Làng Xóm Việt NamPartie 10
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Nhưng mà hư hỏng cơ đồ,
Bà nhiêu bắt được liền vồ cả hai.
Bài vè chẳng văn chương gì, nhưng được cái dễ đọc dễ nhớ.
chỉ một ngày là cả làng đều biết và trẻ con đua nhau đọc cho nhau nghe. Gặp ông nhiêu Bút chúng không dám đọc, chúng chỉ lấm lét nhìn ông, rồi nhìn nhau tủm tỉm cười. Thế là đủ rồi!
Không cần có bích báo, không cần tuyên truyền, những bài vè có tính cách trừ xấu hoặc khen tốt thường lan truyền rất mau rộng trong dân làng, và những người bị vè chê hoặc được vè khen dù muốn dù không cũng được nghe ngay bài vè về mình, do những người thân nhắc lại.
Tôi lại nhớ tới bài vè sợ vợ xưa của làng tôi. người làm vè thật khéo léo, đã gói ghém trong mấy vần lục bát tất cả những người trong làng có cái tật đáng quý là sợ vợ: làng ta sợ vợ nhất ai,
Có ông lý cựu là người đời xưa,
Đầu ông búi tó trơ trơ,
hỏi ông giữ đến bao giờ cho thôi,
Trương Đông sợ vợ hơn trời,
lại ông Chánh bá mấy đời kém Đông.
Tuy rằng đóng mặt làm chồng
Xã Năm chịu vợ, phục tòng cho yên,
Nói ra nghĩ cũng thêm phiền,
Thôi đành sợ vợ cho êm cửa nhà.
Bài vè nhắc đến toàn những tay vai vế trong làng. Ông Lý cựu trên đầu còn để búi tóc nên bị gọi là người đời xưa; Trương Đông là ông Trương tuần tên là Đông, rất hách dịch, trai tráng trong làng đều nể sợ; ông chánh bá là ông chánh Hội làng tôi được triều đình ân thưởng bá bộ, còn ông Xã năm chính là ông Lý trưởng đương kim hồi đó tên gọi là năm.
Bài vè không biết của ai làm, đã khiến cho các ông tai to mặt lớn làng tôi thịnh nộ, và ông Lý trưởng đã cho điều tra những nhất định không tìm ra tác giả. các ông nghi cho người này, người khác, nhưng nghi chưa phải là thực. chỉ lũ trẻ con chúng tôi hồi đó là thú, đi chăn trâu cùng nhau oang oang hát bài vè, mỗi khi thấy một trong mấy vai chính, đi ở đằng xa những khi các vị đi đến gần thì chúng tôi lại ngậm miệng đứa nọ nhìn đứa kia tủm tỉm cười.
Bài vè dường như cũng có ảnh hưởng ít nhiều và đã khiến các bà sư tử Hà Đông đỡ gầm thét đối với các đức lang quân. Và bài vè này, cũng đã như những bài vè khác, chẳng mấy người trong làng là không thuộc.
Tôi không nhớ rõ, sau những cơn thịnh nộ đầu tiên, các vị
được nhắc tới trong bài vè có còn giận kẻ làm vè hay đã thầm ơn họ, vì nhờ có bài vè mà móng vuốt của các bà sư tử nới tay với các ông, hẳn các ông phải lấy làm dễ chịu.
có những bài vè như hai bài vè trên kể tội xấu của các đương 166
Diện hình và Tổ chức
nhân, nhưng những người phúc đức làm việc tốt cũng thường có vè. Tôi không nhớ rõ để chép ra đây nguyên văn một bài vè nào về loại nói tốt này nhưng tôi còn nhớ vào một năm mất mùa, làng tôi có bà cả Hảo bỏ gạo ra nấu cháo giúp đỡ người nghèo trong làng đã có bài vè khen, trong đó có hai câu: Miếng khi đói, gói khi no,
Cháo hoa bà cảm thơm tho nức làng!
Vì sợ những bài vè, vì sợ mang tiếng với làng nước, nên dân các làng quê thường trọng đạo đức và số người xấu, tuy có, song nhiều khi chính kẻ xấu vẫn phải giấu giếm những tính xấu của mình, và tìm cách cố làm tốt để điều tốt khả dĩ che nổi điều xấu. Do đó trong sinh hoạt hàng ngày, tình thương thân tương trợ này chính là kết tinh của nền luân lý đạo đức đã thấm sâu vào đời sống của mọi người.
