Làng Xóm Việt NamPartie 16

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

“Thượng Đẳng Tối Linh” hoặc “Lịch Triều phong Tặng”.

Rồi đến phường kèn trống, gọi là phường đồng văn với trống khẩu, thanh la, sinh tiền.

Sau đến cờ lệnh, kiếm lệnh, sau nữa là phường bát âm.

Sau phường bát âm tới long đình tức là kiệu có mái.

Rồi lại đến cờ quạt tàn lọng gươm đao để đi sau hết là long kiệu. Long kiệu không có mái, trên có mũ mãng đã phong từ

tối hôm trước.

Rồi đến các quan viên đi theo.

các chân đi trước, chân kiệu, cờ, đồng văn, bát âm đều do dân làng cắt cử. những người này phải trai khiết từ hôm trước và phải tắm rửa sạch sẽ. phần nhiều những người được cắt cử đều là trai làng hoặc gái làng, những người này phải sắm sửa quần áo, thường nam thì khăn đóng áo dài, thắt lưng điều ngang lưng, gọi là thắt lưng bó que, còn nữ thì áo cặp tứ

thân hoặc năm thân, cũng thắt lưng điều ngang bụng trông rất gọn gàng. Quần áo phải đồng màu, nam khăn đen, áo dài đen, quần trắng, còn nữ hoặc áo màu nâu, thắt lưng điều hoặc một màu sặc sỡ khác.

các chân nữ được gọi là phù giá, chỉ những làng nào thờ các vị nữ thần mới có.

Trong lúc đi rước, khiêng kiệu thánh ông do chân kiệu nam, kiệu thánh bà do chân kiệu nữ. Đi sau kiệu thánh bà, có các cô phù giá đội những tráp khảm, quả trầu đựng đồ lễ.

Rước đi từ đền đến đình, qua đường làng. Dân làng hoặc đi theo đám rước, hoặc đứng ở hai bên đường xem đám rước đi qua.

các cô thôn nữ thường trong những dịp này ngắm nhìn kỹ

lưỡng những chàng trai có chân kiệu, chân cờ, chân đồng văn, chân bát âm v.v... đã từng để ý tới các cô. Và các chàng trai, chân tuy bước theo đám rước, nhưng mắt vẫn nhìn sang hai bên để

tìm kiếm người đẹp các chàng vẫn hằng mong ước mà các chàng tin rằng thế nào cũng có mặt trong đám dân làng đi xem rước.

Đám rước đi chầm chậm trong trật tự.

Diện hình và Tổ chức

Long đình long kiệu có khi bay. Đó là do các chân kiệu bị tự

kỷ ám thị cùng nhau đi mau, đi mau hơn mãi, hình như bị thúc giục, hoặc có khi vì người ngoài đi xem đông quá xô đẩy, các chân kiệu không kìm giữ được nên bước mau. Tục tin là Thánh giáng cho nên kiệu bay. Trong lúc này mọi người khấn vái, và những nhà ở hai bên đường vừa khấn vái vừa thắp hương.

Đám rước đi tới đình, kiệu được rước vào trong đình và thần vị được đặt lên bàn thờ.

ĐạI Tế

Thần vị đã đặt lên bàn thờ, dân làng dâng đồ lễ tế một tuần long trọng.

các vị quan viên được cử vào việc tế, gồm một vị chủ tế đứng mạnh bái, hai hoặc bốn vị bồi tế, hai người đông xướng và tây xướng, hai người nội tán, từ mười tới mười hai người chấp sự.

Thường ông tiên chỉ đứng chủ tế, còn các người khác đều kén chọn trong những người có chân khoa mục hoặc chức sắc trong làng.

lễ TúC TRựC

Trong suốt thời gian vào đám, mỗi tối dân làng đều có trầu rượu hoa hương cúng thần do các vị bô lão và quan viên làm lễ.

Một số người được cắt canh, trong đó có ông cai đám, tại đình để chầu chực hầu hạ thánh cho đến khi rã đám.

XướNg CA

Tại nhiều làng tối hôm rước thần vị về đình và có khi luôn mấy hôm sau, dân làng có tế thần. Trong những buổi tế này, mỗi tuần hiến rượu lại có ca nhi hát thờ thần. Tế xong ban hát, có khi là ả đào, có khi là hát bội, hát chèo, hát chúc thánh mừng dân suốt đêm. Trong lúc này, các bô lão và quan viên được cử

cầm trống chầu.

