lễ khai hạ xong.

Diện hình và Tổ chức

Lễ khai hạ còn gọi là lễ hạ nêu, nghĩa là hạ cây nêu xuống.

cây nêu trồng trong năm khi sửa soạn đón Tết, được giữ cho đến ngày mồng bảy tháng giêng, mới được hạ xuống sau một cuộc cúng lễ trời đất, ở ngoài sân. Đồng thời người ta cũng cúng gia tiên, cúng Thổ công và cúng Thần tài.

Tại đình làng, dân làng cũng làm lễ Khai hạ để sau đó mọi người trong làng bắt đầu làm việc.

Kể từ ngày mồng tám, mọi công việc trong làng dần dần trở

lại, tuy người ta vẫn tiếp tục chơi xuân đúng với câu ca dao.

Tháng giêng là tháng ăn chơi.

vì vào đầu xuân, thực ra công việc đồng áng đã vợi.

Cờ bạC

nói đến Tết của dân quê Việt nam không thể bỏ qua cờ bạc ngày xuân.

người dân quê quanh năm vất vả, Tết là dịp nghỉ ngơi và mùa xuân là mùa nhàn nhã nên trong lúc nghỉ ngơi nhàn nhã này người ta hay tìm những thú tiêu khiển.

Trong những thú tiêu khiển của dân làng quê phải kể đến cờ

bạc. người dân quê Việt nam cũng như bất cứ người dân quê nơi nào khác, tuy không có máu mê cờ bạc, nhưng gặp cờ bạc thì cũng đánh chơi giải trí.

Gọi là giải trí, vì thực ra trong những môn cờ bạc ngày xuân, rất ít môn có tính cách bóc lột.

Gặp nhau, người ta hỏi thăm nhau đã khai xuân chưa, tức là đã chơi canh bạc nào chưa. người ta khai xuân để bói xem sự

may rủi quanh năm qua canh bạc đầu xuân. canh bạc đầu xuân mà may mắn được, người ta tin rằng năm đó sẽ làm ăn dễ dàng và sẽ gặp những điều may. Thua bạc ở canh khai xuân này, năm đó sẽ là một năm không mấy tốt đẹp.

cờ bạc đầu xuân có loại có tính cách gia đình như tứ sắc, tam cúc, tổ tôm, đánh bất, và có loại ăn thua lẫn nhau như sóc đĩa, đánh chắn, thò lò, súc sắc.

các nhân viên trong ban kỳ mục tuy quanh năm không cho phép dân làng đánh bạc, nhưng Tết nhất, chơi xuân, các ông cũng tỏ ra dễ dãi, không cấm đoán, nhất là những cuộc giải trí trong nhà giữa gia đình và bạn bè. Về các canh bạc đầu năm, các ông có ra lệnh cấm đoán, nhưng lệnh ra chỉ để mà ra, thường ngày Tết các ông cũng không khe khắt, mặc cho dân làng vui xuân trong mấy ngày đầu năm. có khi tuy các ông ra lệnh cấm, nhưng chính các ông cũng tổ chức một vài canh để mua vui và để thử thời vận với nhau.

cờ bạc lẽ tất nhiên bị quan trên cấm đoán, nhưng lệnh quan là phép vua, và vui xuân là lệ làng. Ở đây tôi không nói đến những hạng cường hào ác bá, nhân dịp xuân tổ chức đánh bạc để lấy hồ, và tôi chỉ xin nhấn mạnh đến hai chữ vui xuân. có nhiều canh bạc vui xuân rất lớn, nhưng những con bạc này, sau một hai canh vui xuân, lại ai làm việc nấy, không tiếp tục cờ

bạc quanh năm như bọn cờ bạc nhà nghề.

NhữNg tụC lệ ĐặC biệt về tết

tại một vài làNg quê

Từ trên nói về Tết làng, chỉ nói những điều chung cho tất cả

mọi làng, nhưng nhiều làng có những tục lệ đặc biệt về Tết, nhân đây cũng xin nhắc sơ qua để bạn đọc cùng biết.

lễ TRìNh Nghề

các làng Đồng Vệ và Bích Đại, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh phú), có tục lễ trình nghề vào các ngày mồng bốn và mồng năm tháng giêng.

Diện hình và Tổ chức

Theo lệ các làng này, vào các ngày trên, mỗi nhà nông trong làng, ngoại trừ những người có tang được miễn, phải làm một con trâu giả bằng rơm đem ra sân đình làng để làm lễ. Trâu giả

được buộc vào một cái cày có lưỡi bằng gỗ, rồi một người đàn ông kéo trâu đi quanh sân đình, một người đàn ông khác cầm cày đi theo; trong lúc đó một thiếu nữ dưới 17 tuổi bưng một thúng trấu theo sau rắc vãi, giả làm thóc giống.

Lại có hai người đàn ông cải trang làm đàn bà và hai người cải trang làm con trai đi theo.

