Hội đình thần xã Long Phú với những nét chung vềPartie 30

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

hội hè đình đám Miền Nam

Nói chung ra từ Bắc chí Nam, nơi đâu trong việc cúng lễ dân chúng thường cũng theo nghi thức cổ truyền mà chúng tôi đã có dịp trình bày trong TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM khi nói về Đạo Thờ Thần. Việc sự

thần ở đâu cũng vậy, lấy sự cung kính làm đầu và để biểu dương sự cung kính, tất nhiên phải dùng đến lễ nghi tuy trong lễ nghi có những điều khác biệt nhỏ tùy từng địa phương.

Tại miền Nam, đình đám cũng không khác miền Bắc bao nhiêu, nếu có khác là chỉ ở những trò bách hí miền Nam ít hơn hai miền Trung và Bắc, còn sự lễ bái thường cũng thể hiện một cách tương tự. Qua mấy hội hè đã trình bày, bạn đọc hẳn đã nhận thấy những điều dị biệt không đáng kể.

Ông Nguyễn Văn Kiềm tác giả cuốn ''Tân Châu'', khi được soạn giả cho biết ý định viết tập sách này, đã có nhã ý gởi tặng một tập tài liệu về

Đình đám tượng trưng miền Nam với rất nhiều chi tiết quý báu, nhất là về hội hè tổ chức tại đình làng. Ông đã trình bày hội hè đình đám miền

Nam qua sự lễ bái tại đình xã Long Phú, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (An Giang). Soạn giả xin thành thật cảm ơn tác giả Tân Châu, và để bạn đọc biết rõ về Hội hè đình đám miền Nam, tưởng không gì hơn cho in lại nguyên văn tập tài liệu này.

''Trên khắp lãnh thổ miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, đâu đâu cũng có dựng lên tại trung tâm xã một ngôi đình cổ kính để thờ thần. Trừ một số ít xã thờ các vị công thần triều Nguyễn đã được sắc phong như

Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Lê Văn Duyệt v.v... kỳ dư bao nhiêu ngôi đình khác chỉ thờ điển hình vị THÀNH HOÀNG BỔN

CẢNH.

Mặc dù các vị thần thiêng liêng này đều là vô danh, nhưng cũng được Triều đình sắc phong rực rỡ như các bực công thần nói trên.

Tóm lại, để tượng trưng đình đám miền Nam, chúng tôi xin gom góp tài liệu liên quan đến đình thần xã Long Phú, quận Tân Châu (Châu Đốc).

Việc lễ bái ở các nơi khác cũng tương tự hoặc chỉ có đôi điêu khác biệt nhỏ. Trước hết cần biết qua sự:

Tổ chức ban quản trị

Dưới thời Pháp thuộc, các đình thần Bổn xứ do Ban Hương Chức Hội Tề

cai quản. Từ năm 1945 đến nay, Ban Hương Chức Hội Tề giải tán, đình thần được cải tổ do dân trong xã tự do lựa chọn người tuổi tác, công chức hồi hưu có tác phong đạo đức bầu lên thành: A. Ban quản trị gồm:

Chủ Tịch danh dự luôn luôn dành cho vị Quận Trưởng địa phương (ông này thuyên chuyển, ông khác kế vị).

1. Chủ Tịch

2. Phó Chủ Tịch (I-II)

3. Tổng Thơ Ký

4. Phó Thơ Ký (2 hoặc 3)

5. Thủ quỹ

B. Uỷ viên kiểm soát:

1. Trưởng Ban

2. Phó Trưởng Ban (2 hoặc 3 nhân viên)

C. Các đặc ban lo đình đám

Ban tế tự gồm:

1. Tham Thần

2. Kế Hiền

3. Hương Quan

4. Đại Bái

(4 chức vị này như là chức danh dự)

5. Chánh Bái

6. Bồi Bái

7. Phó Bái

8. Hiệp Bái

9. Tham Bái

10. Hương Bái

Ban tế nhạc gồm:

1. Trưởng ban

2. Phó trưởng ban

Ban lễ nhạc gồm có những chức việc hầu lễ: Trưởng lễ, Tham lễ, Tri lễ

v.v...

Ban nhạc gồm có Trưởng nhạc, Tham nhạc, Tri nhạc v.v...

Lễ sĩ (học trò lễ) có nhiều vị nhưng mỗi kỳ lễ cúng chỉ có 7 cặp mà thôi.

