Làng Xóm Việt NamPartie 14

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

phòng của người dân quê.

kết luậN

Qua các điểm trên, ta thấy rằng, xưa kia dân quê rất biết lo xa, và chính sự lo xa này đã khiến cho con người lo đến việc phúc đức. Do đó dự phòng và tư cấp là những điều quan trọng trong sinh hoạt đồng quê vậy.

Diện hình và Tổ chức

Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

Mà rồi mang ấn công hầu trâu ơi!

(Ảnh Nguyễn Cao Đàm)

Diện hình và Tổ chức

pHẦn THỨ BA

Tế tự

Diện hình và Tổ chức

tế tự

một sinh hoạt cộng đồng được toàn thể dân làng chú ý là việc tế tự, và với việc tế tự, dân làng càng có với nhau một mối liên lạc mật thiết, mật thiết vì tính chất thiêng liêng của sinh hoạt, mật thiết vì tín ngưỡng đồng nhất của dân làng.

Việc tế tự ở hương thôn biểu lộ qua việc thờ cúng Thành hoàng, thờ cúng Thổ địa, thờ phật thờ đức Khổng Tử và thờ cả

chư thần nữa.

Tôi đã có dịp trình bày những nghi thức và tục lệ về mọi sự

thờ cúng trong cuốn “tín ngưỡng Việt nam”, ở đây xin không nhắc tới nữa mà chỉ xin nói chung về tế tự một cách sơ lược để

nêu lên tính chất quan trọng của sinh hoạt cộng đồng này đối với dân làng.

tụC thờ thàNh hoàNg

Thành hoàng là vị thần linh cai quản toàn thể thôn xã che chở

cho dân làng, phù hộ cho dân làng được bình yên thịnh vượng.

Thành hoàng có thể là một vị thiên thần như phù Đổng Thiên Vương, chử Đồng Tử v.v... một vị thần danh sơn đại xuyên như

Tản Viên Sơn Thần, Tô Lịch giang thần v.v... hoặc là một vị

nhân thần, lúc sinh thời có công lao với dân với nước, như Lý Thường Kiệt, Lê phụng Hiểu, Trần Hưng Đạo, nên khi chết đi được nhân dân nhớ ơn phụng thờ.

Thành hoàng cũng có khi là những người đã có công lập ra làng xã như Hoàng cao Khải được thờ ở ấp Thái Hà, hoặc những yêu thần, tà thần, những người chết gặp giờ linh nên dân làng thờ phụng.

có làng thờ cả người sống làm Thành hoàng.

các Thành hoàng thường được sắc vua phong, ngoại trừ các yêu thần, tà thần.

Theo tục lệ xưa, nhà vua phong các vị Thành hoàng làm Thượng, Trung hoặc Hạ đẳng thần tùy theo các vị thần có công trạng với nước với dân. Và các vị thần cũng có thể được nhắc từ thứ vị nọ lên thứ vị kia, Hạ đẳng thần có thể được phong làm Trung đẳng thần, và Trung đẳng thần có thể được phong làm Thượng đẳng thần nếu các vị này đã giúp đỡ được nhiều cho dân chúng. Việc thăng phong các vị thần căn cứ vào sớ

tấu của xã về công trạng của vị thần, sớ tâu này, từng thời hạn một, các xã phải đệ về triều đình. Mỗi lần thăng phong triều đình đều có sắc gửi về xã, sắc này được cất trong hòm sắc thờ

ở hậu cung đình.

Đối với dân làng, Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục đạo đức, pháp luật cùng hy vọng của cả làng, lại cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chịa. (1) Dân làng đối với Thành hoàng rất tôn kính và tin ở sự phù hộ

của ngài. Làng không có Thành hoàng, làng bất an.

Một tác giả pháp, khi khảo về Tín ngưỡng của ta đã viết: 1. Đào Duy Anh. - Sách đã dẫn.

Diện hình và Tổ chức

Sự thờ phụng tổ tiên tượng trưng cho gia đình và việc nối dõi tổ tông, sự thờ phụng Thành hoàng tượng trưng cho làng xã và sự trường tồn của thôn ấp. (1)

Đúng vậy, sự thờ phụng Thành hoàng tượng trưng cho làng xã, và qua vị Thành hoàng của mỗi làng người ta có thể hiểu biết được đôi phần dân phong của xã này.

