Làng Xóm Việt NamPartie 18
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
đâu? Sắp hàng mục đồng lại thử coi! năm nay có hai mươi sáu lá cờ tư đó, lựa người cầm cho tử tế nghe! Kiếm riêng năm mươi hai đứa thiệt mạnh để lo cái khoản đó!
nông và Tí trọc dạ to một tiếng. Hai đứa chúm chím cười nhìn nhau. Lần đầu tiên, một vị hào mục trong làng gọi đến chúng một cách trang trọng như vậy. chúng lúng túng trong bộ
áo đen khăn xếp chạy tới chạy lui để dắt người này lên, kéo kẻ
kia xuống. Bọn mục đồng nhao nhao như một buổi chợ đang đông. Anh nào cũng tưởng mình cao hơn bạn nên rất bất bình khi bị kéo xuống đưa lên, đổi chỗ đứng trong hàng.
1. Trùm Chỉ: người chỉ huy cuộc rước Thần.
Trong đình Thần nông, đèn đuốc sáng như ban ngày, hương trầm bốc khói nghi ngút. phía trước điện thờ, một cỗ kiệu hai đòn khiêng, giăng hoa kết lá trông rất đẹp. Đó là công trình của hai anh thợ trong Vĩnh Điện, được làng mời ra từ ba hôm nay để lo phần trang hoàng cỗ kiệu thần.
Ba hồi chiêng trống vang lên. Tiếng ồn ào ngớt dần dần rồi im phăng phắc. Thỉnh thoảng mới vang ra vài tiếng nói nghèn nghẹn của mấy ông già không kèm nổi cơn ho. Vị trùm mục đứng trước điện thờ lâm râm khấn vái. Sau lưng ông, bốn mục đồng giữ phần khiêng kiệu khăn áo chỉnh tề như trình diện với Thần. Khi Trùm mục lui ra, hai viên Trùm chỉ và Trùm phụ
vào làm lễ, tiếp đến những mục đồng khiêng kiệu. Lại một hồi chiêng và trống, vị Trùm mục tiến lên thỉnh bài vị ở điện thờ, cung kính nâng ngang mày, quì xuống đặt vào trong kiệu rước.
Trùm chỉ và Trùm phụ duyệt lại hàng ngũ mục đồng. Ba bên bốn bè, cờ xí giăng giăng.
chiếc kiệu được chuyển ra sân đình. Lại một hồi chiêng trống nữa. Toàn thể mục đồng hướng vào điện thần, chắp tay xá ba cái. Một hồi sênh nổi lên, báo hiệu đám rước khởi hành.
Toán mục đồng cầm đuốc và vác lễ kỳ của làng đi trước, kế
đến là kiệu thần và chiêng trống, sau nữa là phường bát âm và cờ xí của tư nhân.
Đoàn rước lặng lẽ băng qua cánh đồng. Thỉnh thoảng vài tiếng sênh lắc cắc nhắc đoàn người rước thần giữ không khí trang nghiêm. nông và Tí trọc chạy tới chạy lui nhắc bảo sơ sài cho có lệ. Trong ánh trăng lờ mờ của đêm tàn, trong làng chỉ mới có một ít người lớn thức giấc, đứng ở ven xóm nhìn ra. Xa xa, vài tiếng chó sủa bâng quơ.
Đến cồn Thần thì đã cuối giờ Sửu. Trăng đã mờ hẳn. Ánh sao hôm còn lấp lánh chân trời. phía trước tảng đá trắng giữa cồn, nơi mà dân làng tin là chỗ Thần giáng ba năm một lần, ở đấy 298
Diện hình và Tổ chức
đã được trải sẵn một chiếc chiếu hoa sặc sỡ, còn thơm mùi mới.
nông nhìn tảng đá trơn láng, bất giác cảm thấy rờn rợn. ngày thường thả trâu ăn tại đây, hắn ngồi chơi hàng giờ trên tảng đá ấy mà vẫn dửng dưng xem thường, giờ đây, nhìn vẻ kính cẩn của vị Trùm mục, thêm vào đó không khí im lặng của toàn thể
mục đồng, nông thấy tảng đá như có một linh hồn huyền bí.
chiếc kiệu rước Thần hạ xuống bên tảng đá từ nãy. Trên chiếc chiếu hoa, vị Trùm mục đang khấn lâm râm. Hình ảnh bóng đen quì khấn giữa hai ánh đuốc bập bùng khiến nông thấy rờn rợn.
Một chặp sau, Trùm mục đứng thẳng dậy hân hoan nâng chiếc đĩa, bên trong có hai đồng tiền, một sấp một ngửa, đưa ra cho vòng người đứng quanh xem qua rồi nói thấp giọng: ngài đã giáng.