Ban nghi tiết:

Lo chưng dọn gồm có Trưởng ban, Phó trưởng ban và nhiều chức việc khác như Chủ trưởng, Tham trưởng v.v...

Ban thiện phòng

Lo mua lễ vật cúng kiếng và nấu nướng đãi đằng quan khách. Ban này cần phải có nhiều chức việc thay phiên mới đủ dùng trong mấy ngày lễ.

Ban quản thủ tài vật

Ban này tổ chức cũng như Ban trên để trông nom gìn giữ chu đáo tài sản của đình.

Ban tiếp tân

Lo việc tiếp rước quan khách trong mấy ngày cúng kiếng gồm nam và nữ.

Ban ánh sáng

Lo cung cấp đèn trong lúc hành lễ.

Ban cố vấn

Gồm nhiều vị kỳ lão sáng suốt.

Nhiệm kỳ của Ban quản trị là hai năm bầu lại một lần, ngoại trừ Ban Tế

Tự không thay đổi, trừ phi có vị nào qua đời và vì một lẽ riêng gì đặc biệt. Một điều nên để ý là mỗi vị trong mỗi ban đều được Ban Quản Trị

cấp phát ''Bầu cử Chứng Thư'' (xưa gọi Tờ cữ) hẳn hoi, để chứng tỏ

đương sự có công với đình thần.

Tổ chức đình đám

Mặc dù đồng bào địa phương vẫn biết rằng đình xã sở tại của mình thờ

''Thành hoàng Bổn Cảnh'' tức vị Thần thiêng liêng vô danh, nhưng họ lại rất hãnh diện vì có sắc phong rực rỡ do đặc ân của vua ban, nên đứng trên phương diện tín ngưỡng vô bờ bến, họ quan niệm sâu sắc là ''linh bất linh tại ngã'', nên trọn vẹn tin tưởng vị Thành hoàng Bổn Cảnh như vị

linh thần có huyền năng mang đến đời sống họ đầy đủ cả hạnh phúc về

danh lợi, tiền tài, tình duyên, mùa màng, luôn cả điều kiết hung nữa.

Bởi vậy, từ xưa đến nay, để tôn sùng cao độ vị thần thiêng liêng an trấn tại đình, các vị Tiên Hiền, Hậu Hiền, Kế Hiền đều triệt để thi hành hai cổ

lệ tế thần như sau:

Đại lễ Kỳ Yên vào ngày 16-17-18 tháng 5 âm lịch Tiểu Lễ Chạp Miếu hay Lạp Miếu vào ngày 16-17 tháng Chạp âm lịch.

Tuy nhiên Đại Lễ Kỳ Yên không còn là ngày bất di bất dịch nữa. Đến năm 1967, Ban Quản Trị đồng ý cải tổ ngày Đại Lễ Kỳ Yên vào ngày 9-10 tháng 5 âm lịch cho phù hợp với sự sinh hoạt địa phương, còn ngày Tiểu Lễ Chạp Miếu thì để y như cũ.

Đến đây, thiết tưởng cũng nhắc lại việc tổ chức Đại Lễ Kỳ Yên ngày xưa có kiêm cả hát bộ. Dưới đây là:

Bài xây chầu hát đình

1. Thần tiền niệm hương chú

Phục vị càn tượng, cảm dĩ thoại thông.

Cẩn chú thanh hương, kiến thành bái khải.

Nhứt niệm đạo hương, thượng khẩn thiên quan, nguyện bảo vệ sơn hà xã tắc.

Nhị niệm đạo hương, trưng đạt địa quan, nguyện quốc dân, tăng long càn tượng.

Tam niệm đạo hương, hạ thấu thủy quan, nguyện tứ hải phong điều vũ

thuận.

Nhơn tư điện võ, đáo lệ kỳ yên, hữu ca xướng nhứt viên. Kim đệ tử tánh

..........., nhập đàn (khởi) cổ nguyện ứng trinh tường, cung vọng thỉnh Tôn Thần chí linh phủ thùy chiếu giám.

Ra ngoài sân khấu (võ ca)

(Đánh tiếp giá Nghinh Thần)

Phục vị Thần Thánh chi đại, cảm dĩ linh thông, cẩn chú thanh hương, kiến thành ca khải.