Một làng thờ một vị tà thần, thường có một đôi tục lệ không phù hợp với mọi sự tốt đẹp của đạo đức, dân làng dù nhiều ít gì cũng bị ảnh hưởng bởi những tục lệ này, dù cho các vị huynh thứ có hết sức giữ gìn để mong hoàn toàn bảo tồn lấy thuần phong mỹ tục, trái lại một làng thờ một vị anh hùng của dân tộc, lẽ tất nhiên tấm gương tốt đẹp của vị anh hùng cũng được dân làng noi theo.

Thành hoàng còn được gọi là phúc thần tức là vị thần ban phúc cho dân. Thường thì mỗi làng chỉ có một vị Thành hoàng nhưng cũng có làng thờ hai ba vị. cũng nên nói thêm rằng.

Thành hoàng có thể là nam thần hoặc nữ thần, như trường hợp các làng thờ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Liễu Hạnh công chúa v.v...

Đức Thành hoàng ngự tại đình, chứng kiến đời sống của dân xã, bảo vệ cho mọi người, phù hộ cho làng được thịnh vượng.

ngài thông cảm với nếp sống của dân chúng, cùng dân chúng ghi nhớ mọi kỷ niệm của làng xã. Từ đời này qua đời nọ, các thế hệ nối tiếp nhau ở trong làng, những thời gian trôi qua, hay hoặc dở, những con người chết đi, nhưng đức Thành hoàng vẫn trường tồn.

ngài duy trì đất lề quê thói, ngài bảo tồn đạo đức. những người hiền lương ngài thường phụ trợ, những kẻ gian ác bị ngài 1. Le culte des ancêtres symbolyse la famille et sa continuité, le culte du génie communal symbolyse la commune et sa pérennité. G.COULET. Cultes et Religions de l’Indochine Annamite. Imp. Ardin, Saigon.

trừng phạt. Luật lệ của ngài là luật lệ của dân làng, những điều ngài cấm, dân làng kiêng kỵ.

những kẻ phạm tới uy ngài, ăn ở trái phép thường có những hành động hại cho dân làng, bị ngài quở phạt phải có sớ tạ mới khỏi bị lỗi.

các hương chức trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ

chức việc gì đều phải có lễ cúng thần xin phép trước.

có thể nói được rằng Thành hoàng chính là vị chỉ huy tối cao, không những riêng về phần thiêng liêng mà cả một phần về đời sống thực tế của dân làng nữa.

Dân xã được đoàn kết, nếp sống hòa đồng được bền chặt, chính vì sự thờ phụng ngài. Và sự đoàn kết hòa đồng này chính là cái sức mạnh về phần thực tế của ngài vậy.

Dân xã đối với Thành hoàng cũng kính cẩn như con cháu đối với tổ tiên.

ĐìNh, NơI Thờ PhụNg ThàNh hoàNg

Thờ phụng tổ tiên, con cháu có nhà thờ, thì thờ phụng Thành hoàng dân làng cũng phải có nơi riêng, nơi riêng đây chính là đình làng.

Làng nào cũng có đình, có khi mỗi thôn lại có một ngôi đình riêng.

Đình là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của xã, và những sinh hoạt này thực hiện dưới sự chứng kiến của đức Thành hoàng.

Đình dựng lên để thờ phụng Thành hoàng, nhưng đình cũng là nơi hội họp của dân làng để bàn việc làng, để giải quyết những vấn đề chung của hàng xã, và trong những vấn đề đó có việc thờ

cúng Thành hoàng. Việc thờ cúng này thể hiện qua các cuộc lễ

bái, tế tự, rước xách, cầu khẩn và tổ chức hội hè.

Đình là nơi thờ tự, bởi vậy kiến trúc đình phải phù hợp với việc thờ cúng, và đình lại là nơi thờ cúng của cả làng, nên trong việc kiến trúc, người ta phải chú ý tới sự hội họp của dân làng những khi có cúng lễ.

Diện hình và Tổ chức

Để tỏ lòng tôn kính đức Thành hoàng, đình thường xây ở

một nơi cách biệt dân chúng, nhưng phải tiện đường đi và ở

nơi trung độ. cách biệt dân chúng để tránh sự ồn ào, kinh động tới quỷ thần là một sự bất kính, nhưng phải tiện đường và ở nơi trung độ để dân chúng có thể đi tới dễ dàng trong những khi hội hè đình đám.

chung quanh đình thường có vườn trồng nhiều cây cối cho sầm uất, nhất là các cây cổ thụ.

