Làng Xóm Việt NamPartie 2
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
- Làng có từ khi có làng chứ còn có từ bao giờ nữa. chỉ nói lẩn thẩn!
có làng nghĩa là từ khi bắt đầu có người ở, có thể đầu tiên chỉ là một gia đình, rồi hai ba gia đình kéo nhau tới làm ăn, kiếm ăn được, trồng trọt dễ thế là người nọ rủ người kia, đông mãi hơn lên rồi thành làng. Làng thành rồi là làng có mãi, mặc những cuộc thay đổi hưng vong.
làng xã Việt Nam là một cơ cấu vững bền trải qua những cuộc biến thiên của lịch sử nước nhà. (1) Làng xã Việt nam có từ ngàn xưa, và làng Việt nam là làng Việt nam. nhiều tác giả ngoại quốc như các ông Luro, Ory, pasquier và Rouilly cho rằng cơ cấu làng xã là một cơ cấu bắt nguồn từ
Trung Quốc(2) và ý kiến này cũng đã có nhiều tác giả Việt nam chấp nhận, như Ông Trần Văn Trai trong luận án tiến sĩ văn khoa năm 1942 ở paris với nhan đề gia đình phụ hệ Việt Nam.(3) các tác giả trên đã căn cứ theo sự phân chia công điền công thổ tại nước ta, giống như phép tỉnh điền trong chu lễ của người Trung Hoa, mặc dầu sự phân chia này không hoàn toàn giống hẳn như theo chu lễ. Hơn nữa trong “lịch triều hiến Chương”
của phan Huy chú từ quyển XXIX đến XXXII và “Quốc dụng chí” cũng có nhắc tới cách phân chia công điền công thổ của người Trung Hoa.
1. La Commune annamite est une institution qui a survécu aux vicissitúde de l’Histoire de notre pays. NGUYỄN HỮU KHANG Docteur en droit. La Commune Annamite. Etudes historique, juridique et économique.
2. Luro trong Cours d’Administration Annamite, Ory trong La Commune Annamite au Tonkin, Pasquier trong l’Annnam d’Autregois và Roailly trong La Commune Annamite.
3. La Famille Patriarcale annamite.
Ý kiến trên thực ra không thể đứng vững được. nguyễn Hữu Khang trong luận án Tiến sĩ về “làng xã Việt Nam, nghiên cứu lịch sử, pháp lý và kinh tế” đã bác bỏ ý kiến trên và cho rằng
“Tất cả các nhà xã hội học đều đồng ý công nhận con người đã luôn luôn sống thành tập thể.
Ngày từ ngày xửa ngày xưa, con người, sinh vật tập thể, đã cùng với đồng loại họp nhóm, dù chỉ là do thiên tính.
Tập thể nguyên thủy, những bộ lạc đầu tiên nhất người ta đã tìm thấy, cũng những bộ lạc cổ xưa nhất, dù họ đã tụ hội trên ý tưởng quyến thuộc, liên hệ vì một ông tổ chung, có thực hoặc tưởng tượng, hay trên những đặc tính tương đồng hoặc dính dáng về sinh hoạt, hay, sau hết, chỉ bởi sự kiện đồng cư ở một nơi, đều chứng tỏ sự cần thiết thiết yếu và khởi thủy này của con người.(1) người Việt nam cũng như bất cứ dân tộc nào khác trên thế
giới, lúc đầu tiên đã cùng nhau tụ hội rồi họp thành làng. có người là có làng, và đã có làng là có sinh hoạt cá nhân cũng như tập thể.
Khi hỏi về làng tôi, như trên đã trình bày, các cụ trong làng không biết làng có từ bao giờ, và cũng không hề bao giờ các cụ
nghĩ tới lúc sơ khởi của làng mình.
cũng có đôi cụ thỉnh thoảng nói với con cháu: làng ta trước đây là đất hoang rồi các cụ tới khai phá lập nên làng. Thì cũng như các ấp sau này được lập nên.
1. Tous les sociologues s’accordent pour reconnaitre que l’homme a toujours vécu en société. Dès les temps les plus reculés, l’homme, animal social, a formé avec ses semblables des groupements, fussent ils instinctifs. La horde primitive, les groupements les plus anciens que l’on ait pu retrouver, comme les plus primitifs, qu’il ssoient fondés sur une idée de parenté. de rattachhement à un ancêtre commun, réel ou imaginai re, oou sur le caractère identique ou connexe des activités ou, enfin, sur le pur fait de l’habitat en un même lieu, démontrent ce besoin essentiel et originaire de l’homme).