Cung vọng thỉnh Tổ sư, tiền trào Triệu Công, Kỷ Bỉnh, Thành Hầu, Tiên Sư tọa vị chứng minh.

Nhơn tư điện vỡ đáo lệ kỳ yên, hữu ca xướng nhứt viên. Kim đệ tử tánh

.......... nhập đàn khởi cổ.

Nguyện ứng linh thông, cung vọng thỉnh Tiên sư, Tổ sư, linh linh chỉ thị.

Tẩy trước chú (Tay cầm nhành bông, tô nước) Tiên nhứt sanh thủy, địa lục thành chi, Thần Thủy sái động, uế trược trần phi.

Ấn Ngươn Hanh Lợi Trinh.

Lấy nhành bông rảy nước rồi cầm roi chầu

Pháp luân thường chuyển Tứ Thiên Vương, Bát đại Kim Cang trấn tứ phương,

Ngô kim khởi cổ đồng lai trớ;

Túng tư xã tắc thọ miên trường.

Thư phù yểm diện chúng (dỡ khăn mặt trống cầm roi trống hoạ tứ tung ngũ hành 4 sổ 5 ngang)

Thương thân nhứt túc, Yết tợ lôi hoành, chấn cổ biến thinh thông thiên triệt địa, lỵ mỵ tìm hình.

''Ấn hành hoành''

Trịch mộc chú (khắc roi chầu)

(rụt rụt, cắc) Nhứt trịch mộc, chư Thiên lai giáng phúc (rụt, rụt, cắc, cắc) Nhị trịch mộc, chư Địa phi lai.

(rụt, rụt, cắc, cắc, cắc) Tam trịch mộc, vạn Thần lai ủng hộ.

Điểm mặt trống

(rụt, rụt - Đùng) Nhứt điểm nguyện: Sơn Hà thống nhứt Dân Quốc hà xương, vạn sự trinh tường, thiên niên đức hóa.

(rụt, rụt - Đùng, đùng) Nhị nguyện: Hải yến hà thanh, tứ phương ninh tịnh, trào sĩ công khanh, linh qui hạc táng.

(rụt, rụt - Đùng, đùng, đùng) Tam điểm nguyện: Quốc phú binh cường, nam phương lạc thổ, hoà cốc phong đăng. Dân khương vật phụ, bá tánh an ninh, Thọ thọ phước.

Tiền đả tam thập thất thanh: 37 tiếng

Trung đả lục thập thất thanh: 67 tiếng Hậu đả cửu thập cửu thanh: 99 tiếng

Nghi lễ xây chầu

A. Vô chánh điện:

1. Lễ sĩ xướng: Cổ lại viên tựu vị

2. Lễ sĩ xướng: Nguyện hương thượng hương

3. Lễ sĩ xướng: Châm tửu - Cúc cung bái (2 lạy) B. Đọc bài phục vụ hay xây chầu

1. Lễ sĩ xướng: Châm tửu - Tạ thần: Cúc cung bái (2 lạy) 2. Lễ sĩ xướng: Thỉnh Thánh - Bưng khay trầu rượu đi ra sân khấu.

C. Ra sân khấu

1. Lễ sĩ xướng: Cổ lại viên tựu vị

2. Lễ sĩ xướng: Nhạc công khởi nhạc - đánh tiếp - giá.

3. Lễ sĩ xướng: Nguyện hương - Cúc cung bái (2 lạy - châm tửu).

D. Đọc bài xây chầu

Lễ sĩ xướng: Châm tửu: Lễ nhị bái (2 lạy)

Nên nhớ chỗ BÀI XÂY CHẦU có khoảng chấm chấm nói: Nhơn tư diện vở đáo lệ Kỳ Yên, đệ tử tánh danh (điền tên người đứng xây chầu) nhập đàn khởi cổ. Và từ đây Cổ lại viên cứ theo trong bản xây chầu mà đánh trống cho đủ số dùi đã ấn định (vừa đánh vừa đếm) xong rồi hát bộ dâng liễn, gia quan v.v...

Xuyên qua Bài Xây Chầu hát bộ thì nhận thấy quả là một bài trấn ếm của vị cao tay ấn bùa Lỗ Ban, gọi ''ấn Ngươn Hanh Lợi Trinh'' để trấn ếm quỷ mị không cho độn nhập loạn vào Đình Trung, hầu bảo đảm cho buổi lễ Kỳ Yên được hoàn toàn yên tịnh không xảy ra việc gì đáng tiếc. Hơn nữa Xây Chầu là cả một nghệ thuật cần chuyên luyện mới thành công và điều khiển ăn khớp với Nghi Lễ Xây Chầu.