Đình thường làm theo một kiểu giống nhau. Hướng đình thường là hướng nam, ngoại trừ những trường hợp vì lý do phong thủy, đình mới làm theo hướng khác.

Đình nào cũng gồm một số các lớp nhà phân chia làm nhà hậu cung, nhà tiền tế, tả gian, hữu gian và nhà hành lang.

Đình thường làm theo chữ đinh (T) ngược hoặc chữ công ( ). Khi đình làm theo kiểu chữ công thì nhà tiền tế rộng hơn hậu cung.

cách xếp đặt các ngôi đình cũng giống nhau, tuy tại mỗi làng, sự rộng hẹp lớn bé có khác nhau. nhiều làng có những ngôi đình thật lớn, rộng rãi đến năm bảy gian, tám chín gian, cột to tới hai người ôm. Tại các xã trù phú, đình thật là nguy nga, cột sơn son vẽ rồng, rui hoành chạm trổ sơn thiếp, hoành biển cửa võng rực rỡ trang hoàng.

cửa đình ở đằng trước, thường là cửa lùa hay cửa xếp. cửa chính đình ít khi mở, trừ những ngày có cúng lễ hoặc hội hè.

Hai bên cửa chính có hai cửa nhỏ, luôn luôn mở trong những ngày thường để dân làng hoặc khách thập phương vào lễ thánh.

Hai bên tả hữu đình, có tường hoặc vách, mỗi bên vách thường có một cửa sổ nhưng không có cửa ra vào. các cửa sổ đình thường hình tròn mặt nguyệt hay liên hoàn hay mang hình hoa lá mây trái.

Đình không có gác.

Trông ở ngoài, vì lòng đình rộng, thấy mái đình như rất thấp, nhưng khi vào trong đình nhìn mới thấy cao.

Bốn đầu mái đình thường cong vút nhọn với những nét nhẹ

nhàng thanh thoát, nhưng cũng lại rất cầu kỳ với sự chạm trổ

hoa lá, mây hoặc chữ.

các cụ bảo rằng, mái đình sở dĩ cong vút ở nơi đầu góc là để tránh ảnh hưởng xấu của những đường thẳng. có khi những nóc đình được xây như một cành cây, hoặc cũng có khi chỉ như

kiểu mái lều đóng cọc.

Mái đình thường lợp ngói, và ngói được lợp hai lượt, một lượt ở dưới gọi là ngói chiếu có trang trí sơn phết, và một lượt ở trên gọi là ngói phủ. Với hai lượt ngói, mái đình rất nặng, và sự kiện cốt để chống với cuồng phong thường xảy ra và đã từng cuốn theo cả những mái nhà lợp nhẹ.

phải nói thêm rằng đình làm theo kiểu nhà sàn, suốt từ trong cho tới ngoài, duy nơi tiền tế, chỗ cử hành tế lễ, trước bàn thờ

là không có sàn và ở liền ngay mặt đất. có lẽ vì lý do cung kính, khi tế lễ các quan viên phải đứng dưới thấp nên nơi tiền tế này không làm sàn.

Tam quan đình, nhà hậu, nhà hành lang cũng không làm sàn.

CáCh XếP ĐặT MộT NgÔI ĐìNh

như trên đã nói, đình chia làm nhiều lớp, và mỗi lớp có công dụng riêng.

Trong cùng là hậu cung, còn gọi là nội điện, đình trong hay đình thượng, nơi có bàn thờ đức Thành hoàng. Đây là chốn thâm nghiêm an phụng thần vị có thể là một thần tượng, nhưng thường thì là một chiếc long ngai hoặc một chiếc long ỷ phủ

lụa đỏ hoặc lụa vàng, thần tượng đội một chiếc quan mạo, và chân đi đôi hia. Thần tượng ngồi trên ngai, hoặc trong trường 240

Diện hình và Tổ chức

hợp không có thần tượng thì chiếc quan mạo và đôi hia cũng vẫn có, quan mạo ở trên ngai và đôi hia ở phía dưới. ngoài ra lại có bài vị của thần linh.

Trước thần vị là bàn thờ. Trên bàn thờ ngoài các đồ thờ, tam sự, ngũ sự hoặc thất sự bằng đồng, đài rượu quả trầu v.v... còn có hòm sắc đựng sắc phong, kinh sách và thần tích.