TuyêN lờI KháNh ChúC

Tại nhiều làng, trong khi mở hội có tục tuyên lời khánh chúc.

Thường lời khánh chúc được tuyên đọc sau buổi tế thần. Đây là một bài trường thiên từ phú, nội dung tả cái cảnh thanh bình của dân làng với tất cả những điều tốt đẹp làng xã được hưởng, có nhắc tới cả những danh lam thắng tích trong làng, để đoạn chính kể lại những công đức của đức Thành hoàng, nhờ ngài mà dân làng được thịnh vượng bình yên, nhờ ngài mà được phong đăng hòa cốc, và nhất là nhờ ngài mà bao nhiêu thiên tai dịch khí đã tránh được. Đoạn kết của lời khánh chúc là dân làng dâng lên ngài sự biết ơn và cầu xin ngài luôn luôn phù hộ cho dân làng được an cư lạc nghiệp.

Để lời khánh chúc được tuyên đọc long trọng, dân làng có giải thưởng cho những người lên đọc.

Thường có ba giải thưởng bằng khăn nhiễu điều, chè tàu, trầu cau hoặc đồ văn phòng tứ bảo như bút lông mực tàu.

Ai cũng có thể xin lên đọc lời khánh chúc được, dân làng hoặc người hàng tổng hàng huyện, hoặc bất cứ một người nào tới dự hội làng.

Khi đọc, dân làng cắt một tay văn tự cầm trống, hễ sai một tiếng hoặc sai một chữ thì đánh một tiếng cắc, bỏ một thoi vàng làm thẻ, người nào sai nhiều, số thoi vàng sẽ nhiều. những người tốt giọng, đọc trơn tru gãy gọn từ đầu đến cuối, không sai chữ

nào, không ngập ngừng ngắc ngứ thì được giải. phần định giải cho những người cùng đọc trơn tru không sai chữ nào, tùy theo các cụ trong làng, người tốt giọng, đọc dõng dạc nhất được tặng giải nhất, rồi đến những ai đọc kém dõng dạc hơn được giải nhì và giải ba.

Thường rất nhiều người xin được dự đọc lời khánh chúc, vì đây là một dịp chứng tỏ cho dân làng biết mình cũng là tay văn 270

Diện hình và Tổ chức

tự, đọc thông từ phú, nhất là các chàng trai muốn nhân dịp khoe tài với gái làng. ngoài ra, được giải thưởng là một điều vinh dự.

Số người xin dự đọc thường nhiều, nên những ai đọc quá ngập ngừng và sai quá mười chữ, thì vị quan viên cầm trống mời ra ngay, để người khác vào đọc.

Dân làng cũng như dân các làng lân cận rất ưa xem cuộc thi đọc lời khánh chúc. những người đọc trơn tru được mọi người ngợi khen, trái lại những người quá kém, đọc sai nhiều, lại ngắc ngứ thường tự thẹn thùng khi bị mời ra để cho người khác đọc thế.

các cô gái làng đứng ở hai bên cùng nhau tủm tỉm cười với những lời bàn tán, mỗi khi một chàng trai gặp trường hợp trên.

cuộc tuyên lời khánh chúc thật là vui, vui cho người xem, vui cho các cụ trong làng phân định giải và vui cả cho những người được đọc hết lời khánh chúc dù không được giải.

Rã ĐáM

Hội hè chừng khoảng mươi mười lăm ngày, tùy theo từng làng, tới ngày rã đám. Rã đám nghĩa là tan hội. cũng có làng kéo dài hội hè đến hàng tháng, khi làng tổ chức đại hội, mới rã đám.

ngày rã đám, dân làng tổ chức thêm một tuần đại tế tại đình làng.

Sau đó, thần vị lại được rước hoàn cung, nghĩa là rước trở về

đền hoặc miếu, nơi thần linh thường hằng y an ngự.

Đám rước cử hành ngay sau tuần đại tế, hoặc có khi vào buổi chiều hay buổi tối. Rước vào buổi tối có thêm đèn đuốc rất vui.

nghi trượng rước vẫn theo như hôm rước thần vị từ miếu tới đình.