Diện hình và Tổ chức
những điều trên chứng tỏ rằng làng Việt nam, làng tôi cũng như bất cứ làng nào khác, không phải đã thành hình vì rập theo khuôn mẫu của người Trung Hoa. người Việt nam sống họp nhau thành làng là do thiên tính của con người muốn sống quây quần tụ họp, và thiên tính này chính là thiên tính sinh tồn.
hìNh Thể làNg Xã
nói về làng xã, ông nguyễn Văn Huyên trong quyển “Văn Minh Việt Nam” (1) có phân biệt các làng theo hình thể. Theo ông, làng Việt nam thường tọa lạc bên cạnh các dòng nước, và ở đằng xa trông như một túp cây xanh mọc hỗn độn nào tre, nào mít, nào muỗm, nào cây gạo, cây dừa v.v...
làNg ăN Theo ChIều DàI
những làng này có thể dài ngoẵng, nhà cửa cất dọc đường cái hoặc dòng sông như các làng phù Đổng và Đông Viên nằm liền nhau theo bờ sông Đuống tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) trên một chiều dài gần mười cây số, các làng Yên Sở, Đắc Sở ở
Hà Đông (Hà nội) làng Tiên Mỗ ở Vĩnh Yên (Vĩnh phú) v.v...
Tỉnh Thừa Thiên có làng Quế chữ và Thanh Thủy cũng là những làng dài ngoẵng trên ba cây số, làng Quế chữ dọc theo một dòng sông, còn làng Thanh Thủy dọc theo đường cái.
Miền nam cũng có nhiều làng ăn theo chiều dài, như các làng phú An và An Hóa tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) nằm dọc theo sông Ba Lai không dưới 16 cây số từ Đông sang Tây, làng Long Bình tỉnh An Giang, nằm theo kinh Rạch Lớn trên 8 cây số v.v...
1. La civilisation annamite. - Collection de la Direction de l’Instruction publique de L’Indochine. 1944.
làNg NằM RảI rác
cùng với những làng dài ngoẵng lại có những làng rải rác thành những cụm nhỏ nằm thành hàng theo những doi đất dọc theo bờ nam Hải, như các làng Thần Huống và Lũng Đầu, phủ
Thái ninh, tỉnh Thái Bình giữa sông Trà Lý và sông Diêm Điền, làng Quất Lâm ở phủ Xuân Trường tỉnh nam Định (Hà nam ninh), các làng cổ ngãi và Đại Dư ở cửa sông Bassac và rất nhiều làng khác ven bờ biển Thanh Hóa, nghệ An và Hà Tĩnh.
làNg TựA VeN ĐồI
Lại có những làng tựa vào đồi như các làng Vân Khám, Long Khám và Khả Lễ ở Bắc ninh (Hà Bắc), chi Lai và Tiên Hội ở Kiến An, (Hải phòng) làng phú Trà ở Quảng nam, làng phú Thành ở Bình Định, làng Vĩnh Tế ở châu Đốc, làng Ba chúc ở An Giang v.v... Tựa vào đồi núi như vậy, dân làng sống bằng ruộng nương ở chân núi.
CáC loạI làNg KháC
cũng phải kể tới loại làng thiết lập ở cạnh các đồn binh để
dân làng tiện việc buôn bán với quân lính và gia đình như các làng Hòa Lạc ở Sơn Tây, ấp Suối Hoa ở Thị cầu (Bắc ninh, Hà Bắc).
Lại còn một loại làng thành lập ở ngã ba ngã tư các trục giao thông.
Đại loại về mặt hình thức làng mạc có thể phân loại như vậy, tuy nhiên cũng còn nhiều làng không thuộc hẳn về loại nào, thiết lập một cách rất đặc biệt với dân cư lẻ tẻ, thôn xóm rải rác...
Dù hình thức làng thế nào mặc dầu, các ngôi làng xa trông đều na ná giống nhau như đã nói ở trên, và nếp sống ở làng này cũng không khác làng kia bao nhiêu, nhất là khi các làng đó lại ở cùng một vùng.