Trước bàn thờ là một hương án, trên cũng có bình hương và các đồ thờ khác.

Hai bên bàn thờ và hương án là tả, hữu nội gian.

Giữa bàn thờ và tả, hữu nội gian, hai bên có hai hàng tự khí gồm cờ quạt, tàn lọng, đồ bát bửu, đồ lộ bộ, ngựa hồng, ngựa bạch hoặc voi.

Gần nơi cung cấm trong đình, thường hai bên có một biển một cờ, gọi là biển vía, cờ vía, đề chức tước của vị Thành hoàng.

Hậu cung thường đóng cửa trong ngày thường, cửa ngăn cách hậu cung với đình ngoài, chỉ mở khi có cúng lễ hoặc hội hè.

Không ai được vào hậu cung, ngoài vị thủ từ là người có nhiệm vụ trông coi ngôi đình.

ngoài hậu cung là đình ngoài, còn gọi là nhà đại bái nhà tiền tế hoặc hạ đình, là nơi cử hành mọi cuộc tế lễ của dân làng.

Đình ngoài có trung đình ở giữa, nơi các quan viên tế lễ và hai bên là tả gian và hữu gian.

Trong những buổi tiệc làng, các quan viên chức sắc ngồi ở

trung đình, còn dân làng tùy theo ngôi thứ ngồi ở tả gian hoặc hữu gian.

ngoài nhà đại bái là sân đình, hai bên có hai dãy hành làng là tả mạc và hữu mạc, còn gọi là hai dãy muỗng, nơi để các quan viên sửa soạn mũ áo vào tế. Khi nào làng vào đám lớn, hai dãy hành lang cũng dùng làm chỗ ngồi cho dân làng.

Ngoài cùng có cửa tam quan, làm cách tôn nghiêm rộng rãi, tường hoa cột trụ xây đắp chung quanh. hai bên vách tường,

nhiều nơi đắp con rồng con cọp, hoặc vẽ hình đôi võ tướng cầm long đao, hoặc vẽ voi vẽ ngựa, hoặc làm voi đá đứng đôi bên, trên đầu cột thì xây đắp một con sấu sành. (1) nhiều đình ở đằng sau có nhà hậu. nhà hậu thường cách đình trong một khoảng sân, gọi là sân hậu.

nhà hậu là nơi thờ Thổ công, bộ hạ của đức Thành hoàng, và cũng là nơi thờ các người cúng hậu vào đình. cúng hậu nghĩa là cúng tiền hoặc ruộng cho làng để khi mình chết đi được làng cúng giỗ. những người không có con trai nối dõi, thường phải cúng hậu.

CúNg lễ ThàNh hoàNg

Trong việc sự thần, cúng lễ là điều quan trọng, không có cúng lễ không có sự phụng thờ.

Việc cúng lễ Thành hoàng tại đình thường thực hiện quanh năm dưới hình thức thắp hương đèn mỗi buổi chiều tại các bàn thờ. có nơi hương đèn liên tiếp thắp suốt ngày đêm.

Ông thủ từ phụ trách công việc hương đèn trầu nước.

Hương phải thắp tại khắp các bình hương trên các bàn thờ từ

trong nội điện ra ngoài đình trung, và cả ở những nơi thờ các bộ hạ của đức Thành hoàng.

ngoài việc hương đèn quanh năm, còn việc cúng lễ trong những ngày nhất định: những ngày lễ sóc vào mồng một đầu tháng, lễ vọng vào ngày rằm mỗi tháng, và những ngày tiết lạp bốn mùa, từ lễ giao thừa, tết nguyên đán qua các lễ tiết khác trong năm cho đến tết Táo quân vào ngày 23 tháng chạp.

ngoài ra lại còn những ngày thần húy, tức là ngày giỗ của đức thần linh và ngày thần đản, tức là ngày sinh nhật của ngài.

Trong những ngày tiết lễ trên, tuy có cúng lễ nhưng không có tế, ngoại trừ ba ngày:

1. Phan Kế Bính. - Sách đã dẫn.

Diện hình và Tổ chức

Xuân tế vào ngày Đinh đầu tháng hai.

Thu tế vào ngày Đinh đầu tháng tám.

lạp tiết vào ngày mồng Hai tháng chạp.

Trong các ngày Thần húy và Thần đản, khi dân làng mở hội cũng có tế.