Lễ trình nghề để dân làng trình với đức Thành hoàng nghề

nghiệp canh nông của mình cầu xin ngài phù hộ cho mưa thuận gió hòa, gặt hái được nhiều lúa.

Trong buổi lễ này, cả làng đều có mặt tại sân đình.

Chợ ThịT heo Ngày TếT

Làng Mỹ Lợi thuộc quận Vĩnh Lộc tỉnh Thừa Thiên có tục bán thịt heo ngày Tết.

Trong những ngày sửa soạn Tết, dân làng này cho làm những chòi cao, vào khoảng ba mươi chiếc ở nơi đất trống đầu chợ.

những chòi cao này chính là những quán bán thịt heo Tết vào các ngày 29 và 30 cuối năm.

Trong những ngày này bao nhiêu heo lớn trong làng đều được đem mổ thịt để bán cho dân làng dùng trong dịp Tết, và ở mỗi chòi là nơi bày bán một con heo khổng lồ.

Dân làng, sắm Tết đều dành đến ngày phiên chợ thịt heo đặc biệt này mới mua thịt để gói bánh, làm cỗ Tết. phiên chợ rất vui và rất náo nhiệt. Gia đình nào cũng có người có mặt tại phiên chợ, vì nhà nào Tết mà không cần đến thịt heo.

cả dân chúng một vài xã lân cận, biết lệ làng Mỹ Lợi cũng kéo nhau đến đây sắm thịt heo ăn Tết.

Rồi Tết đến, xuân sang. những cái chòi dùng để bán thịt heo

phiên chợ Tết, trong buổi đầu xuân sẽ biến thành những chòi để dân làng đánh bài chòi. Đây là một thứ cờ bạc đầu xuân, và những người đánh bài, mỗi người ngồi trên một chiếc chòi, một chòi trung ương và các chòi chung quanh. Lối đánh bài chòi tựa tựa như tổ tôm điếm và bắt nguồn từ tỉnh Bình Định. Bài chòi có tính cách mua vui và giải trí nhiều hơn là sát phạt, và người ta cũng chỉ chơi vào dịp đầu xuân.

Chợ TếT Xã VĩNh Mỹ

Vĩnh Mỹ cũng là một xã thuộc quận Vĩnh Lộc tỉnh Thừa Thiên.

Xã này có tục họp chợ vào các ngày mồng một và mồng hai Tết, nhưng đặc biệt chợ lại không họp ngay ở địa điểm chợ mà lại họp ở một cồn cát trắng cách đó vào khoảng 1.500 thước, và mang tên là chợ Cồn.

Dân làng đi chợ cồn để mua bán thì ít, nhưng để vui xuân thì nhiều. Trong phiên chợ này, những người buôn bán mang hàng tới bán không cầu mong bán đắt hàng, mà chỉ vì lệ làng.

người ta tin rằng người buôn bán trong làng có đi bán hàng tại chợ cồn đầu năm thì quanh năm mới buôn may bán đắt.

Gọi là đi chợ để vui xuân, vì nhân dịp này những cặp trai gái trong làng hò hẹn gặp gỡ nhau và nhiều người đi chợ, chỉ mua bán tượng trưng.

Về điểm tại sao phiên chợ đầu xuân không họp ở vị trí chợ

làng, lại đi họp ở cồn cát thì được các cụ giải thích: chợ của xã Vĩnh Mỹ, trong những đêm mồng một, mồng hai Tết có người âm về họp chợ, và do đó đêm khuya, người ta từng nghe tiếng ồn ào của một phiên chợ mà không thấy người.

Vì trong hai ngày này, người âm họp chợ nên trần gian phải trả

chợ cho họ mà kéo nhau tới họp ở chợ cồn.

Lời giải thích như vậy, ai muốn tin thì tin, ai không tin cũng không sao, nhưng có điều hiển nhiên là dân xã Vĩnh Mỹ, trong 366

Diện hình và Tổ chức

mấy ngày Tết, họp chợ để vui xuân, người ta vẫn họp ở cồn cát mà không họp ở chợ làng. Đây là một tục lệ, đã gọi là tục lệ

thì đố ai làm trái được!

Mấy TụC TếT CủA làNg yêN Đổ

Làng Yên Đổ, quê của cụ Tam nguyên nguyễn Khuyến, thuộc huyện Bình Lục tỉnh Hà nam (Hà nam ninh), ở cách nam Định về phía Bắc chừng 15, 16 cây số, là một làng văn vật, và đã sản xuất ra nhiều tay văn học. Xưa kia với dịp Tết đến Xuân về, làng này có nhiều tục lệ đặc biệt. những tục lệ

này đã được ông nhuệ Giang, ghi trong tập Yên Đổ tùng biên xuất bản tại Sài Gòn năm 1967, mà chúng tôi xin trích nguyên văn dưới đây để bạn đọc cùng rõ.

“TụC họP Chợ ĐồNg làNg yêN Đổ”

“...

Tục truyền ngày 25 tháng chạp, nhân dân làng Yên Đổ muốn kỷ niệm công đức của tiền nhân có một phiên chợ Đồng vào cuối năm ngay tại cánh đồng làng Yên Đổ.