Diện hình và Tổ chức
Được thành hình như ngày nay, mỗi ngôi làng đã trải bao cuộc hưng vong của đất nước kể từ lúc bắt đầu thành lập.
VIỆC ThàNh lậP làNg Xã
Về việc thành lập làng xã, như trên đã nói, có người là có làng, và làng lập nên là có người, nhưng nếu xét kỹ, một làng Việt nam được tạo nên, rất có thể qua nhiều giai đoạn và bởi nhiều đường lối khác nhau.
có thể đầu tiên chỉ là một thôn nhỏ, rồi thôn này bành trướng lên thành xã, và xã lại chia làm nhiều thôn, do đó có các xã lớn, nhất xã nhị tam tứ thôn như đã trình bày.
Xã thôn là một đơn vị dân cư hợp thành trải qua nhiều đời khai thác đất đai để trồng trọt. Xã thôn ở Việt Nam rất nhỏ. (1) Việc khai thác đất đai có thể phân biệt: a) Dân chúng khai thác.
Trong những ngày đầu khai thác, một hay mấy gia đình cùng chung lưng đấu cật để đấu tranh với thiên nhiên, giành lấy sự
sống. Trải qua nhiều đời con cháu những gia đình này sinh sôi nảy nở nhiều thêm, số ruộng đất được khai thác nhiều thêm, thôn xã dần dần hình thành. (2) b) Đồn điền.
Đây là những đồn điền do binh sĩ khai phá. Theo các sử gia đây là một hình thức mới mẻ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ
XV. Có lẽ đây là một lối bành trướng bắt chước theo người Tàu dùng cánh tay của quân lính để khai khẩn những đất đai biên giới (est, sans doute, un mode d’expansion imité des chinois 1. Nguyễn Hồng Phong. - Xã thôn Việt Nam. - Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, trang 127, 158.
2. Nguyễn Hồng Phong - Xã thôn Việt Nam. - Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, trang 127, 158.
qui utilisèrent les bras des soldats pour coloniser les territoires des frontières)(1).
Xưa kia trong những thời bình, binh sĩ được dùng trong việc khai phá đất hoang, và nước ta đã từng có riêng một loại quân lính về công tác này, dưới triều nhà Lê mang danh là Thục điền binh, những đất đai khai khẩn được là những đồn điền. Đồn điền thuộc quyền sở hữu của Quốc gia, nhưng một phần được chia cho các làng xã tân lập tại những nơi đây, và những đất đai dành cho làng xã biến thành công điền công thổ của dân làng.
Lúc đầu, khi đồn điền mới khai phá, có một vài gia đình, thường là vợ con binh sĩ, tới sinh sống, dần dần đông lên mới thành xóm, rồi thành làng. Khi đã có một làng tại đồn điền, đoàn Thục điền binh sẽ được đi tới một nơi khác để thành lập một tiền đồn mới tiếp tục công việc lập đồn điền.
c) lao trại.
Lao trại là một hình thức đặc biệt của đồn điền.
những Thục điền binh sử dụng sức lực của tù nhân để giúp đỡ mình trong công việc khai khẩn đất hoang. Mục đích của chính quyền xưa, khi lập ra các lao trại, là để trừng phạt một số
các tội phạm. các tội nhân tới các lao trại sẽ được hoàn lương, và như vậy lao trại đã được lưỡng lợi trong một lúc: hoàn lương cải thiện những phạm nhân và có nhân công để khai khẩn đất hoang. Ấy là chưa kể chính quyền đã lánh xa cho dân chúng những người bất hảo, có hại cho an ninh trật tự.
những phạm nhân tới các lao trại có thể mang gia đình đi theo và họ lập làng ở đây. Làng xã lập xong họ được tự do sinh sống lương thiện, không ai còn nhắc tới quá khứ của họ nữa.
Lao trại một khi biến thành làng, làng sinh hoạt như bất cứ
1. Nguyễn Hữu Khang - La Commune Annamite, Etudes historiqué, juridiques et éconnomiques. Librairie du Recueil Sirey, Paris, 1946.