Việc cúng tế long trọng nhất trong năm là ngày nhập tịch của dân làng, tức là ngày làng vào đám. Và long trọng hơn nữa là khi làng mở đại hội, thường năm bảy năm mới có một lần.

Làng thường vào đám vào dịp giêng, hai hoặc tháng tám, nhưng cũng có nơi tổ chức vào đám nhân ngày thần húy, còn gọi là thần kỵ hoặc ngày thần đản.

Trong những ngày tuần tiết hội hè trên, dân làng đều có dự

lễ cúng thần.

những người tới lễ hoặc có mang đồ lễ riêng, có khi là lễ

mặn, có khi là lễ chay, nhưng bao giờ cũng có hoa quả, trầu rượu, vàng hương, hoặc có người không tiện mang đồ lễ thì cúng một số tiền dùng trong việc đèn hương thờ tự.

Về việc cúng lễ thần linh, mỗi làng cắt cử một ông cai đám, chọn trong hàng quan viên bầu lên.

Muốn được làm cai đám rất khó khăn, có những điều kiện rất bó buộc. Trước hết phải là người làng, tổ tiên đã ở nơi đây và đã nhập tịch dân làng ít nhất từ đời tam đại. phải là người lành mạnh, không tàn tật, không góa bụa. người có tang cũng không được dự vào chức cai đám.

Mỗi người được làm cai đám trong một hoặc nhiều năm, tùy theo tục làng. Suốt thời gian này ông cai đám phải chay tịnh, không được gần vợ, không được đi viếng đám ma và đi thăm người đẻ. - những việc bị coi là ô uế. Và ông cai đám cũng không được cúng lễ tổ tiên mình, việc cúng lễ này, trong nhiệm kỳ cai đám, ông phải trao cho một người khác để chuyên lo việc sự thần.

Trong những ngày sóc vọng hoặc tiết lễ thường, ông cai đám làm chủ lễ. Ông đặt đồ lễ lên bàn thờ, thắp đèn hương, rồi lễ

nghênh thần bốn lễ.

Lễ xong ông cai đám quỳ trước bàn thờ, hai tay chắp ngang trán. Trong lúc đó, một ông đám hoặc quan viên rót rượu vào ba chén đặt trên đài, đồng thời một quan viên khác đọc sớ khấn.

Ông đám cũng do hàng quan viên bầu ra để giúp ông cai đám.

có làng có ba bốn ông đám, mỗi giáp một ông.

Sớ đọc xong, rượu rót lần thứ hai cũng vào ba chén trên. Ông chủ lễ đứng lên lễ thêm hai lễ.

Rượu lại rót thêm lần thứ ba. Lần này ông chủ lễ tạ bốn lễ.

Sớ được đem hóa.

Ông chủ lễ lui ra. Lúc đó các ông đám khác, các quan viên và dân làng lần lượt vào lễ mỗi người bốn lễ ba vái.

Suốt trong buổi lễ luôn luôn có chiêng trống nổi lên cho đến khi lễ tất.

Trên là thể thức cúng thần linh. ngoài việc cúng còn có tế

trong những ngày quan trọng.

nghi thức tế rất cẩn trọng và trước khi tế có các lễ: lễ cáo yết, dân làng trình với đức Thành hoàng việc tổ chức tế.

Tả văn và rước văn, nghĩa là viết văn tế và rước văn tế, từ

nơi tả văn đến đình.

Việc tế do ban tư văn trong hàng quan viên phụ trách. Trong lúc tế có âm nhạc chiêng trống, và tế kết thúc bằng lễ phần chúc nghĩa là đốt văn tế.

ngoài việc cúng tế, dân làng mỗi khi có việc tại gia đình đều có lễ tới đình làng để cầu khẩn với thần linh.

Sinh con cái.

cưới xin.

Ma chay.

Diện hình và Tổ chức

Khao vọng v.v...

có thể nói rằng, mỗi biến cố quan trọng xảy ra tại gia đình, khi có lễ cáo gia tiên thì gia chủ cũng sửa lễ cúng thần linh tại làng trước là để trình báo biến cố sau là để cầu xin sự phù hộ

của ngài.

ĐềN

ngoài ngôi đình làng để thờ vị Thành hoàng, phần nhiều các làng đều có thêm một ngôi đền, có khi hai ba ngôi, nếu trong làng thờ hai ba vị phúc thần.