Hầu hết các dân cư lân cận đều đến dự họp rất đông.

Mỗi năm trước ngày 24 tháng chạp, các hàng quán đã được dựng lên san sát trên các cánh đồng khô ráo, rồi đến sáng tờ mờ

ngày 24, các vị thân hào, các nhà buôn bán, trẻ con, người lớn, thanh niên phụ nữ trong khắp các vùng lân cận đã tề tựu rất đông.

Sự gặp gỡ của mọi người đã được phô diễn trong cảnh tưng bừng náo nhiệt, trong buổi tất niên cùng nhau trao đổi những lời chúc tụng vào dịp tân xuân sắp tới”.

ThI Thơ Và NếM Rượu TạI TườNg ĐềN

“Buổi sớm hôm đó là một cuộc thi văn thơ đã được các vị bô lão trong làng tổ chức ngay tại ngôi đình cạnh chợ. các nhà văn sĩ, văn hào các nơi đều đến tập họp tại nơi Tường Đền để dự cuộc thi.

các vị khoa mục trong làng Yên Đổ và các làng gần đó làm giám khảo, những thí sinh nào trúng giải thưởng sẽ được hoan hô và được ban tặng phần thưởng rất hậu. Thực ra là một cuộc thi tao nhã và hào hứng với mục đích khuyến khích các bạn thư sinh cố gắng dùi mài kinh sử, tranh khôi đoạt giáp sau này.

Sau cuộc thi thơ, các vị trúng giải đều được mời nếm rượu ở

Tường Đền cùng các vị bô lão trong làng để kén rượu tốt (ngon nhất) dùng vào việc tết tự trong buổi đầu năm.

Đến sau gặp hồi tao loạn, thực dân pháp đặt cuộc đô hộ tại Việt nam, cụ Tam nguyên đã có bài thơ về cảnh chợ Đồng như

sau: (Tuy là bài thơ tả cảnh chợ Đồng giáp Tết, lời lẽ tự nhiên, nhưng ngụ ý rất khéo về thời thế mà lúc đó không thể nói rõ hơn được nữa)”.

Thơ Chợ ĐồNg

Tháng Chạp, hai mươi bốn, chợ Đồng, Năm nay chợ họp có đông không?

gió trời, mưa bụi còn hồi rét,

Nếm rượu Tường Đền được mấy ông?

hàng quán người về nghe xáo xác,

Nợ nần năm hết hỏi lung tung.

Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,

Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

“lỆ SăN CuốC TạI làNg yêN Đổ”

“Làng Yên Đổ, một xã 10 thôn, địa thế rộng, phần đông chuyên nghề canh đọc (đọc sách và làm ruộng). Ruộng nương thường bị chim quốc, lông đen mỏ trắng, đến quấy phá làm hư

hại mùa màng.

Diện hình và Tổ chức

nên năm mới, vào ngày 3 và ngày 5 tháng giêng là ngày nghỉ

Tết đầu xuân, cầy cấy đã xong, dân làng có tổ chức cuộc săn cuốc, để trừ bớt giống chim phá lúa, một cổ tục từ xưa.

Trong ngày đó, nhân dân trong làng, trừ đàn bà và trẻ em phải trông nhà, đều đi dự cuộc săn cuốc.

các vị bô lão đi giữa đám đông, còn đi đầu và đi cuối đều là những trai tráng khỏe mạnh, kẻ khua cồng, người đánh lệnh, chen lẫn những tiếng hò reo inh ỏi, làm náo động cả một vùng, khiến cho những chim cuốc lủi trong bụi rậm, phải kinh hoảng bay chạy tứ tung, tìm nơi ẩn lánh, sa vào đám đông liền bị bắt sống.

Ai bắt được chim đem nộp làng, liền được tiền thưởng do các điền chủ treo giải.

...

cuộc thi văn thơ, phiên họp chợ Đồng và lệ săn chim cuốc trên đây thực có ý nghĩa: xây dựng văn nghệ, phát triển thương mại và khuyến khích thể thao, thuần phong mỹ tục của làng Yên Đổ vậy”.

Nhuệ Giang

yên Đổ Tùng biên

Trên đây là mấy tục lệ địa phương của mấy làng đơn cử ra để giúp bạn đọc có một ý niệm sơ lược về Tết làng với những phong tục của từng làng. Mỗi làng đều có mỗi phong tục riêng, thay đổi tùy theo dân tình, tùy theo hoàn cảnh địa dư của mỗi nơi và nhất là tùy theo vị Thành hoàng được dân làng thờ phụng.

những tục lệ đặc biệt của các làng xã nhiều lắm, nhưng chúng tôi chỉ giới hạn kể ra vài bốn nơi nói trên vì phạm vi chật hẹp của chương sách.

TàI LIệU Đọc THêM

ăN tết

Ăn Tết là một cái thú.

đừng to tiếng đừng giận hờn khiến

Mặc dầu có những người

giông cả năm.