Tại nhiều xã, trong ngày rã đám có những cuộc vui đặc biệt và rất được hoan nghênh, và những cuộc vui này bao giờ cũng chỉ dành vào đêm hoặc ngày rã đám. Dưới đây là mấy thí dụ: Làng Thị cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) hôm rã đám có tục thi ném pháo. Một quả pháo đại treo trên cột cờ, dân

làng dùng pháo nhỏ đốt ném lên pháo đại, làm sao để pháo nhỏ

nổ, bén lửa sang ngòi pháo đại cho pháo đại nổ theo thì được giải.

Làng Thị cầu vào đám vào mùa thu, từ mồng bảy đến ngày 16 tháng tám thì rã đám.

Làng Dã La, tục gọi là làng nam ở Hà Đông (Hà Tây) mở

hội từ mồng sáu cho đến mười hai tháng giêng. Tối hôm rã đám làng này có một tục rất kỳ lạ trong khi tế rã đám. Tối hôm đó, toàn thể dân làng, nam, phụ, lão, ấu, con gái bà già, có vợ có chồng hay còn son trẻ đều có mặt tại đình làng để dự cuộc tế rã đám. cuộc tế chỉ bắt đầu khi trời đổ tối. Dân làng thắp đèn để tế.

Khi cuộc tế vừa dứt, bao nhiêu đèn nến đều tắt hết và trong đình tối om om.

Trong lúc tối om này, dân làng tha hồ mà sờ soạng lẫn nhau; Ông già sờ được cô gái trẻ, cậu trai mười tám nắm phải bà già.

Tắt đèn ai biết ai.

Đèn tắt để dân làng đùa cợt sờ soạng lẫn nhau một lúc lâu, đèn lại thắp lên. Và tế rã đám đã xong.

có câu ca dao:

Bơi Dăm, rước giá, hội Thầy

Vui thì vui vậy chẳng tầy rã đám Dã la.

*

* *

Đại để về lễ nghi tế tự của các hội làng thường có các cuộc cúng lễ rước tế như trên.

Được dự vào các cuộc tế lễ là một điều vinh dự và phải là những bậc đàn anh trong làng, còn dân làng thường chỉ được tham dự vào những cuộc rước sách xung chân cờ, chân kiệu, chân đồng văn, chân nhã nhạc nhưng như thế họ cũng đủ lấy làm sung sướng vì họ đã được phục dịch thần linh. Họ không bao giờ nệ tốn kém vì phải sắm sửa áo quần để đúng với y phục trong lúc rước lúc lễ.

Diện hình và Tổ chức

Trong suốt thời gian dân làng vào đám, cửa đình làng mở rộng cờ quạt tàn tán cắm la liệt ở sân đình ở trước cửa tam quan. Luôn luôn có tiếng trống làng, luôn luôn trong làng có một không khí tưng bừng náo nhiệt với cờ ngũ sắc phấp phới, với thanh nam thanh nữ áo quần lòe loẹt kéo nhau đi xem rước, đi xem tế, đi dự những cuộc vui.

Và cũng trong thời gian này cửa chùa làng cũng mở để dân làng tới lễ nhân dịp hội làng, và cũng để cho khách thập phương tới xem hội, có dịp viếng thăm cảnh chùa lễ phật.

Tại nhiều làng, trong các ngày hội, có một ngày dân làng cử

hành đám rước thần vị từ đình tới chùa để đức Thành hoàng lễ

phật và nghe kinh.

Làng Thị cầu tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) trong thời gian hội làng, vào ngày mười hai tháng tám, dân làng có tổ chức đám rước thần vị từ đình làng đến chùa Điều, một ngôi chùa ở đầu làng, và thần vị cũng như Long kiệu được lưu tại chùa một đêm ở nhà bái đình.

Sáng hôm sau, mười ba tháng tám dân làng rước thần vị trở lại đình.

Theo lời các cụ trong làng thì ngày mười hai tháng tám, đức Thành hoàng tới chùa lễ phật và đêm đó ngài ở lại nghe kinh.

Trong đêm này, các vị sư ni trụ trì tại chùa, đây là một chùa sư

nữ, luân phiên nhau gõ mõ tụng kinh trước phật đài. Một số các quan viên đi rước phải thay phiên nhau vào lễ kinh, còn những người khác thì chầu chực ở nhà Tam quan. Bát hương trên kiệu thần, trước thần vị cũng như bàn thờ phật đèn hương suốt đêm.

các chân kiệu chân cờ cũng như các chân đi rước khác, ngoại trừ các vị quan viên có phận sự chầu chực thần vị, sau khi rước kiệu thần vị lên nhà bái đình đều ra về để ngày hôm sau lại tới chùa rước kiệu trở về.