Bên lề cuộc hát bộ

Thuở đó trong xứ chưa có cải lương và chiếu bóng vào thôn quê như

hiện giờ, nên môn hát bộ được thạnh hành, cho là môn giải trí duy nhứt vả lại mỗi năm trong xã mới có tổ chức hát bộ về đình hát đôi ba hôm.

Một dịp làm cho nông dân thưởng thức nghệ thuật làng hia mão. Vì vậy bất cứ nam phụ lão ấu đều đua nhau đến đình xem chật cả. Còn sự buôn bán thì tấp nập.

Ngoài thú xem hát ra, trẻ em còn giải trí bằng lối đánh bầu cua cá cọp (môn cờ bạc này đến nay vẫn còn thịnh hành). Người lớn có máu đỏ đen thì tha hồ mà cờ bạc làm cho bao nhiêu người phải mang nợ đến đỗi phải vong gia thất thổ. Riêng trai xinh gái lịch - trong bộ đồ vía – lại mượn cuộc hát xướng để làm nơi hẹn hò.

Nghi lễ tế thần

Tiên yết

Củ Soát tế vật (kiểm lại đồ cúng)

Khải Sắc (mở hòm Sắc, trải Sắc chỉ ra)

Ế mao huyết (rút chén lông và huyết ếm bàn Thần, đem ra để ngoài bàn lễ sinh)

Chấp sự giả các tư kỳ sự (Ba ông thủ mõ, chuông, trống ra bái trước hương án ngoài).

Khởi thái bình (mõ)

Khởi chung cổ (chuông trống) Thái bình, chung cổ tề minh (3 thứ luân phiên dóng) Nhạc sinh tựu vi (Nhạc vào trước hương án).

Nhạc sinh khởi nhạc (Nhạc cử tiếp giá: 3 hồi, 3 chậm) Niệm hương tựu vị (Ông niệm hương vào trước hương án) Phần hương (người hầu đốt hương)

Quị (quì)

Niệm hương (khấn niệm lớn tiếng)

Thượng hương (Người hầu cắm hương lên bàn hương án) Phủ phục (cúi xuống)

Hưng bình thân (đứng dậy)

Nghinh thần (rước thần)

Cúc cung bái (Xướng 4 lần, lạy 4 lần. Nhạc cử Bạc đàng) Hưng bái - Hưng bình thân

Bổn thân viên quan hướng chức đồng lai bái (thảy đều lạy 4 lạy theo lễ

sinh xướng)

Bồi tế tựu vị (Ông Bồi tế vào hương án)

Đông Hiến, Tây Hiến, Các tựu vị (Hầu lễ vào hai bên) Chánh tế tựu vị (Ông Chánh tế vào)

Nghệ quán Tẩy (lại đài rửa mặt)

Quán Tẩy (rửa mặt).

Phục vị (trở lại bàn hương án)

Khởi tuần hương

Nghệ hương án tiền (nhạc xây lá, lễ sinh đi vào dâng hương trầm) (Quị trước hương án ngoại)

Phần hương (Chánh tế đốt trầm do lễ sinh quì trao) Thượng hương (lễ sinh đi lên dâng trầm - sau khi lễ sinh trở xuống) Phủ phục (cúi xuống)

Hưng bình thân (đứng dậy)

Cúc cung bái, Hưng bái (xướng 4 lần, lạy 4 lạy) Hưng bình thân.

Phục vị (Chánh tế thụt lại một chút).

Khởi tuần rượu (Lễ sinh đốt đèn)

Hành hiến lễ.

Nghệ thần vị tiên (Nhạc xây lá, lễ sinh đi vào) Quị (trước hương án ngoại)

Tấn tước (lễ sinh quì trao cho Chánh lễ rót rượu).

Hiến tước (lễ sinh đứng dậy, đi dâng rượu).

(Lễ sinh đi lên theo tiếng nhạc xây bạc - Từ bàn Thần.

Lễ sinh trở xuống, tiếp xướng cho Chánh tế lạy 2 lạy),

Chuyển chúc (3 lễ sinh đến lấy đài bản văn tế) Giai quị (đồng quì)

Đọc chúc (một lễ sinh cầm bản văn, một cầm đèn, một đọc văn)

Điểm trà:

(Dâng trà thẳng lên bàn Thần, Nhạc cử bài Ngũ điếm).