Diện hình và Tổ chức
một làng nào khác, và lao trại không còn là lao trại nữa. Và những lao trại khác sẽ được thành lập xa hơn ở những nơi đất đai chưa khai phá.
d) Nông trại
các chính quyền Việt nam luôn luôn nghĩ tới việc canh nông, lập ra các vị Dinh điền sứ có nhiệm vụ tìm kiếm đất đai để dân chúng cầy cấy. những vị Dinh điền sứ kêu gọi những người tình nguyện đi lập làng ở những nơi đất cát phì nhiêu. cụ nguyễn công Trứ đã thành công trong nhiệm vụ Dinh điền sứ. cả vùng phát Diệm, Kim Sơn cũng như cả huyện Tiền Hải đã do công lao của cụ tạo nên.
e) Một ấp mới
nhiều khi làng xã đã có rồi nhưng đất đai quá rộng, nhiều dân làng có ruộng nương ở tận cuối địa phận đồng làng, hoặc những dân làng quá cùng túng, ruộng nương ít làm không đủ ăn, những người này hoặc để tiện trông nom ruộng nương của mình, hoặc vì lý do sinh sống, tìm cất một căn nhà nhỏ ở nơi mình có ruộng hoặc ở ven sông làng hay ven rừng làng để đánh cá làm củi, kiếm kế sinh nhai thêm. Lúc đầu chỉ có một gia đình, rồi dần dà có các gia đình khác tới, số người gia tăng mãi. cho đến một ngày để tiện việc tổ chức họ xin phép thành lập một ấp mới hoặc một thôn mới của làng. Sau nữa, ấp hoặc thôn lớn rộng mãi, biến thành một làng riêng.
Dù do cách nào, dưới năm hình thức trên, làng xã một khi đã thành lập cũng đều trở nên tương tự như nhau về mặt hình thể
vật chất với lũy tre xanh bao quanh làng cũng như về mặt sinh hoạt với mọi tổ chức trong làng.
TêN làNg
Làng đã lập thành, phải có một tên. Tên này có thể là một tên cũ, có từ khi mới có đồn điền, lao trại hay nông trại, cũng
có thể là một tên sau này dân làng kén chọn lấy, để đặt cho văn vẻ.
Tên làng có thể dựa theo một sự kiện nào do những người đầu tiên đặt rất nôm na như Gốc Sộp ở Thái nguyên (Bắc Thái), vì nơi đây dân chúng quy tập chung quanh một gốc cây sộp, Rạch Dừa vì ở đây làng nằm bên một con rạch lại có trồng dừa lúc ban đầu v.v... hay được kén chọn theo kinh sách để đặt theo điển tích văn vẻ.
Làng thôn Việt nam thường có hai tên, một tên văn vẻ dùng trong văn thư giấy má, còn một tên nôm na dân làng và dân các xã lân cận gọi với nhau, thường gọi là tên tục.
Tên tục này có thể gọi trạnh ở chính tên làng mà ra.
Thí dụ:
Làng Vị là tên tục của làng phương Vĩ huyện Võ Giàng, Bắc ninh (Hà Bắc).
Làng Đọ là tên tục của làng Mỵ Độ huyện Việt Yên, Bắc Giang (Hà Bắc).
Làng Son là tên tục của làng Giá Son huyện Yên Dũng, Bắc Giang (Hà Bắc).
Tên tục này, có khi gọi khác hẳn tên chính làng.
Thí dụ:
Làng cói là tên tục của làng Hội Hộp, huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Yên.
Làng Doi là tên tục của làng ngư Đại, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh.
Làng Xưa là tên tục của làng Song Lư, huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Trên đây là những làng mang tên tục một chữ, có làng mang tên tục hai chữ, như:
chợ cầu là tên tục của làng Kiều Thụy, phủ Thường Tín, Hà Đông (Hà Tây).
Diện hình và Tổ chức
Đầu Dàng là tên tục của làng Đặng cầu, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên (Hải Hưng).
Tên làng thường là hai chữ, nhưng cũng có khi mang tên ba bốn chữ. phần nhiều đây là những làng trước họp với làng khác, sau tách ra nên để phân biệt, sau tên làng cũ có thêm một chữ
để phân biệt làng nọ với làng kia. Thí dụ: Bần Yên nhân, Trà Khúc Thượng, Vân Xa Đông, phú Thọ Hòa, Tân phú Trung v.v...