Tại chùa đêm đó, quang cảnh tấp nập, vì dân làng nhân dịp này kéo nhau tới lễ phật nghe kinh, và các khách thập phương cũng nhân dịp này tới thăm chùa.

cùng với việc tụng kinh tại chùa, những trò vui buổi tối của hội làng như tổ tôm điếm, hát chèo v.v... nếu có, vẫn tiếp tục để

dân làng và dân các làng lân cận tới xem hội mua vui.

hội Chùa

Từ trên mới nói về các nghi lễ tế tự của hội làng tổ chức nhân dịp làng vào đám và liên quan tới đức Thành hoàng. Thực ra khi nói về hội làng phải nói tới cả hội chùa tại các làng.

chùa thường mở hội vào dịp kỵ nhật vị sư tổ đầu tiên của ngôi chùa.

Hội là hội chùa, nhưng sự tổ chức cũng phải được sự đồng ý, nhất là sự bảo trợ của ban hội đồng kỳ mục trong làng.

Thường trước ngày hội, ban hội đồng được nhà chùa xin phép và mời hội ở tam quan chùa để ấn định chương trình của ngày hội. Tuy gọi là hội chùa nhưng ngoài việc tụng kinh lễ phật, cũng có tổ chức những trò vui như đánh đu, cờ người, cờ bỏi v.v... để dân làng mua vui. Ban hội đồng kỳ hào ngoài việc bảo trợ về tinh thần cho nhà chùa, còn giúp đỡ thêm cả tài chính để tổ chức những cuộc đàn chay; những chi phí về các trò vui cũng do quỹ làng gánh vác.

nhân dịp giỗ sư tổ này, nhà chùa làm cỗ chay trước là cúng phật, sau là cúng sư tổ. cúng xong, nhà chùa khoản đãi dân làng tới lễ.

những người đi lễ, ăn bữa cơm chay, tục gọi là thụ trai đều tự ý góp tiền bạc nhiều ít để giúp đỡ nhà chùa. Thụ trai xong, khi ra về họ được nhà chùa tặng lộc phật gồm oản, chuối.

Oản do nhà chùa đồ xôi rồi đóng thành oản, còn chuối, một phần do nhà chùa mua ở chợ, nhưng phần lớn do các thiện nam tín nữ mang tới lễ phật với trầu cau hương nến.

Trong những ngày hội chùa, các bà vãi thường tới chùa kể

Diện hình và Tổ chức

hạnh, nghĩa là tụng những bộ kinh nhắc lại sự tích đức phật và chư vị bồ tát với đức hạnh của các người. Thường các bài kể

hạnh hay nhắc tới sự tích Quan Âm Thị Kính với những sự hàm oan của người.

NhữNg trò vui xuâN

ngoài phần tế tự, hội đình cũng như hội chùa có những trò vui xuân làm tăng sự nhộn nhịp cho ngày hội, và chính những trò vui xuân này đã khiến cho người ta nô nức kéo nhau đi xem hội, và trai gái làng thường cũng nhân trong những trò vui xuân này mă gặp gỡ hẹn hò nhau.

các cụ gọi những trò vui này là trò bách hí, nghĩa là một trăm trò vui.

Bách hí là các trò vui, mỗi trò đều có treo giải. giải treo nhiều ít tùy từng làng, nhưng giải nào cũng có phân làm hai ba hạng, giải thưởng hoặc tiền, hoặc nhiễu, hoặc quạt tàu, chè tàu, v.v... hạng nhất thì được giải to, hạng kém thì được giải nhỏ, còn kém nữa thì gọi là giải hàng. (1) có nhiều trò vui, tuy làng có treo giải, nhưng những người tham dự thường không dự giải, mà chỉ lấy sự tham dự làm vui.

Tỷ như các trai gái vùng Bắc ninh dắt nhau tới hội để hát quan họ, họ lấy sự hát với nhau làm thú, dù làng mở hội có treo giải, cũng rất nhiều bọn không vào dự giải mà họ chỉ cùng nhau đứng bên bờ ruộng, đằng sau đình, hoặc trước sân chùa để cùng hát với nhau. những bọn hát này có khi là người làng, có khi là trai gái các làng lân cận kéo nhau tới. Gặp gỡ nhau được hát với nhau là họ toại nguyện, họ thực rất ít để ý tới những giải thưởng của làng nên họ không vào dự hát giải.