Phần chúc (đốt văn)

Nạp Sắc (để Sắc chỉ vào hòm).

Lễ thành

Chánh tế, Bồi tế, xuất vị (để lễ sinh lạy 4 lạy).

Lễ đàn cả

Phần đầu: giống y như phần đầu của lễ Tiên Yết.

Cho đến tuần rượn: giống y như lễ Tiên Yết.

Phần chung lễ: đổi lại và thêm như sau đây:

Tuần rượu nhì

Hành á hiến lễ.

(Sau đó giống như sơ tuần)

Phần rượu ba:

Hành chung hiến lễ (sau đó, giống y như tuần nhì, mõ, chuông trống, dóng 3 luôn cho tới hạ đàn tế).

Chánh tế, Bồi tế xuất vị (để nhường chỗ cho)

Bổn thôn Hương chức đồng tái bái (lạy mỗi người 4 lạy - Lễ sinh tiếp lạy theo, cũng 4 lạy).

Cáo thối

Chánh tế, Bối tế phục vị (hai ông này trở vào).

Nghệ ẩm phước vị (Lễ sinh bưng 2 đài không, lên bàn Thần) Thần tứ phước Lộ (Lễ sinh nhận lấy thịt rượu bưng xuống) Giai quị (đồng quì)

Ẩm phước (uống miếng rượu)

Thọ tộ (ăn (trở) miếng thịt).

Phủ phục (cúi xuống)

Hưng.... bình thân

Cúc cung... bái

Hưng... bái (4 lạy)

Tuần trà

Điểm trà (Lễ sinh dâng trà, nhạc đờn bản Tàu) Tạ Thần, cúc cung... bái

Hưng... bái (4 lạy)

Phần chúc (đốt văn)

Lễ tất (Hỏi mõ, chuông trống).

Chi tiết bổ túc về nghi lễ tế thần

Trong Nghi lễ tế Thần có lễ ''KHAI SẮC'' để nghinh Thần là trọng thể

hơn cả. Đúng 12 giờ trưa ngày 9 tháng 5 âm lịch, một cái bàn phủ nắp được đặt trước nghi ngoại có cả nhang đèn và khay trầu rượu. Ban tế tự

đứng ra nguyện hương vái lạy kèm có lễ sĩ đứng hầu. Kế đó có 2 lễ sĩ

mặc y phục, đội mão, mang hia theo quan văn thời xưa, theo sau là vị

cao cấp trong Ban tế tự đến Chánh Điện. Hai lễ sĩ này kính cẩn đến Ngai Thần khiêng Hòm Sắc đem xuống đặt tại bàn. Đồng thời có trống nhạc trỗi lên.

Khi vái lạy xong, ông Chánh Bái bèn mở khóa thỉnh Sắc trải ra trên bàn và khi đặt rồi thì nhạc đánh Tiếp Giá. Bấy giờ vị Chánh Bái mặc lễ phục trịnh trọng quì xuống đọc lớn Bản Sắc Thần cho dân chúng nghe. Xong xếp y lại như cũ để vào hòm sắc khóa cẩn thận gọi lễ NẠP SẮC.

Tiếp theo là LỄ NGHINH THẦN. Mõ chuông trống chiêng nổi lên 3 hồi lại 3 dùi. Ban tế tự kính cẩn thỉnh hòm Sắc ra đường đặt vào chiếc Long đình có kết bông hoa, nhang đèn. Hai bên có dù lọng. Phía trước là bộ đồ

lộ bộ, để tượng trưng uy vũ của Triều đình. Theo hầu Sắc là mấy vị kỳ

lão, viên chức, thân hào, nhân sĩ, thương gia điền chủ cùng các đoàn thể

chánh trị và tôn giáo.

Đi trước hết là xe bát cấu hòa với tiếng trống kèn lẫn múa Lân hay Long Mã làm cho buổi lễ Nghinh Thần trở nên náo nhiệt vô cùng. Và một điều làm cho long trọng thêm là hai bên vệ đường, nhà nhà đều có đặt bàn hương án và cờ xí trông cực kỳ trang nghiêm cũng như các cuộc tiếp rước long trọng các vị vua chúa hay một công thần ngày xưa.