VIỆC ThAy ĐổI làNg Xã
nhiều làng trước nhỏ sau to vì thành lập được nhiều thôn, hoặc có khi một hai thôn tự động cùng nhau xáp nhập lại thành một làng. Lại có nhiều làng trước to sau nhỏ, vì một hai thôn thấy mình đủ khả năng tự lập tách rời khỏi làng cũ để biến thành một làng riêng.
Khi hai ba làng xáp nhập làm một, các đàn anh trong các làng cũ sẽ cùng nhau thỏa thuận để sự tổ chức của làng mới phù hợp với hoàn cảnh xáp nhập; Khi một thôn tách khỏi một làng cũ
để thành một làng mới, sự tổ chức cũ của thôn sẽ sửa đổi theo đúng tổ chức của một làng.
Việc xáp nhập cũng như sự tách khỏi làng cũ này phải được chính quyền hàng tỉnh chấp nhận và đề nghị với triều đình.
Dưới thời pháp thuộc tại Bắc Việt, việc sáp nhập hoặc tách rời này phải do nghị định của viên Thống sứ, người thay thế viên Kinh lược Việt nam.
Làng Việt nam giống nhau trên những nét đại cương giống nhau từ lũy tre đến cổng làng, giống nhau từ ban kỳ mục tới việc thờ cúng theo nghi lễ - những làng ở miền nam có hơi đôi chút khác biệt như trên đã nói.
làNg Thủy Cơ
Từ trên tôi mới chỉ nói đến những làng trên cạn, những làng này thường không khác nhau bao nhiêu, nhưng cũng có một loại
làng khác hẳn với những làng đã nêu trên. Đó là những làng thủy cơ, thiết lập ở trên mặt nước còn được gọi là làng vạn, hay làng chài, gồm những người làm nghề chài lưới hay chở đò.
Theo nguyên lý thì làng chài nào cũng phụ thuộc với một xã thôn ở trên đất. (1) Và như vậy làng chài chỉ là một thôn của một làng khác. Thực ra thì làng chài vốn là làng riêng mà nhà nước chỉ bắt theo về một xã thôn trên đất để tiện việc thu thuế, cho nên những dân thủy cơ tuy phải đóng sưu thuế cho lý trưởng mà vẫn không có liên lạc gì với xã thôn ấy cả. làng thủy cơ thường là một đơn vị hành chánh độc lập, có đủ tổ chức như một xã thôn, hoặc thống thuộc vào một tổng với các làng ở cạn, hoặc nhiều làng họp thành một tổng thủy cơ riêng. (2) Đã gọi là làng phải có đình làng để làm nơi dân làng hội họp, và cũng phải có nơi để thờ cúng vị thành hoàng. Đình làng thường được xây trên một miếng đất làng đã mua được của một làng khác. nhiều làng, đất không có, ngôi đình chỉ là một chiếc thuyền lớn hay cái nhà bè. Thành hoàng được thờ phụng ở đây, và khi có việc hội họp dân làng cũng tới đây.
Làng thủy cơ nhiều khi là những làng lưu động, thường cả
làng di chuyển từ nơi này qua nơi khác, chiếc đình làng cũng được di chuyển dời theo. Mỗi khi có cuộc làng thiên cư như vậy, dân làng phải lễ cáo thần linh.
Vì làng thủy cơ là những làng sinh sống về nghề chài lưới hoặc chở đò, nên xưa kia Triều Đình thường cho phép những làng này được giữ độc quyền sinh sống trên một khúc sông.
ngày nay, thỉnh thoảng ta còn gặp những làng chài được khai thác một khúc sông nào, nhất là ở Bắc và Trung Việt, nhưng phải đóng thuế hàng năm cho nhà nước.
1. Đào Duy Anh - Việt Nam văn hóa sử cương. Nhà Xuất bản Bốn Phương.
2. Đào Duy Anh - Việt Nam văn hóa sử cương. Nhà Xuất bản Bốn Phương.
Diện hình và Tổ chức
Về hình thể, làng thủy cơ đương nhiên không giống những làng cạn, nhưng về sinh hoạt, về tổ chức, thì ở đây sự sinh hoạt tập thể, cũng như việc tổ chức làng cũng chẳng khác gì những làng cạn, vì ở cạn hay ở nước thì cũng đều là người Việt nam, con Tiên cháu Rồng, với những tục lệ từ ngàn xưa của dân tộc.