SiNh hoạt CộNg ĐồNg
người Việt nam đồng quê có một tinh thần hòa đồng hết sức rộng rãi, và chính cái tinh thần hòa đồng này đã là sức mạnh của dân tộc Việt nam trong suốt mấy nghìn năm từ khi lập quốc, có hòa đồng mới có đoàn kết, có đoàn kết mới thành sức mạnh, và có sức mạnh mới có ý chí tự cường bất khuất.
Tinh thần hòa đồng giữa dân làng rất bền chặt và rất nẩy nở, đến độ đối với nhau luôn luôn có sự thân ái khoan dung, và do đó, trong những tổ chức chung, người dân quê sẵn sàng gánh vác phần mình được làng giao phó, dù đôi khi có nhận thấy phần gách vác hơi quá nặng so với khả năng của mình và hơi chênh lệch so với phần gánh vác của người khác. Họ không cho đấy là một sự bất công, mà họ nghĩ rằng lần này họ phải gánh vác nhiều, lần sau sẽ đến lượt người khác, hoặc giả hơn thế, họ
nghĩ, việc làng là việc chung, càng tham gia nhiều, sự ích lợi
đối với dân làng càng nhiều và đây là một niềm an ủi rất chính đáng, họ có thể tự hào.
nói về sinh hoạt cộng đồng của thôn xã Việt nam, phải nói về hương ẩm trước khi nói tới các sinh hoạt khác: phòng thủ
trong làng, tương trợ v.v...
hươNg ẩM
Những khi kỳ thần bài xã, và những khi có công việc gì đồng dân tụ hội ăn uống, gọi là hương ẩm. hương ẩm có sổ, dân gian con trai từ sáu, bảy tuổi đã vào sổ hương ẩm. (1) Thường thường khi con trai tới sáu, bảy tuổi, bố mẹ có cơi trầu và đồ lễ ra làng để trình với làng. Trong việc trình làng, trước phải lễ thần, sau xin với Hội đồng làng được ghi tên vào sổ hương ẩm. Kể từ ngày ghi tên này, đứa trẻ được dự việc làng và chịu phần đóng góp với làng.
Dự việc làng, nghĩa là khi làng có tế lễ tiệc tùng, đứa trẻ có thể được phần chia, nhiều làng có tục chia phần cho tất cả lão ấu có tên trong sổ hương, ẩm nhưng cũng có nhiều làng tuy có tên trong sổ hương ẩm, nhưng chỉ những người nào từ 18
tuổi trở lên mới được dự việc làng, nghĩa là được dự phần vào việc ăn uống ở đình, hoặc được chia phần trong những dịp tế
lễ. Làng Thị cầu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc ninh, (Hà Bắc) trẻ con dưới 18 tuổi không được dự việc làng, và chỉ trong ít trường hợp, vào những dịp dân làng lên xôn, lên xỉ, xôi gà nhiều, trẻ con mới được dự chia phần, mỗi đứa một nắm xôi, nhưng muốn được hưởng phần xôi, đứa trẻ phải ra đình để nhận phần khi đàn anh chia. Trẻ con làng này không có lệ phải đóng tiền việc làng. Tại nhiều làng khác, trẻ con có phần của trẻ con trong những dịp tế tự dù có mặt hay vắng mặt ở đình, và trong 1. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục.
Diện hình và Tổ chức
trường hợp này trẻ con phải đóng tiền việc làng, có khi bằng người lớn có khi ít hơn.
Sau khi đã ghi tên vào làng rồi, mấy năm sau, thường là khi 18
tuổi, cũng có nhiều xã từ khi ít tuổi hơn, người đã ghi tên trong sổ hương ẩm phải biện thủ lợn mâm xôi vọng tư văn hoặc hàng giáp hàng xã.(1) Cũng có nơi thay vì mâm xôi thủ lợn, phải nộp một món tiền lệ làng. Đối với hàng giáp, có sự đóng góp riêng.