1. Phan Kế Bính - Việt Nam Phong tục

Lại cũng như thú đánh đu ngày hội. Hội hè tại các tỉnh Bắc ninh Bắc Giang (Hà Bắc) thường hội nào cũng có cây đu, có làng trồng hai ba cây đu trong dip hội. Trai gái kéo nhau tới hội, thấy cây đu là rủ nhau lên đánh đu. Được đánh đu với nhau là họ thỏa mãn, không bao giờ họ nghĩ đến việc đánh đu lấy giải.

chính vì sự thờ ơ của trai gái với các cuộc thi đánh đu lấy giải, nên nhiều làng, trong khi mở hội có trồng mấy cột đu nhưng không đặt giải thì đánh đu.

Đu trồng lên đấy, trai gái làng hoặc trai gái thiên hạ, đã đến hội, ai muốn lên đánh đu cũng được, và càng đông người giành nhau cây đu, hội càng vui.

các trò bách hí thay đổi tuy từng hội của từng làng. Làng này mở hội với những trò vui này, làng khác lại mở hội với những trò vui khác.

Hội hè đình đám về mùa xuân thường kéo dài hết ba tháng xuân. ca dao có câu:

Tháng giêng ăn Tết ở nhà

Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè.

để nói lên sự nhàn rỗi của dân quê trong ba tháng đầu năm.

Lúc ấy là lúc vụ cấy chiêm đã hoàn thành mùa gặt tháng năm lại chưa tới, dân các làng quê có thì giờ nghỉ ngơi.

nói là ăn tết, cờ bạc và hội hè, nhưng chính ra trong ba tháng xuân là ba tháng của hội hè, ngoại trừ mấy ngày Tết đầu năm. có làng mở hội ngay từ ngày mồng ba Tết như làng Tích Sơn, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh phú), làng Lũng ngoại, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên Vĩnh phú, làng Mai Động, tổng Mai Điệp, Đại lý Hoàn Long, Hà nội; hoặc cũng có làng mở hội ngày mồng bốn Tết như làng Hữu chấp, tục gọi là làng chắp, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc), làng Bàn Giảng, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh phú).

Diện hình và Tổ chức

Và sau đó từ mồng năm tháng giêng trở đi, hết làng này đến làng khác mở hội. Hội hè để người dân quê vui xuân, nhất là ở miền Bắc. nơi đây, đất hẹp, dân đông, lắm đồi nhiều núi, kỹ

nghệ chưa mấy phát triển, chưa đủ thu hết thì giờ rỗi rãi của người dân quê trong mùa quân.

Suốt quanh năm đầu tắt mặt tối, làm buổi hôm, lo buổi mai, hết công việc đồng áng tới công việc vườn tược, dân làng quê rất ít dịp nghỉ ngơi để vui chơi, ca hát và ăn uống, chỉ có mùa xuân họ mới có thì giờ nhàn rỗi để cùng nhau chia vui trong những buổi hội hè.

Tại sao, được nghỉ ngơi dân ta không tìm thú vui riêng, cứ

phải có hội hè mới vui xuân được? Xin thưa, không kể tục lệ

hương ẩm nó ràng buộc người dân trong cuộc sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa, dân ta vẫn lấy sự quây quần xum họp làm vui, nên lúc vui người ta muốn hòa đồng cùng vui, niềm vui sẽ tăng lên gấp bội, người ta vui cùng dân làng, cùng những người làng trên xã dưới cùng tới thưởng thức những trò vui của hội làng.

những trò vui này thật nhiều, và có trò vui của người đứng tuổi như tổ tôm điếm, cờ người, cờ bỏi, thi thơ... nhưng nhiều hơn là những trò vui dành cho tuổi trẻ, cho các trai gái làng đang lớn trong tuổi yêu đương: đánh đu, hát quan họ, hát ví, bắt trạch trong chum... có những trò vui khuyến khích tinh thần thượng võ như đánh vật, đánh phết, đánh trung bình tiên, bơi thuyền, kéo co..., lại có những trò vui khuyến khích việc nữ công như

thổi cơm thi, thi cỗ, thi dệt vải... có nhiều nơi, có những trò vui nhằm cổ võ sự chăn nuôi gia súc: thi trâu bò, thi lợn gà... hoặc việc trồng trọt: thi dưa hấu ở làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường...

các trò vui ngày hội bao giờ cũng quyến rũ các nam nữ thanh niên, và thành phần đi xem hội thường ở trong lứa tuổi này. Đã đành rằng, có người già có người trẻ, và ai nấy tới hội đều tìm

thấy cái thú của mình. các bà già dến hội cũng có những thú riêng: đi chùa lễ phật, nghe kinh và nghe kể hạnh.