Đền là một nơi thờ tự công cộng dựng lên để kỷ niệm một anh quân, một vị anh hùng hoặc một vị thần nào đã có công với dân chúng.

Đền nhỏ hơn đình, nhưng kiến trúc cũng tương tự như kiến trúc của đình, cũng phân ra hậu cung, nhà đại bái, tả, hữu, nội, ngoại gian. Trước đền cũng thường có sân và cũng có nhà tam quan.

Đền khác đình ở chỗ không xây theo lối nhà sàn.

Theo lời các cụ truyền lại thì đền thường là chỗ quỷ thần an ngự, còn đình chỉ là nơi thờ vọng, nghĩa là tại đình tuy có bàn thờ, nhưng chỉ trong những ngày tuần tiết, vị thần linh mới giáng lâm, còn trong ngày khác ngài ngự ở đền. Đây là nói những xã chỉ thờ một vị phúc thần làm Thành hoàng, còn những xã, ngoài đức Thành hoàng ra, có thờ thêm nhiều vị phúc thần khác, mỗi vị thần dân làng đều thờ tại một ngôi đền riêng.

Trong những ngày tuần tiết sóc vọng, dân làng cũng làm lễ

tại đền, và mỗi đền đều có một ông Thủ từ.

Khi trong làng có mở hội vào những dịp vào đám, dân làng bao giờ cũng tổ chức lễ rước thần từ đền tới đình.

Trong những ngày lễ tiết dân làng ở gần đền thường tới lễ tại đền với đồ lễ cũng như khi tới lễ tại đình.

CáC NơI Thờ Tự KháC

ngoài đình và đền, trong nhiều làng thường có các nơi thờ tự

khác để thờ các vị thần:

Miếu. cũng như đền, miếu là nơi quỷ thần an ngự. Miếu nhỏ

hơn đền, thường xây theo kiểu chữ nhật, có hai phần ngăn cách nhau bởi một bức rèm, trong là nội điện và ngoài là nhà tiền tế. Miếu không có tả gian và hữu gian, nhà tả mạc và nhà hữu mạc. cũng không có sàn và miếu nhà tam quan. Thỉnh thoảng có một vài ngôi miếu lớn xây theo kiểu chữ đinh thì hai bên nhà tiền tế còn có tả gian và hữu gian.

Miếu thường xây trên gò cao, ở những nơi yên tĩnh để quỷ

thần có thể an vị không bị làm ồn ào bởi đời sống của dân chúng.

Miếu còn được gọi là nghè.

Tại nhiều ngôi miếu có các tín nữ mang cúng những đồ mã như nón, hài, gươm, dao, treo ở trước bàn thờ gần giống như

một điện chư vị.

Miếu thường là nơi thờ phụng phúc thần, nhưng cũng có miếu thờ các vị thần khác. Miếu thờ vị thần nào thường được gọi rõ tên như Miếu Hai cô ở Kim Liên, Hà nội là nơi thờ hai trinh nữ linh thiêng, Miếu Sơn Thần là nơi thờ thần núi, Miếu Hà Bá là nơi thờ thần sông. có khi miếu được gọi theo địa danh như

Miếu Hát ở xã Hát Môn, nơi thờ Hai Bà Trưng, Miếu Trúc ở

thôn Trúc làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường...

ngoài ra lại có những Miếu cô, cậu thờ những nam nữ thanh niên chết trẻ còn thanh tịnh, gặp giờ linh. Lại có Miếu cô Hồn, còn gọi là Am Chúng Sinh dựng nên ở gần bãi tha ma để thờ

cúng những cô hồn uổng tử không ai hương khói.

Miếu không có thủ từ. Dân làng hoặc thôn xóm nơi gần miếu cắt cử người hàng ngày đến miếu đèn hương. có nhiều người tự

động tới miếu thắp hương, nhất là tại các Miếu Gốc Đa ở đầu hoặc cuối làng.

Diện hình và Tổ chức

Trong những ngày sóc vọng, lễ tết dân làng gần miếu kéo nhau tới lễ bái. Hoặc trong những ngày thường, gia đình nào có người ốm đau, đi xa hoặc muốn cầu khẩn việc gì cũng ra miếu lễ.

nhiều người gặp bệnh hoạn, cho là bị tà ma ám ảnh cũng thường đến miếu cầu xin với thần linh dùng uy quyền khu trừ

tà ma để cho mình khỏi bệnh.