Các nơi có ruộng có đầm, có đất giồng cây, thường lại có lệ
vụn vặt, như vọng tiền thả cá, vọng tiền giồng cây, hoặc một vài quan, hoặc một vài tiền kẽm, nghĩa là sắp được ăn theo vào món lợi nào thì trước hết phải vọng lệ ấy.(2) Được ghi tên vào sổ hương ẩm, sau khi đã nộp vọng thường được dân làng, hay nói cho đúng ban Hội đồng làng, giao cho mảnh giấy biên nhận làm bằng. các đương sự phải giữ mảnh giấy này, vì sau này khi ra đình, việc xếp đặt chỗ ngồi sẽ chiếu theo tên ghi trong sổ hương ẩm, và sự xếp đặt chỗ ngồi tại đình trung chính là sự phân chia ngôi thứ.
Vấn đề ngôi thứ là một vấn đề quan trọng đối với dân làng.
Làm đàn anh phải ăn trên ngồi trước, khi họp ở đình để bàn việc công hay để ăn cỗ sau khi tế thần. Không ai được ngồi sai chỗ của mình, nhất là khi ngồi lấn lên chỗ của người khác, vào một chỗ mà mình chưa tới địa vị được ngồi. ngồi lấn chỗ như
vậy làng sẽ bắt vạ.
Ngôi thứ trong làng sắp đặt theo thứ tự tuổi tác và tùy theo sổ hương ẩm. Ngoài ra, các vị chức sắc, các chân khoa mục, các hương chức và những người đã bỏ tiền ra mua nhiêu mua xã cũng được ngồi các chiếu trên tại chốn đình trung. Và ngồi các chiếu trên, khi tiệc tùng các cụ được trọng vọng và được 1. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục.
2. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục.
nhiều phần mang về cho con cháu. Tục ngữ ta có câu một miếng việc làng bằng một sàng xó bếp để chứng tỏ cái giá trị của nắm phần việc làng. Đây không phải là vấn đề tham ăn tham uống, nhưng thừa hưởng lộc thánh được miếng phần việc làng là một sự khước, còn miếng ăn trong xó bếp đã thường, ví sao được với miếng phần việc làng. Tôn trọng miếng phần việc làng chính là tôn trọng vị thành hoàng cai quản trong làng, vì đây là thừa hưởng một miếng phần ngài đã hưởng.
Vấn đề ngôi thứ trong chốn đình trung thường lệ làng ấn định.
Theo Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương”, ngôi thứ này, vào năm Tự Đức thứ 14 có định:
“Văn từ nhất phẩm trở lên, ấm sinh, giám sinh và tú tài xuất thân mà được bát, cửu phẩm; võ từ suất đội trở lên, khoa mục từ cử nhân trở lên, thì ngòi gian giữa đình. hương lão 70 tuổi trở lên, võ thất phẩm đội trưởng, văn bát, cửu phẩm tá tạp(1) bát, cửu phẩm, thiên, bách hộ, chánh tổng, ấm sinh, giám sinh, tú tài, viên tử, thiên, bách hộ nạp quyên, miễn sai, miễn giao đều ngồi gian tả. Phẩm trật đồng nhau thì ai hơn tuổi ngồi trên. lý trưởng hương chức cùng dân làng thì ngồi ở gian hữu, lấy tuổi làm thứ tự. Ở những làng theo lệ thiên tước thì ngôi thứ dựa theo thứ tự ở trong sổ hương ẩm”.
Định vị ngôi thứ đã rõ ràng bởi phép vua, nhưng phép vua thường được linh động thay đổi tùy theo lệ làng. ngôi thứ đã có, mỗi khi có việc hội tụ ăn uống, cứ theo lệ hương ẩm, chỗ
ai ở đâu, ngồi vào nơi đó. như trên đã nói, lấn chỗ bị phạt vạ, và lệ phạt này gọi là vọng thăng thứ.
Không cứ riêng ở đình, tại các tư gia khi có việc hiếu hỷ mời tới dân làng, ngôi thứ cũng vẫn được giữ, và gian giữa nhà vẫn 1. Không phải khoa mục và ấm sinh, giám sinh xuất thân. (Chú thích của Đào Duy Anh).