Đây là chưa kể nhiều làng có tục diễn lại các thần tích, với những giai đoạn lịch sử như hội làng phù Đổng có diễn lại tích phù Đổng Thiên Vương giết giặc Ân, hội làng Trường Yên, huyện Yên Mô tỉnh ninh Bình (Hà nam ninh) có diễn lại tích

“cờ lau tập trận” của vua Đinh Tiên Hoàng hoặc có những làng tổ chức những cuộc vui cả làng tham dự như làng cung Thuận, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây tục gọi là làng Me, hàng năm vào ngày hội mồng 4 tháng hai âm lịch, có tục cả làng đánh cá tại ao làng ở trước đình. nhân dịp này, tất cả trai làng đều xuống ao đánh cá, còn những người khác cùng với khách thập phương đứng vây trên bờ ao xem các chàng trai đánh cá với tiếng hò reo inh ỏi. các chàng trai hàng trăm người với hàng trăm cái vó, cái nơm, cái cụp cùng lội bì bõm ở dưới ao đuổi theo những đàn cá thật là nhộn nhịp.

các trò vui của hội quê, mỗi trò một vẻ, trong phạm vi một chương sách, rất tiếc chúng tôi không nhắc tới được nhiều.

Đi hội xuân để vui xuân, ngày vui nhàn rỗi người dân quê thường đi hội xuân để tham dự hoặc thưởng thức những trò vui của ngày hội. Và, những hội xuân này tuy gọi là hội làng nhưng vẫn hằng lôi cuốn được rất nhiều khách thị thành hàng năm tới xem hội với những trò vui hấp dẫn và lành mạnh.

Trước đây, ai đã ở Hà nội, chắc còn nhớ quang cảnh ngày hội Lim tổ chức trên đồi Lim, tên chữ là Hồng Vân Sơn, thuộc xã Lũng Giang, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) với đông nghịt những chàng trai Hà nội về xem hội. cũng như ai đã từng được dịp xem hội Gióng, tại làng phù Đổng vào ngày mồng 9 tháng 4

âm lịch, với sự diễn trận phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân ắt phải nhận thấy sự hiện diện của rất đông khách thành thị về dự hội.

Diện hình và Tổ chức

Thành thị hay thôn quê, ai mà không biết thưởng xuân với những trò vui xuân của hội hè.

TụC gIAo hIếu

nhiều địa phương, các làng xã gần nhau thường cùng thờ

một vị Thành hoàng, như bốn xã phù Đổng, phù Dực, Đông Viên và Đông Xuyên huyện Tiên Du tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) cùng thờ đức phù Đổng Thiên Vương, như hai xã Yên Sở và Đắc Sở, huyện Thanh Trì tỉnh Hà Đông (Hà nội) cùng thờ vị

danh tướng đời Tiền Lý là Lý phục Man; cũng có khi hai ba xã ở cách xa nhau một vài xã khác cùng thờ một vị Thành hoàng như các xã Yên cư, Đa Giá, Yên Bồng, Yên Khê tỉnh ninh Bình (Hà nam ninh) và xã Bảo Lộc tỉnh nam Định (Hà nam ninh) cùng thờ Hưng Đạo Vương, như các xã Thị cầu tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) và nam ngạn, tỉnh Bắc Giang (Hà Bắc) cách nhau con sông cầu cùng thờ hai vị danh tướng đời Lý nam Đế

là Trương Hống và Trương Hát; ngoài ra, còn trường hợp hai xã thờ hai vị thần có liên hệ với nhau như xã Đông cao, phủ

nghĩa Hưng tỉnh nam Định (Hà nam ninh) thờ Mỵ châu, con gái vua An Dương Vương và xã Đông Bộ cùng tỉnh thờ vua An Dương Vương.

những xã cùng thờ một vị thần, hoặc thờ các vị thần có liên hệ với nhau, thường có tục giao hiếu làng nọ với làng kia.

các xã này thường hàng năm cùng tổ chức vào đám một dịp, những xã này rước lẫn sang nhau gọi là rước đánh giải. Khi xã nọ cử hành đám rước tới xã kia thì các bô lão, quan viên, các chân kiệu cũng như các chân đi rước đều vào đình lễ thần sau khi đã rước kiệu vào. Sau đó để tỏ tình giao hiếu, xã chủ mời xã khách giải tọa uống rượu và nghe hát.