Và có thể nói rằng người dân ở trên cạn hay người dân ở làng chài, họ đối với nhau bao giờ cũng vẫn có tình thân mật, không bao giờ họ kỳ thị nhau. Tinh thần tập thể vốn là tinh thần cố
hữu của người Việt nam. Tấm lòng hiếu khách, yêu mến bà con họ hàng cũng là một đôi biểu hiện tinh thần ấy. (1) Vì hiếu khách, vì tinh thần tập thể nên dù ở cạn hay ở nước, người ta vẫn thương yêu nhau.
có nhiều trường hợp những người ở làng chài vui lòng mua đất tậu ruộng lên ở những thôn xóm trên cạn.
KếT luậN
Làng tôi chỉ một làng Việt nam với tất cả những gì của làng xã Việt nam.
Tôi nhớ lại làng tôi, tôi nhớ đến cổng làng, mặc dầu cổng làng tôi không có gì đặc biệt hơn cổng làng khác, thi sĩ Bàng Bá Lân, trong bài thơ Cổng làng chắc ông tả cổng làng ông, mà khi đọc lên tôi cứ tưởng ông tả cổng làng tôi và khi thấy ông nhớ tới làng xưa, tôi không khỏi nao nao trong dạ: Chiều hôm đón mát cổng làng,
gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi.
Đồng quê vờn lượn chân trời,
Đường quê quanh quất bao người về thôn.
*
1. A.Pazzi (tức nhà văn Vũ Hạnh) Người Việt cao quý. - Hồng Cúc dịch. Cảo Thơm xuất bản, Sài Gòn 1965.
Sáng hồng lơ lửng mây son,
Mặt trời thức giấc, véo von chim chào.
Cổng làng mở rộng ồn ào,
Nông phu lững thững đi vào nắng mai.
*
Trưa hè bóng lặng nắng oi,
Mái gà cục cục tìm mồi dắt con,
Cổng làng vài chị gái non,
Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm.
*
Những khi gió lạnh mưa buồn,
Cổng làng im lỉm bên đường lội trơn.
Những khi trăng sáng chập chờn,
Kìa bao nhiêu bóng bên đường thiết tha.
*
Ngày mùa lúa chín thơm đưa,
Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng, Mừng Xuân ngày hội cổng làng,
lá rơi chen chúc bao nàng ngây thơ.
*
Ngày nay dù ở nơi xa,
Thăm quê, về đến cây đa đầu làng.
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.(1) con người có cái mặt, làng quê Việt nam có cổng làng. Thấy cổng làng là hình dung ngay được cả ngôi làng với bao nhiêu cảnh sinh hoạt quanh năm ở trong làng, suốt ngày này qua ngày khác, khi nắng, khi mưa, khi gió rét...
1. Bàng Bá Lân. - Tiếng sáo diều, trong tập “Thơ Bàng Bá Lân”. - Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê, Saigon. 1957.
Diện hình và Tổ chức
người dân Việt nam yêu quê hương làng mạc, ít ai muốn rời xa xóm làng.
Sống ở làng, sang ở nước. phải rời bỏ làng mình thật là một điều bất đắc dĩ đối với dân ta.
Ở làng sống với lệ làng, đó là điều mong mỏi xưa nay của người dân quê Việt nam. Đừng ai quan niệm rằng người dân quê không muốn sống ở làng không muốn theo lệ làng, muốn đấu tranh để phá bỏ lệ làng, quan niệm như vậy là sai và nói như vậy tức là ngụy biện.
người dân quê muốn giữ lệ làng, muốn theo lệ làng để bảo vệ thuần phong mỹ tục, để duy trì nền đạo đức của dân tộc.
chẳng bao giờ người dân quê lại nghĩ những hình thức sinh hoạt cũ một phần là bọn bóc lột tạo ra nó chỉ có hình thức cộng đồng tập thể chứ không có nội dung. (1) Tại sao khi đã có hình thức cộng đồng tập thể lại không có nội dung, nhất là khi cái nội dung đó lại tiềm tàng trong tâm khảm của mọi người, và mọi người đều hoan hỷ lấy lệ làng làm mực thước trong cuộc sinh hoạt hàng ngày.
Đổi một ngôi làng bé nhỏ đơn sơ lấy một thành phố đồ sộ
huy hoàng, có lẽ chẳng mấy người dân quê ưng thuận!