Diện hình và Tổ chức
là chỗ của hàng chức sắc, còn hai bên tả hữu cũng tùy theo thứ
vị mà ngồi.
nhiều nơi trọng chức sắc, có bệ xây riêng ở gian giữa đình để hàng chức sắc ngồi, và có khi xây riêng một cái bệ cao để
ông tiên chỉ chức sắc ngồi một mình một chiếu.(2) có làng trọng văn học lại xây riêng một bệ dành cho các bậc đại khoa, hoặc đại thần từ tam tứ phẩm trở lên, nghĩa là phải đậu tiến sĩ hoặc phải làm quan to mới được ngồi. Trong những ngày tế tự, bệ này vẫn được trải chiếu bỏ trống, nếu làng chưa có người đủ điều kiện để được ngồi.
như trên đã nói, cỗ và phần việc làng tùy theo ngôi thứ, và trong làng thường phân ra cỗ quan viên, cỗ trợ tế, cỗ hàng giáp, ai ngồi chỗ nào, ở địa vị nào được hưởng cỗ ấy. Trợ tế là những quan viên được cắt cử tham dự lễ tế thần, hàng giáp là những người ở từng giáp của làng. có người vừa có chân nọ lại có chân kia được hưởng cả hai phần cỗ.
Ông tiên chỉ thường được phần cỗ rất nhiều, cỗ biếu, thịt, bánh biếu, lại thêm phần của thứ vị riêng. Không phải là ông tiên chỉ
tự tranh lấy phần cho mình, nhưng dân làng dành phần cỗ và phần biếu cho vị tiên chỉ để tỏ lòng kính trọng vị lãnh đạo toàn xã, phần biếu ở đây chỉ là một cách cụ thể hóa sự kính trọng dân làng vẫn có xưa nay đối với ông. các ông tiên chỉ vốn đều là người có học vấn, có đạo đức và có uy tín trong vùng, nhất là theo lệ cổ xưa của ta trọng văn học, ông tiên chỉ bao giờ cũng là người có chữ nghĩa hơn đa số dân làng.
Trước tục hương ẩm của ta, nhiều người lên tiếng chê bai là việc ăn uống tốn kém mà sinh nhiều hủ tục. Điều đó chỉ đúng một phần nào tại những xã có sự bày đặt quá rườm rà còn chính 1. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục
ra hương ẩm tượng trưng cho sự hòa đồng và đoàn kết tạo nên sức mạnh của dân làng với nhau. Dân làng chung thờ một vị
thành hoàng, chung chịu những gánh nặng phu phen tạp dịch, chung sống trong hoàn cảnh hàng xã, tất nhiên phải có dịp chung vui để cùng hội họp.
Vả chăng, người dân quê quanh năm vất vả, đầu tắt mặt tối, chỉ được nghỉ ngơi vào những dịp đầu xuân, tức là vào mùa tế
lễ, thì cũng nhân dịp này dân làng bày ra cùng nhau ăn uống, trước là dâng lễ thành, sau là chia sẻ sự mừng vui với nhau.
người nhà quên, có đâu mỗi lúc mổ một con trâu, con bò hoặc con lợn, phải có dịp cúng lễ họ mới giết những gia súc này, vậy thì hương ẩm cũng tạo những dịp để những người dân quê ít ăn thịt được ăn thịt vậy.
Sống ở làng, sang ở nước, đã gọi là tục làng, dân làng phải theo. Thật cũng lấy làm nực cười, có nhiều kẻ cứ tưởng mình văn minh đã cả gan đề nghị bãi bỏ cả tế tự trong dân xã! phải chăng họ muốn đi tới con đường vô thần, hay đây chỉ là hạng người mất gốc đã quên vun xới vườn mình và đã quên hẳn linh hồn đích thực của mình, và họ chính là lớp bọt bèo không bám được rễ xuống dưới đáy sâu nên họ không hiểu dân tộc mình là gì và họ không có lòng tự tin tự trọng hướng về dân tộc. Họ
say cái vỏ của những dân tộc áo ngắn không lịch sự, chỉ sống hời hợt với những cái lòe loẹt bên ngoài, với những cái xảo trá kỹ thuật, họ đã tưởng mình là văn minh tân kỳ!
TuầN PhòNg
Để giữ việc an ninh trong làng, để đề phòng trộm đạo, làng xã nào cũng đều có tổ chức việc tuần phòng.
người đứng đầu coi việc tuần phòng trong xã là trương tuần được dân làng đề cử ra. cũng có làng thay vì trương tuần đó là vị khán thủ. chính nghĩa hai chữ khán thủ là trông coi, người 172
Diện hình và Tổ chức
khán thủ là người đảm nhiệm trông coi việc làng, còn trương tuần là người đứng đầu các tuần phiên. Khán thủ cũng như trương tuần, do dân làng đề cử ra.
có nhiều làng, như làng Thị cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc), không có trương tuần mà cũng không có khán thủ, việc tuần phòng do phó lý đảm trách, và chỉ huy các tuần phiên để bảo vệ xóm làng.
