Hội Phủ GiầyPartie 21
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Đền Phủ Giầy xây tại xã Vân Cát, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định thờ
Liễu Hạnh Công chúa.
Hàng năm đền có mở hội từ mồng một cho đến hết mồng mười tháng ba mới rã đám, gọi là Hội Phủ Giầy. Hội mở rất linh đình nhộn nhịp và dân chúng đông lắm, nhất là dân mấy tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, và Thanh Hóa.
Sự tích Liễu Hạnh công chúa
Liễu Hạnh Công chúa tên thật Giáng Tiên, là ái nữ ông Lê Thái Công, thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định (Hà Nam Ninh).
Vân Cát là một làng văn học, dân cư sầm uất gần giáp núi Gôi, nơi có ga xe lửa trên đường Hà Nội đi Ninh Bình.
Lê Thái Công vốn người nhân đức ưa làm điều thiện, nhưng số phận hiếm hoi, mãi ngoài 40 tuổi mới sinh được một con trai. Cách năm sau phu nhân lại có thai. Lạ thay, thai đã quá tháng, phu nhân không sinh lại thường bị đau yếu chỉ thích ngửi hương hoa. Người nhà nghĩ phu nhân bị
tà ma ám ảnh, đền thầy pháp yểm trừ, nhưng bệnh không thay đổi, cả
nhà lo sợ lắm.
Cho đến một đêm vào tiết Trung Thu, trong lúc mọi người thưởng nguyệt, bỗng có một người ăn mặc rách rưới, tự khoe có phép thuật xin vào trị bệnh. Người nhà không tin. Lê Thái Công vẫn ân cần đón mời.
Người đó vào đến sân, rút trong tay áo ra một cây búa ngọc, nhảy lên đàn đã thiết lập từ trước để thầy pháp cúng trừ tà, ngửa mặt lên trời lâm râm tụng niệm. Trong lúc ấy Thái Công và gia nhân đều đứng ở dưới đàn
nhìn lên. Đang tụng niệm bỗng nhiên người kia hét lên một tiếng rất lớn, rồi quăng cây búa ngọc xuống chỗ Thái Công đang đứng. Thái Công liền ngã nhào xuống đất mê man bất tỉnh. Người nhà thấy vậy biết là phép thuật, chỉ cùng nhau khấn vái.
Một lát sau Thái Công tỉnh dậy. Cùng lúc ấy trong buồng phu nhân có bóng hào quang sáng rực và có tiếng khóc oa oa. Phu nhân vừa sinh một gái. Hương thơm ngào ngạt khắp nhà.
Mọi người vui mừng quên không để ý tới người lạ mặt ở trên đàn, nhưng khi để ý tới, không biết người này đã biến đi đâu tự bao giờ? Ai cũng lấy làm lạ.
Thái Công tỉnh dậy kể cho người nhà nghe:
Khi ông ngã xuống, có mấy lực sĩ dẫn ông đi, đàng trước bóng sáng lờ
mờ, qua mấy chặng đường đến một nơi cửa ngọc lầu vàng. Tại đây, lực sĩ thay áo cho ông rồi dẫn ông vào cửa cấm chờ lệnh. Không lâu, bỗng mây vàng bao phủ, hai bên sân có hàng mấy trăm tiên nữ, áo quần tha thướt, múa hát những khúc nghê thường vũ y. Cô dâng đào, cô chuốc rượu, chúc thọ Vương mẫu.
Giữa lúc ấy, có một tiên nữ áo hồng, nâng chén ngọc, lỡ đánh rơi, vỡ tan chiếc chén, tức thì phía bên tả có một tiên ông đệ trình một cuốn sổ vàng.
Vương mẫu quở mắng nàng tiên.
Vương mẫu quở mắng xong, hai thị nữ áp dẫn nàng tiên áo hồng ra lối cửa Nam, một người cầm chiếc biển vàng đề hai chữ SẮC GIÁNG([1]) đi trước.
Thái Công hỏi, một lực sĩ đáp:
''Đây là tiên chúa thứ hai tên gọi Quỳnh Nương, nay phạm lỗi bị giáng xuống trần.''
Lực sĩ nói xong đẩy mạnh Thái Công làm cho ông sực tỉnh, và vừa sực tỉnh, ông nghe tiếng khóc oa oa ở trong phòng phu nhân.
Thật là kỳ lạ! Người nhà ai cũng đoán cô gái mới sinh là tiên nữ áo hồng giáng thế. Cũng vì vậy Thái Công đặt tên con là Giáng Tiên.