1. Nguyễn Hồng Phong - Sách đã dẫn.
dâN làNg
Đã có làng thì phải có người, không có người ở, làng sẽ
không thành làng. người ở trong làng tức là dân làng.
Làng tôi dân cư đông đúc, đủ nam phụ lão ấu. Dân làng sống với nhau trong tinh thần cộng đồng sinh hoạt, ăn ở theo lễ nghi tập tục, kính già thương trẻ.
cứ kể nếu phân biệt ra, dân làng có thể chia làm hai loại, đó là dân nội tịch và dân ngoại tịch.
dâN Nội tịCh
Dân nội tịch là những người giàu có, có chức tước, có danh vọng trong xã hội. Ngoài ra dân nội tịch còn bao gồm những kẻ
trước giàu mà bây giờ nghèo, những người buôn bán và những người có chút ít tài sản. Tóm lại chỉ những người có tài sản mới được coi là dân nội tịch, (1) nhưng cũng lại phải là những người dân bản xã. những người tới ngự cư, dù giàu có, dù đã có xin phép vào làng, chịu những sự đóng góp phu phen tạp dịch của dân làng cũng chưa được coi là dân nội tịch nếu chưa vào làng được ba đời.
1. Nguyễn Hồng Phong, - Sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
chỉ có dân nội tịch mới có quyền lợi dân đinh ở trong làng, được phép tham gia việc làng, được bầu giữ các chức vụ trong làng, được sung vào ban kỳ mục, được lên quan viên và quan hệ nhất là được chia công điền công thổ.
Dân nội tịch trong làng tự chia ra làm nhiều bực, mỗi bực đều có quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau.
ChứC SắC
Trước hết phải kể các hàng chức sắc gồm những bậc khoa mục chức tước, văn thì đậu tú tài hay có hàm cửu phẩm trở lên, võ thì đậu cử nhân hay có hàm suất đội trở lên.
hươNg ChứC
Sau hàng chức sắc là các hương chức, còn đương làm việc hoặc đã mãn nhiệm kỳ, nhưng không bị cách chức: tân, cựu chánh, phó tổng, lý, phó trưởng, hương trưởng, khán thủ, trương tuần. Hàng chức sắc còn kể cả những người bỏ tiền ra mua nhiêu mua xã trong làng.
Thí SINh, KhóA SINh
Kế đến các Thí sinh, khóa sinh hoặc người trúng tuyển khảo hạch ở những làng hiếm văn học. Dưới thời pháp thuộc, được dự
vào hàng thứ ba này những người đậu được bằng sơ học pháp Việt trở lên. những ai đậu cao hơn bằng sơ học pháp Việt, có thể được xếp vào hạng chức sắc.
QuAN VIêN
Ba hạng trên này hợp lại làm một, gọi là hội tư văn và gọi là quan viên. (1)
những người có chân quan viên được coi là danh giá trong 1. Phan Kế Bính, - Việt Nam phong tục, - Đông Dương Tạp chí 1914, 1915.
làng; khi ra đình hội họp có quyền ăn nói. các tư gia, mỗi khi có việc khao vọng hiếu kỷ đều mời tới các quan viên. Và cũng chỉ các quan viên mới được mời tham dự việc tế tự trong làng.
Tuy nhiên, muốn được dự hàng quan viên, trước hết phải có đủ lệ khao vọng, bằng không thì dù có chức tước gì cũng vẫn bị coi như hạng bạch đinh.
Lệ khao vọng này, theo Đào Duy Anh, nguyên trước đây lệ
triều đình đặt rất giản tiện, đại để như đỗ tú tài thì khao một con gà, một đĩa xôi và ba quan tiền, đỗ cử nhân thì khao một con lợn, một mâm xôi và năm quan tiền v.v... nhưng Phép vua thua lệ làng, nhiều làng tự đặt ra những lệ nặng hơn, rồi các đương nhân lại ganh đua nhau muốn làm hơn lệ làng, cỗ
bàn linh đình tốn kém. Đúng ra người đứng khao chỉ cần nộp đủ lệ vọng ấn định bởi lệ làng là được dự hàng quan viên rồi, nhưng ai cũng e miệng tiếng chê cười, nên lệ khao vọng do đó thành một sự tiêu phá quá đáng, mời họ hàng làng nước ăn uống đến mấy ngày.
ngoài ba hạng chức sắc, hương chức, và thí khóa sinh, dân nội tịch còn ba hạng nữa.
lão hạNg
lão hạng gồm những người từ 50 hay 55 tuổi trở lên, tùy theo từng làng. Lão hạng cũng có lệ khao vọng và chỉ những người đã tuân theo đủ lệ làng mới được dự vào hạng lão, và được ngồi vào chỗ dành riêng ở đình.