Một hồi sênh lại nổi lên. Trùm chỉ và Trùm phụ chạy tới chạy lui sắp xếp lại hàng ngũ. Sau ba hồi chiêng trống, tiếp theo là một loạt trống cơm, rồi đến phường bát âm trong khúc nhạc mừng. nghi lễ này cũng báo hiệu cho dân làng biết giờ rước Thần đã đến. Gõ ba tiếng sênh làm hiệu, vị Trùm mục dõng dạc xướng lớn:
“chúng mục đồng phong Lệ ta! Xin cho tốt lúa, tốt gieo!
Vũ thuận phòng điều,(1) đồng reo một tiếng!”. Đám mục đồng hợp thanh reo to: “Giá h. ạ..ạ ạ...! Giá hạ, ạ.ạ...ạ!”(2) Tiếng reo như kéo dài mãi không dứt người này hô chưa dứt, người khác đã nối hơi theo. cùng với tiếng reo, đoàn mục đồng cầm cờ
nối đuôi nhau chạy theo vị Trùm mục quanh đi lộn lại chung quanh cồn Thần. Tiếng sênh vang đến đâu đám đông kính cẩn giạt ra đến đấy. những cây cờ của tư nhân, chủ cờ không chịu 1. Vũ Thuận Phong Điều: mưa thuận gió hòa.
2. Giá Hạ: xe giá xuống. Ý nói Thần Nông cưỡi xe giá từ trên trời đã xuống.
Lời reo này tỏ ý mừng đón Thần.
để cờ mình thiếu bất cứ màu nào, bất chấp cả mỹ thuật, khiến hàng trăm màu phất phơ lồng lộn như những con vật dị kỳ oằn oại trong ánh sáng lờ mờ. Khi đoàn cờ dừng lại theo hiệu lệnh của Trùm mục thì đám mục đồng đã mướt mồ hôi, tuy trời vẫn còn lạnh sương đêm.
Trên cánh đồng trơ trụi, người bốn phía xóm đổ ra mỗi lúc một thêm đông đảo. nông bắt đầu thấy lo ngại.
chân trời ửng sáng lờ mờ. Mấy bó đuốc vác theo dự trữ cũng đã tàn gần hết. Tí trọc chạy lại dẹp lũ trẻ đang lấn chen, làn roi mây cứ vun vút.
Tiếng trống tiếng chiêng mỗi lúc càng thêm lôi cuốn. Âm nhạc dặt dìu như những lời mời mọc. Lũ trẻ cố chen lấn để
được thấy tận mặt bọn nhạc công cùng các thứ nhạc khí lạ mắt, chúng bất chấp những làn roi hung hăng của Tí trọc, có đứa còn lom khom chui xuống dưới kiệu thần để xê dịch theo đoàn rước. nông không ngớt xô làn sóng người, cứ ngăn được chỗ
này thì chỗ khác lại tràn tới. Gặp những người quen, nông chỉ
kịp chào vội bằng một nụ cười với nét mặt nhễ nhại mồ hôi, rồi tíu tít đi làm phận sự.
Đoàn rước tuy gồm toàn là những mục đồng vạm vỡ nhưng cũng phải cố gắng hết sức mới giữ được hàng ngũ xê dịch của mình. Trời đã hừng sáng. Đoàn rước đi từ từ. Tiéng chiêng tiếng trống, tiếng reo hò “Giá hạ” thứ âm thanh hỗn tạp. Thỉnh thoảng một vài đứa trẻ bị chèn ép, khóc vang lên lâu lâu lại có mấy tiếng đàn bà gọi con ơi ới...
Mặt trời đã lên quá nửa ngọn tre. Ánh nắng hơi gắt, mùi hơi người bốc ra rất khó thở. Gió như bị người ta ngăn lại, giận dữ
vượt thoát lên cao, hung hăng trút căm hờn vào những lá cờ
sặc sỡ, vật nhau nghe phành phạch trên không trung làm mấy chú mục đồng phải mắm miệng, chung nhau hai người một cây, 300
Diện hình và Tổ chức
gồng các bắp thịt rắn chắc mới kềm nổi thế cầm cho vững chắc.
Đặc biệt trong đám rước này, lệ quen là các tư nhân có ruộng đất nhiều hay những người làm ăn khá giả đi xa làng, ngoài việc gởi tiền về lo cúng tế, họ còn đua nhau làm những lá cờ
rất to, bất kể kích thước, mỗi lá cờ là một tờ trình về sự giàu có của họ nên chẳng ai chịu thua ai. cờ phần nhiều may mắn bằng nỉ màu lại còn đính thêm những hình nhân tượng trưng cho nông nghiệp như người đi cày với con trâu, đôi ba người đập đất, đi cày... chẳng hạn, ngoài ra người ta còn thi nhau cả
trong việc làm cán cờ cho đáng giá, thành thử toàn thể lá cờ
hết sức nặng nề.