Khi Giáng Tiên lớn lên nhan sắc lạ thường, học hành thông minh lại có tài âm nhạc, nhất là sử dụng ống tiêu. Cô đã soạn ra nhiều ca từ phổ vào đàn nhạc.
Dưới đây là bốn bài ca từ về bốn mùa theo bản dịch của Phan Kế Bính trong Nam Hải dị nhân liệt truyện:
XUÂN TỪ (Điệu Xuân Quang Hảo)
Cảnh như vẽ, khéo ai hay? Hoa đào mỉm miệng liễu dương mày. Bướm nhởn nhơ bay, oanh vàng líu lo trong bụi, én đỏ ríu rít trên cây. Buồng xuân dìu dặt mối tình ngây, đề thơ này!
HẠ TỪ (Điệu Cách Phố Liên)
Trời đất nhiều phần nóng nẫu. Đầu cành rúc giọng ve, bãi cỏ kêu vẳng tiếng chẫu; vò võ quốc kêu sầu, eo éo oanh hót ngẫu. Dường bảo nhau:
''Chúa Xuân về rồi, thôi cũng hảo!'' Cảnh sắc dường kia, ngao ngán cầm lòng khôn đậu. May đâu thần Chúc Dong gảy một khúc nam huân, hương sen thoảng đáo một trận gió bay, sạch lòng phiền não.
THU TỪ (Điệu Bộ Bộ Thiềm)
Mặt nước trong veo non tựa ngọc, gió vàng hây hẩy khua khóm trúc.
Hoa lau muôn dặm trắng phau phau, cây cối vẻ hồng pha vẻ lục. Cung thiềm sáng quắc ả Hằng ngủ, dạo bước thềm giao tình rạo rực. Chi bằng đến thẳng giậu cúc thơm, thảnh thơi dạo đàn gảy một khúc.
ĐÔNG TỪ (Điệu Nhất Tiễn Mai)
Khí đen mờ tịt tỏa non sông, hồng về Nam xong! Nhạn về Nam xong!
Gió bấc căm căm tuyết mịt mùng! Tựa triện ngồi trông! Tựa triện đứng trông! Sưởi lò mặt vẫn giá như đồng, ngồi chẳng yên lòng, nằm chẳng yên lòng! Dậy xem phong cảnh lúc trời Đông, hoa quên lạnh lùng, người quên lạnh lùng!
Bốn điệu ca từ trên thật là buồn, Giáng Tiên thường dạo mấy khúc này.
Mỗi khi Thái Công dạo chơi sau vườn, nghe những nhạc buồn của con gái, bụng cũng lấy làm buồn. Nhân Thái Công có một ông bạn họ Trần cùng làng, Thái Công cho Giáng Tiên làm con nuôi Trần Công, và làm riêng một căn nhà trong vườn Trần Công để nàng ở.
Ít lâu sau Giáng Tiên kết duyên cùng Đào Lang, con trai một vị hưu quan ở gần nhà Trần Công. Về làm dâu nhà họ Đào, Giáng Tiên một lòng hiếu thuận, và năm sau sinh hạ một con trai.
Ba năm sau, một hôm vào mồng ba tháng Ba, Giáng Tiên tự nhiên vô bệnh mà mất, năm ấy nàng mới 21tuổi.
Nàng chết đi, ba nhà họ Lê, họ Trần và họ Đào đều thương tiếc sầu thảm không nguôi, nhất là Lê Thái Bà đêm ngày khóc lóc đau xót vô cùng.
Có lẽ cảm thương mẹ quá đau đớn, một hôm giữa lúc Thái Bà đang khóc, Giáng Tiên hiện về ôm lấy mẹ mà nói:
- Mẹ ơi! Con ở đây mẹ khóc gì thế!
Thái Bà ngửng nhìn con, và cả nhà xúm lại hỏi han, Giáng Tiên nói:
- Con là Đệ nhị tiên cung phải đày xuống trần, nay hết hạn, phải về thiên cung. Cha mẹ có âm công, đã vào sổ tiên, mai sau cũng được đoàn tụ
không cần gì phải âu sầu.
Nói xong nàng biến mất.
Từ ngày nàng hiện về, người làng biết chuyện gọi nàng là Tiên chúa.
Kể từ khi Tiên chúa mất đi, Đào lang cũng sầu thảm khôn khuây. Để giải phiền chàng thường ngâm thơ. Một đêm giữa lúc chàng ngâm thơ Tiên chúa hiện tới. Chàng vội vàng níu lấy kể lể sự đau khổ của mình. Tiên chúa khuyên giải rồi lại biến mất.