Tuần phiên là những người trai tráng trong làng cắt ra, việc cắt này tùy theo tục lệ từng làng. có làng tuần đinh gồm những kẻ cùng túng, không được dự vào ngôi thứ phải cắt đi tuần, cũng có làng việc cắt cử tuần đinh cắt theo lần lượt các trai làng từ 18
tuổi trở lên không phân biệt giàu nghèo, ngoại trừ những người đã được tụ lệ miễn cho phu phen tạp dịch: các hàng chức sắc quan viên, các học trò, các người đã mua nhiêu mua xã được dự vào hàng quan viên v.v...
Việc cắt lượt trai tráng, có thể mỗi người phải xung chân tuần phiên trong mấy năm, hoặc làng cắt cử mỗi năm một số
người, và những người này chia nhau lần lượt, mỗi đêm mươi mười hai người để lo việc tuần phòng khắp trong làng. những người tới phiên làng cắt cử, có thể có tiền thuê người khác đi tuần thay mình.
ngoài việc tuần phòng trong làng, tuần phiên còn phải chịu sự sai phái của lý dịch và phải phục dịch các hàng chức sắc kỳ
mục trong những việc công.
Việc tuần phòng trong làng để giữ gìn an ninh cho dân xã là một việc rất quan trọng, dân làng thường đặc biệt chú ý để việc tổ chức được nghiêm cẩn. Ở hai đầu làng, ở những chỗ ngã ba ngã tư trong làng, và cả ở những đầu xóm, đều có điếm canh.
Làng tuy có lũy tre bao bọc, nhưng nếu không có tuần đinh tuần phòng, không có tuần đinh canh gác, thì dù có lũy tre che chở
cho làng, kẻ gian cũng không khỏi dòm ngó.
Đêm đêm, tuần phiên chia nhau người gác ở điếm canh, người đi tuần quanh làng, thấy động ở đâu họ thổi tù và liên hồi để
báo động. Trong lúc đi tuần, tuần đinh thường đi hai ba người và có mang theo khí giới là dáo mác, gây bẩy và có tù và. Thỉnh thoảng trong khi đi tuần, họ rúc lên một tiếng tù và để chứng tỏ sự hiện diện của mình cho dân làng yên tâm lúc đêm hôm.
Về ngày mùa, tuần phiên lại phải chia nhau canh phòng mùa màng ở ngoài đồng.
Trương tuần, khán thủ, hoặc phó lý, đêm hôm phải luôn đi kiểm soát các điếm canh, có một vài người tuần đinh đi theo.
Tại các điếm có trống canh, mỗi trống canh tuần phiên lại đánh trống, canh một, một tiếng, canh hai, hai tiếng, cho đến canh năm thì năm tiếng. Việc đánh trống cầm canh này, ngoài mục đích chứng tỏ sự hiện diện của tuần phiên trong làng tại các điếm, còn có tác dụng báo cho dân làng biết, đêm đã khuya đến bao nhiêu. Theo tục ta, một đêm chia làm năm trống canh, khi trống canh năm thì gà vừa gáy sáng. có làng, thay vì tiếng trống là tiếng mõ cầm canh.
Trương tuần cũng có khi đi tuần phòng, đi vào trong các xóm, lúc tới đầu xóm, người tuần phiên đi theo đánh lên mấy tiếng mõ, hoặc rúc lên một hồi ốc.
Tiếng trống, tiếng mõ, tiếng ốc đem hôm thanh vắng nghe lanh lảnh, khiến cho kẻ gian phải e dè mà lẩn trốn không dám hành động.