Qua khỏi cánh đồng, đoàn rước chỉ còn phải đi một đoạn đường công hương nữa là về đến đình.
Đám rước đi vào cổng đình, nông và Tí trọc phải nhờ thêm hai mục đồng nữa phụ lực mới xô nổi đám trẻ bu hai bên cổng.
Sân đình kín mít người ta. Đây toàn là những người đội lễ vật đến cúng nên ai nấy đều khăn đóng áo dài tề chỉnh cả. Tuy không bảo nhau nhưng bọn mục đồng cũng cảm thấy hãnh diện khi cả
làng đều tỏ ra tôn trọng ngày lễ đặc biệt của chúng.
Mà thật thế, lễ rước mục đồng này là một lễ rất quan trọng.
Dù cho đó là quan to chức lớn đi chăng nữa khi gặp đám rước cũng phải tránh ra một bên để cho đám rước đi chứ không thể
nghênh ngang hống hách được. phép vua còn thua lệ làng là vậy. những vị quan hay vợ quan nếu ra cái điều mình “phụ
mẫu chi dân” lên tiếng nạt nộ, thì bọn mục đồng có thể nổi xung lên mà ăn thua đủ, chẳng coi vào đâu hết. cho nên, ai tới làm quan ở vùng này cũng đều phải tôn trọng cuộc lễ của đám người nghèo mạt. Quanh năm cơ cực, chỉ được có một ngày sướng, thì họ phải hưởng cho đã đời, vì mai lại đầu tắt mặt tối vì công việc.
Đoàn rước dừng lại trong sân đình. người ta chỉ giạt ra vừa đủ chỗ đặt cái kiệu. phải khó khăn lắm nông mới dọn được chỗ
đứng cho đoàn. Giao việc cho Tí trọc nông đi ra sau đình. Suốt buổi mai hò hét, hắn thấy khô cổ quá. Vục đầu vào gáo nước lạnh hắn ngước mắt nhìn trộm về phía nhà dọn: hàng trăm mâm xôi nho nhỏ bày la liệt trên mấy bộ ván phần lớn còn bốc hơi nghi ngút, mỗi mâm lại còn kèm theo một con gà luộc. nông chợt có ý nghĩa khôi hài mộc mạc: cả một lũ gà trụi lông đang ấp trứng trong ổ! Hắn thấy dẹp mớ nước miếng ứa ra trong miệng lúc này có phần khó hơn là dẹp đám người tràn vào hàng ngũ
đám rước khi sáng. cả đời chăn trâu của bọn nông, chỉ có dịp này người ta mới dành những phần ngon lành cho bọn chúng không phải vì lý do thừa thãi.
Toán người phục vụ cho buổi lễ đang lăng xăng mang những tế phẩm đặt lên bệ thờ. Bọn chăn trâu thích thú thấy mình được làm “sự chủ” trong khi những nhà tai mắt lại phải lui tới lăng xăng.
các chú mục đồng biết giá trị của mình ngày hôm nay nên không nói cười thô tục như thường bữa. Tí trọc và nông thì thụp lạy trước bàn thờ làm lễ cáo với Thần nhiệm vụ mình đã chấm dứt.
Trên các bệ thờ đã tràn ngập xôi với gà! Từ trước đến nay, vị thần này ứng mộng không cho phép cúng heo hay trâu bò, vì vậy sau khi cúng, “lộc thần” không bị tản mát một cách hợp pháp vào các cửa đàn anh trong làng. Điều này có làm cho các vị tiên chỉ, thứ chỉ trong làng hơi buồn đôi chút.
Vị Trùm mục bái tất xong. các mâm tế phẩm nhất tề bị triệt hạ.
nông nhìn các bạn, lòng rộn lên một nỗi vui mừng, nhưng khi trông ra thềm, thấy bóng mặt trời đã xế chiều, hắn không nén được tiếng thở dài chua xót. Sau bữa tiệc thịnh soạn này, bọn chăn trâu như hắn lại trở về làm bạn với con vật lừ đừ hôi 302
Diện hình và Tổ chức
hám, cuộc sống quanh năm chỉ luẩn quẩn ăn uống nơi xó bếp rồi nghỉ ngơi ở chái chuồng trâu...
Ba gian đình được trải chiếu kín cả trong lẫn ngoài. Từng nhóm mục đồng ăn uống nói cười vui vẻ. Ở gian giữa các vị đàn anh trong làng, tuy ngồi trước rượu thịt ê hề nhưng họ không dám nhậu nhẹt tự nhiên đầy thẩm quyền như trong các ngày lễ
khác, ai nấy cảm thấy như mình đã xâm phạm quyền lợi của mục đồng. ngày hôm nay, theo tục lệ của làng, chỉ có bọn mục đồng là có quyền “ăn nói” ở đây, chữ “ăn nói” được hiểu rất sát theo nghĩa đen, rất là “mục đồng”.