Việc giao hiếu tùy lệ, có nơi chia nhau mỗi xã làm chủ một năm, các xã khác đều ước hẹn một ngày cử hành đám rước tới

xã này, rồi cùng tổ chức một lễ tế thần chung. Tế xong, các xã cùng thừa hưởng lộc thánh ăn uống với nhau, và cùng nhau dự các cuộc vui chung: nghe hát, dự xem các trò bách hí v.v...

CơM KhoảN ĐãI

Thường trong việc giao hiếu, xã chủ bao giờ cũng làm tiệc khoản đãi xã khách. Đám rước xã khách tới đầu làng đã được hàng bô lão quan viên xã chủ áo thụng khăn xếp đứng đón để

đi theo đám rước vào đình.

Sau cuộc tế lễ, xã chủ mời xã khách rất cung kính trịnh trọng, thường dùng chiếc cạp điều trải để mời xã khách.

Xã khách được xã chủ mời chia nhau theo thứ tự trên dưới ngồi như ở làng mình để dự tiệc, và xã chủ cũng cùng dự tiệc và phải cắt người tiếp khách đúng theo thứ vị của xã khách, thí dụ bô lão thì do bô lão tiếp, quan viên thì do quan viên tiếp, các chân kiệu chân cờ do dân làng tiếp.

Bữa tiệc khoản đãi này rất vui. cả xã chủ lẫn xã khách, sau khi an tọa cùng nhau trong bữa tiệc reo to ba lần, gọi là reo hoan thanh, nghĩa là cất lên những tiếng reo vui mừng để cùng mừng bữa tiệc liên hoan giữa các xã. Ba lần reo cách nhau khá lâu, lần đầu 3 tiếng, lần thứ hai 6 tiếng và lần thứ ba 9 tiếng.

Khi reo xong lần thứ ba thì bữa tiệc tan.

CơM Quả, CơM QuAN VIêN

Xã khách tuy được xã chủ khoản đãi, nhưng theo tục lệ, trước khi đi rước, những người đi rước thường làm sẵn một mâm cỗ

lịch sự đựng vào trong một chiếc quả đỏ, cho người đem tới xã chủ, gọi là cơm quả để lễ thần. các bô lão, quan viên và chức sắc, ngoài mâm cỗ nói trên, còn sắm sửa năm ba mâm nấu những đồ ngũ trân bát vị, đủ các thứ bánh đường bánh ngọt mang tới xã chủ để lễ thần gọi là cơm quan viên.

Diện hình và Tổ chức

Trong bữa tiệc liên hoan giữa các xã, cơm quả và cơm quan viên, cùng được hạ xuống để dân mấy xã chủ khách cùng xơi.

Trong tục giao hiếu, các làng thường hết sức giữ lễ với nhau, nhất là trong bữa cơm khoản đãi, phải giữ gìn lời ăn tiếng nói và cố tránh mọi sự sơ ý có thể gây nên hiềm khích giữa hai làng.

Mấy ĐáM RướC gIAo hIếu

như trên đã nói, những xã giao hiếu với nhau thường có tục rước đánh giải. Dưới đây là mấy thí dụ đơn cử ra để tìm hiểu ở

những người quê hương tại các xã này:

Bốn xã phù Đổng, phù Dực, Đông Xuyên và Đông Viên vào ngày mồng chín tháng tư cùng tham dự chung cuộc diễn trận phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân mà trước đó và sau đó có những đám rước chung. Đặc biệt là ngày 11 tháng 4, tất cả bốn xã đều cùng rước nước để rửa lại khí giới và đồ thờ đã dùng trong việc diễn trận. Và ngày 12, bốn xã lại có một đám rước chung để cùng đi kiểm soát lại chiến trường. Trong đám rước này, cờ trắng được trương lên đầy đường để chứng tỏ quân giặc đã quy hàng.