Đi tuần phòng, bắt gặp người đi đêm, tuần phiên thường giữ
lại nếu là kẻ lạ mặt ở trong làng, trừ trường hợp cùng đi với người làng hoặc có người làng bảo đảm. những người thành tích bất hảo bắt gặp đi đêm trong làng đều bị giữ lại tại điểm cho tới sáng đem dẫn trình Lý trưởng, tùy Lý trưởng quyết định.
những kẻ bắt gặp quả tang ăn trộm hoặc làm điều phi pháp 174
Diện hình và Tổ chức
đêm hôm bị bắt giữ và buổi sáng giải trình Lý trưởng để nộp lên quan hay xử vạ ngay tại làng tùy theo tội nặng nhẹ.
ngoài việc tuần phòng ban đêm, ban ngày trương tuần, khán thủ hoặc phó lý cùng tuần phiên cũng phải giữ gìn an ninh trật tự cho làng, và có quyền bắt giữ những người phạm pháp như
ăn trộm vặt, hái trộm hoa màu v.v... nhất là trong ngày mùa, nhiệm vụ trông coi mùa màng ở ngoài đồng thực là nặng nhọc đối với tuần phiên.
Đi tuần đêm hôm nếu bắt gặp một đám cướp định vào cướp phá trong làng, tuần phiên nổi tù và liên hồi để báo động cho dân làng biết và đồng thời báo cho các tuần phiên khác để tới nơi tiếp ứng cho bọn họ.
Thường, những bọn cướp bị tuần phiên bắt gặp mà chúng chưa kịp ăn cướp ở một nhà nào, chúng vẫn rút lui, vì chúng biết dân làng đã có phòng bị, nếu chúng hành động, chúng có thể bị bắt tại trận hoặc cũng không thâu được kết quả gì.
Khi trong làng có cướp, khổ chủ hoặc người nhà hô hoán lên, tuần phiên nghe tiếng lập tức kéo đến Trương tuần sẽ chỉ huy bọn tuần phiên để đánh cướp. Và trong trường hợp này, những dân làng trai trẻ cũng lập tức biến thành những người đánh cướp để giúp đỡ tuần phiên.
Trương tuần sẽ chia tuần phiên và dân đinh thành từng toán chặn giữ các ngả đường trong làng để ngăn bắt bọn cướp.
Một bọn cướp vào một làng, nếu không có nội tuyến chỉ đường hoặc nếu chưa tìm hiểu các ngõ ngách trong làng, thế nào cũng bị tuần phiên và dân làng đón bắt được một vài tên. Bọn cướp chỉ thành công và chỉ thoát nhờ có nội tuyến, thường là những kẻ thành tích bất hảo trong làng.
có nhiều trường hợp, bọn cướp ở một xã này đã thoát ra khỏi xã, nhưng lại gặp dân làng bên cạnh đón đánh. Đó là lệ hàng
tổng tiếp cứu nhau, hoặc hai ba làng gần nhau thường giao hiếu với nhau, nguyện cùng giúp đỡ nhau trong những cơn nguy khốn. Họ giữ gìn bảo hộ cho nhau, làng nọ bị giặc cướp quấy phá, làng kia tiếp cứu.
ngày xưa, những làng mới lập thường trông vào sự giúp đỡ
của các làng lân cận, phải giao hiếu với các làng này, tự nhận là xã đàn em để được các xã đàn anh bảo vệ. Lại cũng có khi trong cuộc lập ấp, có hai ba anh em ruột hoặc cùng làng, mỗi người tới khu hoang địa chưa khai khẩn lập một ấp, và những ấp này sau biến thành làng. Họ giao hiếu với nhau khởi đầu từ
những người đứng lên lập ấp.
còn có những trường hợp, hai ba làng cùng thờ một Thành hoàng, những làng này có sự liên hệ với nhau qua tín ngưỡng, do đó họ giao hiếu với nhau và giúp đỡ bảo vệ lẫn nhau khi có giặc cướp. Dù sao qua các việc đánh đuổi giặc cướp ở trong làng, cũng như qua sự giúp đỡ bảo vệ lẫn nhau của làng nọ đối với làng kia, ta thấy giữa người dân quê có một tình đoàn kết mật thiết và họ biết bảo vệ quyền lợi lẫn cho nhau. Một nhà có cướp, cả làng đều tham gia việc đánh cướp. Sự đoàn kết này đã gây nên sức mạnh, do đó, bọn giặc cướp ít khi được thành công trừ những trường hợp chúng có nội tuyến hoặc chúng thật đông người tới áp đảo một làng nhỏ ở nơi hẻo lánh cách xa làng khác.
Tính ích kỷ rất phổ cập nơi thành thị cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, thật là ít thấy ở các làng quê.
cả những khi trong làng có đám cháy cũng vậy. Tuần phiên là những người đầu tiên chạy tới để cứu chữa và dân làng, khi có cháy, dù ở khác xóm họ cũng kéo nhau tới kẻ câu liêm, người gầu nước để cùng chữa cháy.