Trọng Lai
hộI Xã loNg SơN
Xã Long Sơn thuộc quận Tân châu tỉnh châu Đốc (An Giang) đã có song song từ lâu hai tục lệ đặc biệt: Ông lên
Du hồ, chưng cộ bát tiên.
A. Tục ông lên.
Hàng năm cứ đến ngày 15, 16 tháng giêng âm lịch, mấy người xác ở đây được các anh hồn, hiển thánh của: Lào Ỳa, Quan công, Quan Bình, châu Xương nhập vào, thương ngồi nghinh oai vệ trên kiệu biểu diễn từ chùa ông Lào Ỳa lên tận châu Thành Tân châu. Ông thì nằm bàn chông, ông thì xỏ xiên quay ngang miệng, ông ngồi trên hai lưỡi gươm bén kê ngang ghế dựa. Mấy ông ấy đều mặc đồng phục bằng vải tây đỏ, đôi mắt lúc nào cũng lờ đờ xa trông dường như đã thoát tục.
Với một sức tin tưởng vô biên các vị thiêng liêng, đồng bào ở chợ Tân châu đều đặt hương án trước nhà như long trọng tiếp rước các vị vua chúa hay các công thần thời xưa. Mùi trầm hương nghi ngút làm cho mấy ông lên hăng say xuống kiện, cầm gương lịnh nhảy múa theo tiếng trống tung tung... Qua những bàn hương
án các vị này ngưng lại, lấy gươm rọc lưỡi, máu tuôn xối xả, thị
dân trịnh trọng lấy giấy vàng đưa cho người thấm vào máu để
làm bùa hộ mạng từ đầu năm đến cuối năm (có người cho rằng máu của ông lên, ruồi lằng không dám bu vào).
Sau cuộc phát bùa máu, mấy vị ông lên còn dừng lại chùa Ông ở chợ Tân châu để qua hai kỳ thí nghiệm: di hỏa thang và tắm dầu phộng sôi, ngõ hầu tỏ cho đồng bào biết là Ông lên thật.
người địa phương quan niệm rằng cái tục Ông lên là cuộc tảo thanh lũ tà ma yêu quái thường nhiễu hại dân ở đây, cũng như chánh phủ thanh trừng bọn tham quan ô lại vậy. Và thường năm phải thi hành đều đều như vậy mới tránh được bệnh trời tức là bệnh thổ tả.
B. lệ du hồ, chưng cộ bát tiên
Đồng thời với cái tục Ông lên, người xã Long Sơn còn cái lệ
bất di bất dịch là du hồ chưng cộ bát tiên. Được thế là nhờ nền kinh tế ở đây thật dồi dào và sự đoàn kết chặt chẽ của đồng bào.
Hơn nữa là xóm huyện đã đào tạo được nhiều tay thờ chuyên bong ghe du hồ và xây hòn non bộ chưng cộ rất khéo. Để phụ
họa vào cái lệ đặc biệt này, họ còn tổ chức một giàn trống xuất sắc gọi trống Tiều.
Sau cả tuần lễ chuẩn bị xong các nghi thức cuộc giải trí, đến chiều ngày 15 tháng giêng âm lịch, giàn Trống Tiều bắt đầu nổi lên vang dội khắp miền quê làm cho các ngành sinh hoạt đều ngưng hẳn. Mọi người đều nô nức sửa soạn những bộ đồ vía để đón tiếp một thú tiêu khiển hiếm có sau ngày tân xuân. Bởi vậy người ta cho lệ du hồ chưng cộ này là ngày Tết thứ nhì của quận Tân châu.
Khi mặt trời sắp chen lặn thì cùng lúc chị Hằng nga từ từ
vén màn ngó xuống chốn trần gian. ngọn gió nhẹ nhàng lướt 304
Diện hình và Tổ chức
qua. Mặt nước nhấp nhô những làn sóng bạc. Trên lòng rạch cái Vừng vượt lên năm bảy con thuyền bong rất mỹ thuật. các ngọn hoa đăng sáng ánh một vùng, xa trông như một thành nổi.
Đồng thời trên bộ tiến lên năm, mười chiếc cộ. Một chiếc cộ
một hòn non bộ mà trên đó ngất nghểu một vị Bát tiên, người xem lầm tưởng là cảnh non bồng.
Thật không có chi ngoạn mục cho bằng: trên sông Tiền hiện lên đàn ghe du hồ, trên bộ thì đàn cộ đèn nối đuôi nhau từ từ
tiến lên quận lỵ giữa biển người hòa với tiếng trống Tiều inh ỏi dường như đoàn quân chiến thắng vẻ vang đang ồ ạt vào khải hoàn môn trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của toàn dân.