Khi một cụ tới 60 tuổi, sau tuần khao thượng thọ và nộp vọng cho làng được miễn trừ hết phu phen tạp dịch và cả thuế má nữa.
Tuổi thọ rất được tôn trọng, ta có câu Triều đình thượng tước, hương đảng thượng xỉ, nghĩa là ở chốn triều đình, chức tước ở
trên, còn chốn đình trung, tuổi tác ở trên.
chính vì tuổi tác được xếp ở trên, nên những người đến tuổi 40
Diện hình và Tổ chức
lên lão, khi năm mươi hoặc năm mươi lăm tuổi, nhiều làng gọi là lên xỉ, và trong các cụ lên xỉ, có một cụ là trưởng xỉ. cụ này nhiều tuổi nhất trong các cụ lên xỉ. Lên xỉ được dân làng tôn là Bô lão. Trong các hàng bô lão cũng có sự phân biệt các cụ
thượng và các bô lão thường. Thường các cụ thượng là những cụ từ 80 tuổi trở lên. nhiều làng tôn bốn cụ Thượng nhiều tuổi nhất là Tứ trụ, gọi là cụ thượng nhất, cụ thượng nhì, cụ thượng ba và cụ thượng tư.
DâN ĐINh
Dưới lão hạng là dân đinh.
Dân đinh gồm tất cả nam công dân ở trong làng từ 18 đến 49
tuổi, mỗi người là một xuất đinh. Hạng 18 tuổi ở nhiều xã, như ở
làng Thị cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh gọi là đại hạ, nghĩa là những người dưới nhất được tham dự vào chốn đình trung.
TI ấu
Dưới dân đinh là hạng ti ấu.
Ti ấu là hạng trẻ con, tuổi từ lên 6, lên 7 đến 17 tuổi. Hạng ti ấu không được tham dự đình trung nhưng được dự vào hàng phe, hàng giáp và hàng xóm. Tuy nhiên, không phải bất cứ
ti ấu nào cũng được tham dự, muốn tham dự, trước hết phải lo đủ lệ làng nghĩa là bố mẹ phải xin cho con vào hàng phe, hàng giáp, hàng xóm, rồi xin vào làng, khi xin vào làng phải nộp lệ vong.
Với sáu hạng trên của dân nội tịch từ hàng chức sắc đến ti ấu, ngôi thứ được phân chia để duy trì trật tự trong hương đảng.
Trong làng có sổ hương ẩm, cứ chiếu theo sổ này mà định ngôi thứ. Trong ba bậc trên, các quan viên có thể vượt lên bậc cao hơn thứ bậc cũ, còn ngoài ra dân đinh cứ theo thứ tự ghi trong sổ mà tính ngôi thứ.
dâN Ngoại tịCh
Dân ngoại tịch gồm những kẻ cùng khó trong làng không có tài sản, không có học vấn khoa cử, và những người ngụ cư đã xin nhập tịch, như trên đã nói nhưng chưa đủ ba đời. có nhiều làng, lệ làng rộng rãi dân ngụ cư sau khi nộp một món tiền lệ
làng cũng có thể sung dân nội tịch được, nhưng chỉ được xếp vào hạng dân đinh, dù giàu có hoặc đỗ đạt, và khi lên lão không bao giờ được phép lên tới tứ trụ, mà chỉ được liệt vào hàng bô lão dù tuổi tác bao nhiêu.
QuyềN lợI DâN làNg
Xét qua các đẳng cấp trên ở thôn xã ta thấy rằng chỉ có ba lớp trên trong hạng nội tịch họp thành các quan viên là quyền lợi nhiều và chiếm giữ các địa vị. Lão hạng cũng có quyền lợi, nhưng chỉ ở trong những buổi việc làng về tế tự, và khi ra đình được ngồi chiếu trên dành cho tuổi tác.