Tuần đinh do dân làng cắt cử, nhưng làng cũng nghĩ tới quyền lợi của tuần đinh, làng nghĩ tới sự cấp dưỡng cho tuần đinh để
tuần đinh được yên trí lo việc bảo vệ an ninh cho dân làng.
Diện hình và Tổ chức
Tiền cấp dưỡng cho tuần đinh, có thì để cho một vài mẫu ruộng, hoặc đến vụ gặt hái thì mỗi mẫu phải cho một vài lượm lúa, hoặc ai có trâu thì mỗi con trâu phải cho mấy hào. Về nơi không có ruộng thì tính từng nóc nhà, đồng niên mỗi nóc nhà phải cho một vài hào, hoặc nơi thì cho khỏi đóng thuế trong khi ra tuần, tùy tục riêng từng làng. (1) ngoài các công việc về tuần phòng nêu trên, tuần đinh còn nhiều nhiệm vụ khác. chính họ là những người được hương chức phái đi bắt phu phen hoặc đi đốc thúc sưu thuế. Và như
trên đã nói, tuần phiên chịu mọi sự sai phái của lý dịch và các hàng chức sắc trong những việc công của làng.
Tại nhiều làng, có những người làm nghề tuần phiên chuyên nghiệp. Đây là những dân đinh vì không có ruộng nương hoặc nghề nghiệp gì, hay nếu có thì ruộng cũng chỉ độ vài bốn sào, và nghề nghiệp cũng không ra nghề nghiệp, nên họ nhận thay thế cho những trai tráng khác đến lượt phải làm tuần phiên, để
nhận phần ruộng, phần lúa hoặc phần tiền của những người này.
ngoài ra những trai tráng nhờ họ thay thế cũng phải trả họ một số tiền ngoài những quyền lợi về ruộng lúa hoặc tiền dân làng đã dành cho.
những tuần phiên tại nhiều xã giàu có thường hay phải đương đầu với những bọn cướp táo bạo, có khi lại biết võ nghệ, nên ngoài những trai tráng của dân làng cắt ra, thường có một số
tuần phiên chuyên nghiệp cũng biết võ nghệ và biết sử dụng các khí giới thông thường như dáo, mác, mã tấu, đinh ba, dao bảy v.v... có những người tuần phiên võ nghệ rất cao cường, biết sử dụng cả những môn khí giới đặc biệt như thiết lĩnh bút chì, bút sắt và lăn khiên.
1. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục
Thiết lĩnh là một thứ khí giới gồm hai thanh gỗ cứng, một thanh mẹ dài và một thanh con ngắn. Hai thanh mẹ con này được nối liền vào nhau bằng một thứ dây chắc, - người ta thường dùng tóc để khỏi đứt. chỗ nối liền hai mẹ con thiết lĩnh có vòng khuyên sắt. Lúc sử dụng tùy nơi rộng hẹp, cầm cây mẹ vung đánh bằng cây con hoặc cây con vung đánh bằng cây mẹ. Thiết lĩnh đánh rất mạnh, các khí giới khác gặp thiết lĩnh chống trả
thật khó, thiết lĩnh mạnh nhưng lại có tính cách mềm, rất uyển chuyển, do đó rất lợi hại.
Muốn phá thiết lĩnh, người ta thường dùng giây thừng hoặc cành tre, khiến cho thiết lĩnh vướng vào không vung được nữa.
Ở đây, phải dùng nhu trị nhu, đồng thời nhu lại trị cả cương, và thiết lĩnh cương mà rất nhu ở chỗ dây nối hai thanh mẹ con.
Bút chì là một chiếc mai hoặc chiếc thuổng có buộc vào cuối cán một dây thừng. Đây là một ngón đòn gió. Khi lâm trận, vung ném mai hoặc thuổng ra để tiện chân hoặc người kẻ địch. người sử dụng phải có luyện tập để khi vung bút chì ra tấn công lại kéo về được ngay. Võ sinh điêu luyện có thể phóng liên tiếp ba bốn ngọn bút chì liền.
Sử dụng bút chì có lợi, lúc phóng ra bút chì là một ngón đòn gió, nhưng lúc thu về bút chì lại biến thành một thứ khí giới để
phòng địch.