Nguyễn Văn Kiềm
lễ VíA Bà TạI Xã VĩNh Tế
Làng Vĩnh Tế thuộc quận châu phú, tỉnh châu Đốc (An Giang), là một làng rộng lớn, dân cư trù phú. Làng ở chân núi Sam, tên chữ gọi Vĩnh Tế sơn. núi Sam là một ngọn núi khá cao ở cách tỉnh lỵ châu Đốc năm cây số, trên con đường châu Đốc đi Tịnh Biên.
Ở chân núi Sam, về mé bên kia đường có miếu bà chúa Xứ, xây lưng ra mặt đường, và mặt tiền nhìn xuống ruộng, hướng Đông Bắc.
Trong miếu có thờ một thần tượng cao 1 thước 25 nặng hơn một tấn.
Theo những lời truyền khẩu thì miếu này xây vào khoảng năm 1825 và sự tích bà chúa Xứ như sau:
Trước kia trên đỉnh núi Sam có một pho tượng cổ từ đệ lục đệ thất thết kỷ, tọa ngự trên một bệ đá xanh, đó là tượng Bà.
Tục truyền rằng, cách đây chừng 140 năm, quân Xiêm xâm lấn nước ta, gặp tượng Bà, định đem về nước làm quốc bảo.
“Chúng đã cạy tượng Bà lên khỏi bệ đá xanh, và định khiêng xuống núi, nhưng dầu bao nhiêu người, chúng cũng không khiêng nổi, tượng linh có sức nặng vô cùng.
Chúng tức giận dùng súng đồng bắn tượng Bà gãy một cánh tay. Thủ phạm bị trừng phạt, hộc máu chết tại chỗ.
“Không khiêng được tượng, chúng đành về nước, bỏ tượng Bà ở giữa núi rừng lặng lẽ hoang vu”. Sau người Việt Nam ta tìm thấy tượng, có ý cung kính thờ phụng, định dời đi nơi khác lập miếu khói hương, nhưng với bao nhiêu người lực lưỡng cũng không khiêng nổi.
Mọi người lấy làm bối rối, thì Bà nhập đồng cho biết Bà là bà Chúa Xứ và dạy phải chọn chín cô trinh nữ, tắm gội sạch sẽ
lên đỉnh núi cao rước Bà về.
“linh hiển thay, các cô đồng nữ đặt tay vào khiêng tượng nhẹ
nhàng, đi không mệt nhọc rồi đến một nơi, tượng trì lại không khiêng nổi nữa, đành phải hạ tượng Bà tại đó.
Các bô lão cho rằng Bà muốn ở đó, nên lập miếu Bà ở chân núi Sam hiện nay. Miếu lá dựng lên bắt đầu từ đó”(1) Miếu là về sau được dân làng kiến trúc miếu ngói thay thế, rộng rãi và đẹp đẽ.
“Tại miếu Bà, ngày đêm nhang đèn nghi ngút.
“Ngày đêm thường có người đến lễ bái, chiêm ngưỡng nhất là xin xâm.
“lễ Vía Bà nhằm ngày 25 tháng tư âm lịch mỗi năm.
“Cuộc lễ thường kéo dài trong ba ngày (24, 25, 26 tháng tư).
1. Thần liên Lê Văn Tất. - Sự tích miếu Bà núi Sam. - Nhà xuất bản Phong Vân, Châu Đốc, 1960.
2. Thần liên Lê Văn Tất. - Sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
“Trong ngày lễ, thiện nam tín nữ bốn phương tề tựu về đông đảo. Dân chúng từ Cà Mau, Bạc liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ cho đến Sài gòn, Mỹ Tho v.v... cũng tựu về.
“Cảnh núi Sam bỗng trở nên náo nhiệt. Cây chen đá, lá chen hoa, đang ngủ say trong cảnh tĩnh mích, bỗng dưng bừng mắt dậy. Rộn rịp! (1)
Trên đây là bốn hội làng đơn cử ra với mỗi nơi một sắc thái riêng biệt qua các địa phương từ Bắc vào đến Trung, nam. Rất tiếc không thể trình bày thêm nhiều hội làng khác trong khuôn khổ tập sách này. Một dịp khác, soạn giả sẽ mong được trình bày về nhiều hội làng hơn với các hèm của chư thần qua các thần tích với nhiều điều thật là đặc biệt của nhiều địa phương.
TàI LIệU Đọc THêM
tụC giao hảo kỳ lạ giữa hai làNg
Phú Đa và triNh Nữ
K hi nói tới tục giao hiếu hơn, tuy có nhiều điều không giữa các xã, tôi đã nhắc tới
còn hợp với ngày nay.
sự giao hảo giữa hai làng Phú
Tục giao hảo kỳ lạ giữa hai
Đa và Trinh Nữ, thuộc phủ
làng Phú Đa và Trinh Nữ bắt
Bình Giang, tỉnh Hải Dương
nguồn từ đâu?