Làng Thị cầu, hàng năm vào đám, có tổ chức đám rước sang làng nam ngạn vào ngày mồng mười tháng tám. Xã nam ngạn được xã Thị cầu coi là xã đàn anh, nên dân làng Thị cầu rước thần sang làng nam ngạn ngày hôm trước, thì hôm sau dân làng nam ngạn đáp lễ lại, cũng theo đám rước sang làng Thị cầu.

nói là dân làng, ở đây phải hiểu là các bô lão, các quan viên và các chân đi rước.

Đám rước phải qua sông cầu, xưa kia chưa có cầu phải dùng thuyền, và cuộc rước thần qua sông rất vui. Dân làng nam ngạn đón đám rước làng Thị cầu từ bờ sông và dẫn đám rước tới đình.

Làng Yên cư thờ Hưng Đạo Vương vào đám vào dịp tháng tám. Trong dịp này có tổ chức vào ngày 20 tháng tám đám rước

qua sông Đáy sang xã phú Hào nằm đối diện với xã Yên cư ở

bên kia sông. Đặc biệt trong đám rước này kiệu thần do các thiếu nữ thanh tân từ 18 tuổi phụ trách khiêng, và có nhiều thiếu nữ

khác đi kèm gọi là phù giá. Lệ làng này trong ngày hội, những con trai 18 tuổi trở lên được dân làng cắt khiêng kiệu nhưng làng cũng lại cắt các thanh nữ cùng tuổi để khiêng kiệu của Hưng Đạo Vương phu nhân và các quận chúa.

Đám rước ngày 20 từ xã Yên cư sang xã phú Hào thuộc tỉnh nam Định (Hà nam ninh). Lẽ tất nhiên rước qua sông phải dùng thuyền, nhưng theo dân làng Yên cư thì các kiệu của Hưng Đạo Vương, của phu nhân và của các quận chúa không phải dùng thuyền. Trong buổi rước này, các kiệu đều do các cô phù giá khiêng và lội qua sông. phép màu của Hưng Đạo Vương thực là huyền diệu nên các kiệu lội qua sông không chìm và các cô phù giá cũng không ai bị ướt.

Đám rước sang tới xã phú Hào, nghỉ tại đình làng này và được dân làng khoản đãi theo tục lệ, cho đến chiều đám rước lại trở

về, nhưng lần này thì quay về bằng thuyền.

Đám rước qua sông vui lắm. nào cờ bay phấp phới, nào binh khí dàn hàng, nào phường bát âm, nào trống kèn, hương tỏa khói trầm và người đông nghịt những con thuyền.

Xã Đông cao, nam Định thờ Mỵ châu, hàng năm mở hội từ ngày 15 tháng 8 âm lịch cho đến ngày 20 mới rã đám. Hội vui nhất vào hôm 18, tức là hôm có đám rước kiệu Mỵ châu từ xã Đông cao cho đến đình làng Đông Bộ, ở bên bờ sông Hồng Hà.

Theo dân xã Đông cao thì đám rước này, chính là đám rước để Mỵ châu tới yết kiến vua cha có đền thờ tại xã Đông Bộ.

chính ngày này, tại Đông Bộ, dân làng cùng mở hội để kỷ niệm vua An Dương Vương.

Diện hình và Tổ chức

Làng Đông Bộ năm nào cũng chờ dân xã Đông cao rước kiệu Mỵ châu tới.

Dân địa phương gọi hai đền thờ vua An Dương Vương và Mỵ châu là ĐỀn cHA và ĐỀn cOn. Hàng năm con phải tới yết kiến cha để vấn an cũng như để tạ tội xưa vì mình mà nước mất nhà tan rồi vua cha phải thác.

Đám rước tới Đông Bộ, kiệu Mỵ châu được rước vào đình, sau đó các bô lão, chức sắc và quan viên xã Đông cao vào tế một tuần, ý nghĩa của buổi tế là để mừng Mỵ châu ra mặt vua cha.

Sau buổi tế, dân làng Đông Bộ tiếp đãi các bô lão, quan viên, chức sắc và các chân đi rước xã Đông cao một cách lịch sự với tiệc khoản đãi.

Buổi chiều, kiệu của Mỵ châu lại được rước từ đình làng Đông Bộ về Đông cao.