Bút sắt cũng là một ngón đòn gió và được phóng ra như một ám khí.
Đây chính là một ngọ dáo hoặc ngọn mác, mũi sắt cán tre, loại tre gai nhỏ nhưng thân rất cứng.
Giữa khi đôi bên giao chiến hoặc cùng ở thế thủ rình nhau, người sử dụng bút sắt, uốn cong cán bút, rồi bất thần lựa chiều buông ra văng mạnh đi để ngòi bút tức là ngọn mác hoặc ngọn dáo lao tới kẻ địch.
Diện hình và Tổ chức
Bút sắc lợi hại, nhưng thứ ám khí này kém bút chì ở chỗ một khi đã phóng ra không kéo trở lại được.
lăn khiên là một môn võ nghệ đặc biệt của Việt nam và vô cùng lợi hại.
Khiên chính là cái mộc dùng để đỡ tên cũng như đỡ những nhát đâm chém của địch thủ.
Dùng khiên trong môn võ lăn khiên, người ta đan những chiếc khiên bằng cật tre rất cứng, đan ngoài lại lót trong, thường là cật tre ngâm, để cho tên bắn không thủng, dáo mác đâm không qua và dao chém không đứt.
Loại khiên này đan hình tròn, có chỗ tay cầm bên trong.
người lăn khiên cầm khiên bên tay trái, còn tay mặt sử dụng một thanh mã tấu hoặc một thanh gươm bén. người đó lăn tròn chiếc khiên và ẩn mình gọn ghẽ đằng sau khiên, tiến tới và tấn công địch bằng mã tấu hoặc gươm, luồn dưới khiên để phạt chân địch. Địch đâm chém đã có khiên đỡ, và đồng thời lùa mã tấu ra chém địch.
Mấy món khí giới đặc biệt trên, những tay tướng cướp lợi hại thường biết sử dụng, và thời xưa, dân làng không có súng ống, chống lại những bọn cướp ghê gớm cũng cần phải có những người có võ nghệ. Bởi vậy, những làng xã giàu có, để phòng cướp bóc, dân làng thường thuê một số tuần phiên chuyên nghiệp có võ nghệ để chống cướp khi cần tới. Và dân trong làng, cũng có người luyện tập võ nghệ để gặp khi nguy biến thì hỗ trợ cho tuần phiên đánh đuổi cướp.
Ai đã có dịp được chứng kiến những cuộc giao phong giữa kẻ cướp và tuần phiên có dân làng hậu thuẫn mà cả đôi bên đều tài nghệ cao siêu, đều phải nhận rằng cuộc đánh đỡ của đôi bên thật là hào hứng với những ngón đòn gió thật là nguy hiểm, với những cây thiết lĩnh vèo vèo múa lên như cuồng phong thật là
kinh khủng. Thêm vào đó tiếng tù và thổi, tiếng trống, tiếng mõ và tiếng hò reo của dân làng ầm ĩ, thật là một trận sinh tử hiếm có.
Rồi có khi dân làng tổng đổ ra trợ lực cho dân làng bị cướp.
Bọn cướp trong trường hợp này, vừa chống đỡ vừa rút lui, không một người nào bị bắt, bị thương, có khi còn mang được cả đồ
ăn cướp, kể thật là đáng khen. Sự thật, loại cướp cao siêu và tài ba rất hữu hạn, nên thường tuần phiên trong làng, với sự trợ lực của dân làng bao giờ cũng đánh tan bọn cướp và chúng thường phải rút lui trước sự đoàn kết của dân làng mà không lấy được gì. cướp bóc chỉ thành công ở những làng kém tổ chức và ở
những làng thiếu sự đoàn kết giữa dân làng với nhau.
Bầu Cử lý DịCh
Một trong các sinh hoạt cộng đồng đáng kể của dân làng là việc bầu cử lý dịch, nghĩa là bầu cử những người ra gánh vác việc dân, việc làng, những người điều khiển mọi công việc trong làng và làm trung gian giữa dân làng với các quan triều đình ở huyện, phủ và tỉnh, mà ngày nay là các quận trưởng và tỉnh trưởng.
Thường mỗi khi trong làng khuyết chân lý dịch, lý trưởng, phó lý hoặc hương trưởng, tỉnh và huyện sức về cho dân làng bầu cử người khác.