(Hải Hưng) với tục lệ đặc biệt
Theo lời các cụ bô lão kể lại
là trai gái hai làng này không
thì Thành hoàng của làng Trinh
được lấy lẫn nhau.
Nữ là một người đàn bà quê
Dưới đây là chi tiết thêm về
mùa ở Phú Đa xưa kia. Bà về
tục giao hảo kỳ lạ này với đám
làm dâu làng Trinh Nữ được ít
rước hàng năm khi hai làng mở
lâu thì một hôm làng chồng bà bị
hội. Ngoài tục lệ trên, giữa hai
giặc kéo đến vây phá, Trong lúc
làng này còn nhiều tục lệ đặc
thập phần nguy nan, bà can đảm
biệt khác nữa.
tìm cách vượt trùng vây của giặc,
Nhắc lại những tục lệ này,
chạy về làng mình khẩn khoản
tôi không dám nói là tốt hay
xin người làng Phú Đa đến cứu
xấu, mà tôi chỉ có mục đích
giúp làng chồng. Dân làng Phú
trình bày những hình ảnh xa
Đa liền kéo sang đánh đuổi bọn
xưa giờ đây không còn nữa.
giặc tơi bời, và từ đó hai làng
Hình ảnh này là những dấu cũ
giao hảo với nhau rất mực thân
của văn hóa dân tộc, chúng ta
thiết. Đi đường gặp nhau, họ
cũng nên biết để hiểu rõ tổ tiên
không bao giờ chào hỏi bằng
Diện hình và Tổ chức
những danh từ thông thường mà
Phú Đa nọ sẽ lập tức tìm kiếm
phải kính cẩn kêu nhau bằng
những người làng Trinh Nữ có
“Ông chạ bà chạ” cho dù cả hai
mặt trong chợ tới để phân bua:
đều còn rất trẻ tuổi đi nữa.
Thưa các ông chạ bà chạ, tôi
Gặp nhau ở giữa đường một
đang mua món hàng này có bà
người hỏi thăm trước:
hàng làm chứng, bỗng nhiên ông
Kính thưa ông chạ, ông chạ
chạ đây ở đâu tới giả hơn giá để
vẫn mạnh chứ ạ? Bà chạ nhà
mua tranh của tôi. Xin các ông
ta sinh ông hay sinh bà? (tức là
chạ bà chạ chứng kiến dùm tôi...
sinh con trai hay sinh con gái).
Sự việc phân bua không phải
Người kia liền đáp:
đến đó là chấm dứt đâu. Vì sau
Cảm ơn ông chạ, bà chạ nhà
đó người kia về làng thuật lại
tôi mới sinh ông...
cho mọi người biết và lập tức
Người cùng làng với nhau có
người làng Phú Đa sẽ bắt vạ
thể ghét nhau thậm tệ, nhưng
người làng Trinh Nữ. Nếu bên
trái lại khi người làng Trinh
Trinh Nữ không chịu nhận lỗi
Nữ gặp người làng Phú Đa,
thì tình giao hảo giữa đôi bên sẽ
hay ngược lại, thì tay bắt mặt
coi như chấm dứt. Nhưng được
mừng tựa hồ như người trong
cái từ bao nhiêu năm nay đã trôi
thân thích vậy. Họ hết sức
qua rồi, người ta chưa hề bao giờ
nhường nhịn nhau, không hề
thấy bên có lỗi mà lại không chịu
bao giờ dám có một cử chỉ hay
nhận lỗi cả. Nếu người phạm lỗi
một lời nói nào thất thố cả, vì
không nhận, thì chính toàn thể
sợ bị... bắt vạ. Thật thế, trong
dân làng phải góp tiền lại mua
một phiên chợ, nếu người làng
lễ vật, tùy theo bên bắt vạ đòi hỏi Phú Đa đang mặc cả mua một
những món gì, mà sang nộp vạ.
món đồ nào đó chẳng hạn bỗng
Lẽ dĩ nhiên trong trưòng hợp đó
có một người làng Trinh Nữ đi
thì kẻ phạm lỗi mà ngoan cố kia
ngang qua ghé vào trả giá cao
sẽ bị khinh ghét, khó lòng sống
hơn để mua tranh, thì người
nổi ở làng nữa.