Ban. Đây là những bàn thờ nhỏ, lộ thiên hoặc có mái xây ở

chân núi, ở đầu làng, ở gốc đa để thờ một vị thần linh nào không được thờ tại đình, đền, miếu.

Miễu. Miễu là một ngôi miếu thờ những người bất đắc kỳ tử

gặp giờ linh. những người này trước khi được thờ phụng, theo tục truyền, thường hiện hồn có những phép lạ chứng minh sự

hiện diện với uy quyền của mình.

Tại các ban, miếu, thường có người tin ở sự linh thiêng của thần linh cũng như linh hồn được thờ phụng, hàng ngày mang lễ vật tới cúng bái, và các ngày rằm, mồng một thường khói hương nghi ngút.

Dân làng tới lễ ở các nơi này, cũng như tại các đình đền với lòng chân thành đối với giới vô hình, và sự chân thành này nhiều khi thường đi tới chỗ dị đoan mê tín.

nói đến tế tự của các làng quê, không thể bỏ qua những tĩnh, điện của các môn đồ, lưu phái đạo Lão dựng nên ở tư gia để thờ

các vị thần của đạo Lão hoặc để thờ các ông Hoàng, bà chúa, các cô, các cậu với sự lên đồng lên bóng. Tĩnh của các thầy phù Thủy dùng bùa phép trị bệnh, còn điện của các ông Đồng bà cốt thờ cúng chư vị. Thường ngày dân làng có người đi tĩnh và điện xin bùa, xin tàn hương nước thải để trừ tà ma.

Sự tin tưởng của dân làng ở bùa phép nhiều khi đã biến thành một sự mê tín dị đoan vượt qua khuôn khổ tế tự.

thờ Phật

Tế tự là thờ cúng. Dân Việt nam, ngoài việc thờ thần còn thờ phật, nhưng việc thờ phật không giống việc thờ thần, nhất là việc thờ các phúc Thần. phật thờ tại chùa.

Thờ Thành hoàng là công việc chung bắt buộc của dân làng và đình, đền mỗi xã thường có quan hệ mật thiết với lịch sử và sinh hoạt của xã này, nên làng nào cũng có, và cũng được coi là những công ốc chính thức của làng. các miếu, miễu ban chỉ

có tùy ở từng xã, từng thôn, và việc thờ phụng không phải là việc của dân toàn xã.

Việc thờ phật cũng vậy, đây không phải là việc công của làng, và có thể làng có chùa hoặc không có chùa, nhưng nếu làng không có chùa công thì các tư nhân cũng xây dựng nên chùa. Thực ra, làng nào cũng có chùa do dân làng xây dựng.

chùa thường ở một chỗ phong cảnh thanh u, cách xa vùng nhà ở. chùa của làng hoặc của tư nhân xây nên cũng đều do một hòa thượng hoặc một sư bà trông giữ tùy theo chùa sư nam hay sư nữ.

Xưa kia, mỗi làng ít nhất phải có một ngôi chùa, có khi mỗi thôn xóm đều có một ngôi chùa.

ChùA

như trên đã nói, chùa thường xây ở nơi phong cảnh thanh u, bởi vậy người ta hay tìm nơi gò cao để xây chùa, nếu không người ta cũng tân đất lên cho cao hơn nền thường.

nhiều làng cất chùa ở những nơi danh lam thắng cảnh thật là rộng rãi đẹp đẽ như chùa Hương làng Yến Vĩ, tỉnh Hà Đông (Hà Tây) hoặc chùa thầy làng Thụy Khê, tỉnh Sơn Tây (Hà Tây).

những làng trung du thường xây chùa ở ven sườn núi hay trong hang núi như chùa Láp làng Tích Sơn, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh phú), chùa Trầm, làng Long châu, tỉnh Hà Đông (Hà Tây) v.v...

Diện hình và Tổ chức

chùa từ ngoài đi vào thường đi qua một sân đất ở trước tam quan. Hai bên sân có hai hàng phỗng đá hoặc chó đá.

Từ sân đất bước lên tam quan có một bực xây gạch.