Từ đó, Tiên chúa thường hiện lên ở khắp nơi. Có lần ở Lạng Sơn, Tiên chúa đã cùng Phùng Khắc Khoan đối đáp thơ văn. Lại có lần ở Hồ Tây, Tiên chúa cùng Phùng Công làm thơ xướng hoạ liên ngâm.
Về sau Tiên chúa hiển thánh ở Đèo Ngang, Phố Cát, tỉnh Thanh Hóa, hiện ra làm một cô gái nhan sắc mở quán bán nước, những đàn ông con trai đi qua đùa bỡn bị chết hại rất nhiều. Tin về triều đình, cho là yêu quái, sai phù thủy và quân tướng đi dẹp, chẳng ngờ đến đèo Ngang, khi thầy phù thủy thi thố phép thuật bỗng ngã lăn xuống đất trợn mắt trừng trừng, còn quân lính dùng tên lửa bắn vào rừng cây cháy trụi, tan phá hết đền đài. Vài tháng sau, chứng dịch tễ phát sinh tại địa phương, dân chúng cùng nhau lập đàn cúng tế. Tiên chúa ứng lên cho biết mình hiển thánh. Nhân dân thấy việc lạ, làm sớ tâu lên triều đình. Được sớ tâu, hoàng đế là vua Lê Huyền Tôn hạ chiếu cho Công Bộ về tận nơi dựng ngôi đền thờ trên Phố Cát và sắc phong làm Mã Vàng công chúa. Về sau, vào đời vua Cảnh Hưng; giặc Mèo nổi loạn, triều đình sai quận công Phan Văn Phái đi đẹp. Khi kéo quân tới đèo Ngang, Phan quận công vào đền Tiên chúa cầu khấn, và ngày hôm sau tiến quân đánh tan được giặc Mèo. Trước công trạng ấy, triều đình sắc phong công chúa làm Chế
Thắng Bảo Hoà Điệu đại vương, và đồng thời sai dựng mấy tòa đền ở
Sòng Sơn, Phố Cát, Đèo Ngang để thờ. Đền Sòng Sơn rất anh linh, cho đến trước thời tiền chiến, hàng năm đông người tới lễ bái. Ở tại xã Vân Cát, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định (Hà Nam Ninh) cũng có dựng nên đền thờ, thường gọi là Phủ Giầy.
Tục lệ trong những ngày hội
Đền Phủ Giầy rất linh thiêng, và hàng năm mở hội, dân chúng gọi là ngày hội Thánh Mẫu Vân Hương. Khách thập phương tới chiêm bái rất đông. Trong ngày hội có đủ các trò vui như ca hát, kéo chữ, đánh cờ, và
đặc biệt là các cuộc tế lễ rất tưng bừng. Đáng chú ý nhất là đám rước từ
Phủ Giầy tới xã Phù Chính ở chân núi Gôi vào ngày mồng 6 tháng 3: đây là một đám rước đồ sộ, có hàng mấy trăm ngàn người từ các ngả tới dự.
Trên con đường Phù Chính đông nghịt những người, nối dài hàng năm sáu ngàn thước. Màu sặc sỡ của cờ, mùi hương quyện với mùi hoa, tiếng trống rước xen lẫn tiếng người thật là ầm ĩ nhộn nhịp.
Ngoài đám rước trên, tại hội Phủ Giầy vào ngày mồng mười lại có cuộc kéo chữ. Phu hội hàng mấy ngàn người trong huyện Vụ Bản từ các xã cắt tới dự cuộc kéo chữ này. Có năm kéo mấy chữ Thiên Hạ Thái Bình, có năm kéo mấy chữ Phong Đăng Hòa Cốc, hoặc Quốc Thái Dân An, hoặc Vũ Giáng Dân Duyệt.
Người ta nô nức đi xem kéo chữ cũng như nô nức đi xem rước. Đi xem hội, ngoài việc dự các cuộc rước sách, xem các trò vui, người ta cần nhất để lễ bái và cầu phúc. Lại có các con hương đệ tử lên đồng, hầu bóng.
Hội chùa Hương vui, hội Phủ Giầy cũng vui. Năm năm mỗi kỳ hội xã Bảo Ngũ lại được tưng bừng đón rước đồng bào thập phương tới dự.
[1] Sắc cho giáng xuống trần