Tục lệ giao hảo kỳ lạ đó
Hàng năm sau ngày Tết
không những được người dân
Nguyên đán ít lâu, vào ngày
hai làng gìn giữ nghiêm trọng
mười bảy tháng hai âm lịch là
ở ngoài Bắc mà có nhiều dân
ngày làng nọ phải rước ‘‘Chạ”
làng Phú Đa và Trinh Nữ vào
sang bên làng kia theo tục lệ cổ
trong Nam làm ăn, nếu để xảy
truyền. Rước Chạ tức là rước
ra chuyện rắc rối xích mích đại
ông Thành hoàng của làng
loại kể trên, khi có dịp về thăm
mình sang làng bạn, rồi sau khi
quê nhà họ cũng lôi ra để bắt vạ dự cơm khoản đãi ở bên đó lại nhau như thường.
rước về. Cứ mỗi năm rước một
Giữa hai làng Phú Đa và
lần vào đúng ngày tháng trên,
Trinh Nữ ngoài tình giao hảo
và hai làng đổi phiên cho nhau!
như đã nói bên trên còn có một
Năm trước bên làng Trinh Nữ
tục lệ khác rất khe khắt là không
đã rước Chạ họ sang bên Phú
bao giờ trai gái hai làng được
Đa rồi thì năm sau đến lượt
phép kết hôn với nhau. Trai Phú
làng Phú Đa phải rước Chạ của
Đa có thể lấy vợ cùng làng hoặc
mình sang đáp lễ bên Trinh Nữ.
gái Trinh Nữ có thể lấy chồng là
Đúng ngày mười bảy tháng
một chàng trai nào đó cùng làng
hai khoảng tám giờ sáng, các
Trinh Nữ; tuyệt nhiên gái Phú
quan viên làng rước Chạ tề tựu
Đa muốn làm dâu bên Trinh
đông đủ ở đình làng. Người nào
Nữ, hay ngược lại, thì đừng có
người ấy đều khăn áo chỉnh tề.
hòng. Sở dĩ hai làng tuân theo
Mọi việc đã cắt cử xong xuôi.
tục lệ nghiêm khắc đó một cách
Bọn trai trẻ được lãnh việc
tuyệt đối là vì họ quan niệm
khiêng kiệu. Chiếc kiệu sơn
rằng người hai làng đã coi nhau
son thiếp vàng, có những đòn
như anh em ruột thịt rồi, không
rồng, trông rất nguy nga tráng
bao giờ được gả con cái cho
lệ. Trên kiệu có một ngai thờ
nhau nữa. Nếu làm trái chẳng
cũng sơn son thiếp vàng chói
hóa là phạm tội loạn luân sao?
lọi. Chiếc ngai đó được rước từ
Diện hình và Tổ chức
trong đình ra và là một vật tối
giữ tuyệt đối im lặng, không ai
linh thiêng của cả làng. Một
nói qua một lời nào cả. Tục lệ cổ
người đi sau cầm một cái lọng
xưa bắt phải như vậy. Nếu ai mở
lớn để che cho ngai thờ. Đám
miệng nói tức là phạm lỗi, năm
rước Chạ bắt đầu khởi hành...
sau sẽ phải nộp vạ cho làng kia.
Kể ra thì cỗ kiệu đòn rồng
Sau khi kiệu đã vào đến sân
cũng nhỏ thôi, chỉ năm sáu
đình, từ từ hạ xuống, lập tức
người khiêng là dư sức rồi.
người ta liền rước ngai thờ của
Nhưng vì muốn cho tăng thêm
làng khách vào đặt song hàng với
phần long trọng nên các quan
ngai thờ của làng chủ. Những
viên trong làng cắt cử tới mười
người không phận sự hoặc đi
hai người ghé vai lên các đòn
coi rước, khi đến cổng đình phải
rồng khiến người xem có cảm
dừng lại, không ai được vào. Bởi
tưởng cổ kiệu như nặng lắm.
vậy trong đình lúc đó chỉ toàn
Rồi thì cờ quạt, chiêng trống dàn
những đàn ông, không có qua
thành một hàng thẳng tắp, tạo
một bóng đàn bà con gái.
cho khung cảnh đám rước có một
Tới đây, một hồi trống tế bắt
vẻ nhộn nhịp đẹp mắt lạ lùng.
đầu nổi lên. Quan viên hai làng
Đám rước Chạ từ làng nọ tới
Phú Đa và Trinh Nữ bắt dầu
làng kia đi băng qua đồng đến
cúng tế một tuần rượu để mừng
gần chính ngọ thì tới cổng làng.
hai vị Thành hoàng nhân buổi
Tại đây, các quan viên làng chủ gặp gỡ hàng năm này. Cuộc cũng khăn áo chỉnh tề đã đứng
tế cũng diễn ra trong một bầu
tề tựu đông đủ để đón tiếp. Họ
không khí hoàn toàn im lặng.
theo sau đám rước Chạ để đi
Ngoài tiếng trống tiếng chiêng
thẳng đến đình làng mình.