Tam quan là một căn nhà ba gian có ba cửa khá rộng, và ba cửa này đều được coi như ba cửa chính, thường đóng quanh năm, trừ những ngày hội hè, sóc vọng hoặc tết nhất.

cạnh tam quan về phía tay phải, thường có thêm một cổng bên, cổng này luôn luôn mở trong những ngày thường, và trên cổng này là gác chuông. cũng có chùa, gác chuông ở trên tam quan. Trên gác chuông có quả chuông lớn. Tăng ni lên thỉnh chuông phải leo một cầu thang có khi xây bằng gạch, có khi chỉ là một chiếc thang gỗ.

nhà tam quan thường dùng làm nơi cho các hào mục trong làng hội họp khi cần bàn tính tới việc chùa.

Khỏi tam quan là một lớp sân rộng lát gạch.

Qua lớp sân này là nhà thờ phật gồm chính điện và nhà bái đường.

ChíNh ĐIỆN

Tại chính điện có các tượng phật thờ trên các bệ xây. nơi này còn được gọi là nhà Thiên hương, danh từ do những đỉnh trầm và những bát hương luôn luôn tỏa khói ngạt ngào mà có.

Trên cùng, bệ cao nhất, cần giáp mái chùa có tượng Tam thế.

Đây là ba pho tượng nhỏ khuôn khổ bằng nhau, hình dáng giống nhau ngồi trên tòa sen tượng trưng cho chư phật mười phương ở ba đời: quá khứ, hiện tại và vị lai.

Kế lớp trên là tượng Di Đà tam tôn gồm đức A di đà ở giữa, và hai bên tượng nhỏ hơn là hai vị bồ tát Quan Thế âm và Đại Thế Chí.

Lớp thứ ba là tượng Thế Tôn tức là Đức Thích Ca Màu Ni, giáo chủ đạo phật, hai bên có tượng hai vì Văn Thù và Phổ hiền

bồ tát hoặc đứng trên tòa sen hoặc Văn Thù cưỡi con thanh sư

tượng trưng cho trí tuệ và phổ Hiền cưỡi con bạch tượng, tượng trưng cho chân lý trong sạch và vững chắc.

Lớp thứ tư, ở giữa thờ tượng Cửu long, còn gọi là Thích Ca sơ sinh, tức là tượng đức Thích ca mới giáng sinh, có chín con rồng phun nước cho ngài tắm. Tượng đứng, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, có chín con rồng vây bọc chung quanh.

Trên mây có các vị bồ tát và chư thiên nhã nhạc.

Ở bên trái tượng cửu Long là tượng vua Đế Thích và bên phải là tượng Đại phạm thiêng vương, cả hai vị đều y phục hoàng đế và ngồi ngai.

Bốn lớp tượng trên ta thường thấy ở các chùa làng miền Bắc và miền Trung, nơi phật giáo theo phái đại thừa. Bốn lớp tượng này ở nhiều chùa có sự thay đổi, thờ một vài vị bồ tát khác thay vì các vị kể trên và lại có thờ tượng Tuyết Sơn là tượng đức Thích ca khi tu khổ hạnh ở trong núi Tuyết Sơn.

cũng có chùa thay vì bốn lớp tượng lại có năm lớp, và các tượng thờ cũng bài trí hơi khác cách bài trí với bốn lớp tượng kể

trên là cách bài trí phổ thông nhất tại các chùa phật giáo đại thừa.

Tại các chùa theo phái Tiểu thừa, nơi chính điện chỉ có tượng phật Thích ca, ngoài ra không có pho tượng nào khác.

ngoài các pho tượng, lẽ tất nhiên nơi bàn thờ phật phải có đồ

thờ như bát hương, đèn, nến, v.v... hoặc bằng đồng hoặc bằng gỗ tùy theo từng chùa.

Nhà BáI ĐườNg

Mặt trước chính điện thờ phật là nhà bái đường.

nhà bái đường là chỗ các tăng ni tụng kinh và các tín đồ tới lễ phật.

nhà bái đường cũng có các tượng và các bàn thờ.

Hai bên tả hữu liền với điện thờ phật là tượng hai vị Hộ pháp 250

Diện hình và Tổ chức

ta gọi là ông Thiện và ông ác, một ông trông hiền từ, một ông trông nghiêm khắc.

Ở phía bên trái nhà bái đường có bàn thờ Đức Ông mặt đỏ, chính là Thổ thần ngôi chùa, còn gọi là Đức Chúa.

cạnh bàn thờ Đức Ông có bàn thờ long thần, một vị Long vương đã quy y phép phật.

Ở phía bên phải nhà bái đường có bàn thờ A Nan đà tôn giả, ta gọi là Thánh tăng, một vị đại đệ tử của đức phật Thích ca.