để làm hiệu lệnh, ngoại giả
Đám rước chạ đi một cách
không còn một tiếng gì khác, kể
hết sức thong thả trang nghiêm.
cả những tiếng hô xướng hoặc
Những người rước kiệu cũng
đọc chúc như ở các cuộc tế lễ
như những người đón kiệu đều
bình thường khác.
Sau cuộc tế kỳ lạ kể trên, đến
Đồng thời, bên cạnh ả ca nhi là
phần nhập tiệc. Các quan viên
một anh kép đàn đầu đội khăn
làng khách được mời cứ bốn
đen, tay ôm một cây đàn đáy có
người ngồi vào một cỗ, ăn uống
ba dây cũng bắt đầu gẩy những
tự nhiên. Trong khi đó thì các
cung đàn phụ họa. Nét mặt anh
quan viên làng chủ cắt cử nhau
ta như nhăn hẳn lại, cặp mắt
đứng ngoài hầu tiếp rất chu đáo lim dim mơ màng cố nắn những nhưng cũng là để quan sát bắt
âm thanh cung bực cho thật
lỗi những ông khách nào vô ý
ngon ngọt. Ả ca nhi lấy giọng
vô tứ có những cử chỉ hoặc lời
hát theo điệu ‘‘Hát Giải” tức là
nói vi phạm đến cổ tục. Chẳng
một loại hát nói thường hát ở
hạn như trong lúc ăn, khách vô
cửa đình, hát một câu mừng sự
tình trật khăn trên đầu ra, gãi
giao hiếu của hai làng:
đùi gãi bẹn hoặc vì men rượu
Xinh thay mấy Thiên thai
chuếch choáng chót buột mồm
cảnh lạ
nói chuyện với người bên cạnh
Dưới trần gian một áng non
v.v... Tục lệ từ xưa để lại cấm
bồng
các quan viên hai làng trong
Sườn non mây kéo ngất trên
lúc tế lễ hoặc dự tiệc tại đình
không
làng bạn, không được trật khăn,
Cửa động gà kêu vang dưới
sờ gãi, và nhất là không được
nguyệt
nói năng một tiếng nào cả.
Bích sa động lý càn khôn
Trong khi các quan viên làng
biệt
khách đang ngồi ăn uống như
Hồng thụ chi biên nhất
trên, thì tiếng phách bỗng nổi
nguyệt trường(1)
dậy, tiếp theo là tiếng một ả ca
Nước lao xao điểm rót khúc
nhi cất cao giọng hát giúp vui.
sinh hoàng
1. Sắc biếc trong động ngăn cách với đất trời. Cây cổ thụ bên cạnh chứng tỏ
sự trường tồn với tháng năm.
Diện hình và Tổ chức
Mây lơ lửng mỉa mai con
Các quan viên làng khách
điểu tước
và các quan viên làng chủ chịu
Hoan hớn hở sắc vàng chen
khó đứng hầu nhau chăm chỉ
sắc biếc
nhưng có những cặp mắt cứ
Nức hai bên như đón rước
hau háu rình mò bắt lỗi trong
người
khi ca nhi vẫn êm ả cất tiếng
Lạ lùng thay cảnh Thiên thai...
hát họa cùng với tiếng đàn đáy.
Việc rước Chạ từ làng nọ
Đàn đáy là một cây đàn dài,
sang làng kia là một tục lệ bắt
dây dài và hơi chùng không
buộc giữa hai làng, người ta
giống bất cứ một loại đàn nào.
dù không muốn cũng vẫn phải
Chính nhờ sợi dây hơi chùng
làm. Bởi vậy trừ các vị bô lão
mà khi nắn cung bậc tiếng đàn
ra thì không kể, còn bọn trai trẻ
có một âm thanh nũng nịu,
ai cũng muốn ăn uống cho mau mơn trớn. Có lẽ các cụ nhà ta để còn về. Đó cũng là vì lý do
xưa kia đã phải bỏ ra nhiều thì
ngồi ăn uống mà không được
giờ và công phu nghiên cứu nên
phép nói năng gì, ai cũng phải
mới có thể tạo ra được một cây
lấy làm bức rứt.
đàn có cái âm thanh tài tình
Cho nên hàng năm, trai
hợp người hợp cảnh đến như
tráng hai làng nếu ai được cử
vậy. Thật thế, vị nào không tin
vào đám rước Chạ sang làng
xin cứ hỏi lại những ai đã từng
bên trong bụng đều không lấy
đi hát ả đào, xem có phải tiếng
gì làm sung sướng lắm. Nó như
đàn đáy khi gẩy lên nghe nũng
một công việc có tính cách bắt
nịu rất mực, như phụ họa với
buộc đối với các anh thì đúng
những lời nói êm đềm của các