Lễ Nghinh Thần diễn hành qua các đường phố trong Châu Thành và xuyên qua các ấp, rồi trở về đình. Nơi đây còn một lễ chót gọi là lễ

''Thỉnh Sắc'' từ chiếc Long Đình vào Chánh Điện có đệm thêm cả trống nhạc trỗi lên inh ỏi.

Tại sao có LỄ NGHINH THẦN?

Vì Sắc Thần xã Long Phú ký tại Đình, còn vài nơi khác Sắc thần giao cho một chức vị cao cấp đầy đủ uy tín trong làng thỉnh về nhà thờ. Đến

ngày cúng Thần Ban Quản trị phải tổ chức đi thỉnh về đình gọi lễ

''THỈNH SẮC THẦN'' và sau đó có cuộc lễ gọi ''HỒI SẮC'' gom cả trống nhạc trỗi lên.

Khi xong lễ Nghinh Thần là đến lễ cúng dư lệ. Lễ này cúng bằng thịt heo chín và sống cắt ra từng khoanh mông có xôi và bánh trái. Cúng dư lệ

cũng như lễ mới vào đám chỉ có nhạc mà không có lễ. Quí vị trong Ban Tế Tự đến vái lạy và cúng kiếng (ngày đầu). Tối lại lối 9-10 giờ có cúng chè xôi gọi là lễ CẦU NGUYỆN. Lễ này rất đơn giản chỉ có đèn nhang và gõ chuông không có lễ nhạc.

Đúng 4 giờ sáng ngày 9 rạng ngày 10 tháng 5 âm lịch, khởi lễ Chánh Tế, là buổi lễ quan trọng hơn hết, vì phải hành lễ đến 2 tiếng đồng hồ đầy đủ

nghi tiết và bài văn tế.

Cử hành lễ này bằng con heo quay theo sự cải tổ của Ban Quản Trị chớ

trước kia cúng bằng heo sống nên có phần lễ Ế MAO HUYẾT nghĩa là vị hành sự tế nhục đến bàn Thần nhận lãnh chèo huyết đem chôn nơi đồng nội. Cuộc lễ bế mạc vào lúc 12 giờ trưa trong ngày 10 âm lịch.

Lệ chia thịt đình và xắn xôi ngày xưa

A. Chia thịt

Theo cổ tục, mỗi vị Hương chức, những vị cao cấp, thương gia, điền chủ

phải xây hai mâm xôi, dân thì một mâm để cúng đình. Còn heo cúng thì do ngân quỹ đình mua và phải dùng tất cả là 5 con (có khi làm cả bò) phân như sau:

Một con ngoại lệ kêu ''heo cơm'' tức heo để cho người giúp việc ăn cũng gọi là lễ dư lệ.

Một con để cung nghinh Sắc Thần

Một con để Lễ Chánh Tế

Một con Lễ Tất

Con chót để kính biếu

Và sự kính biếu phân ra:

Hương Cả chọn cái đầu heo gọi thủ vĩ

Hương Chủ chọn cái mông cắt khoanh tròn

Chánh Bái là người lãnh phần Chánh Tế cực nhọc hơn hết nên hưởng trọn cái bộng có cả cậy đuôi.

Kỳ dư mỗi chức việc trong đình được kính biếu đồng đều theo tục lệ đã ấn định. Nếu phân chia không đúng chỗ và không đủ thì sẽ có chuyện lôi thôi với nhau, nhứt là giữa Ban Hội Tề.

Vả lại, họ đã ăn uống thỏa thuê liên tiếp trong 3 ngày tại đình mà còn chưa khai khẩu, lại bày đặt ra ngoại lệ kính biếu để mang về cho vợ con thưởng thức nữa thì hóa ra:

Miếng ăn là miếng tồi tàn

Mất đi một miếng lộn gan lên đầu.

Như thế làm mất đi cả sự tốt đẹp của đình trung là nơi thuần túy để giáo dân. Gia dĩ họ cho sự hưởng của đình là một danh dự thiêng liêng, nên trở thành một tệ đoan trong xã hội, bị đời mai của là: Miếng thịt làng bằng sàng thịt chợ. Còn nếu cãi lý ra thì họ cho là: Phép vua thua lệ làng.

B. Lệ xắn xôi

Tục lệ này cũng quan trọng không kém tục chia thịt đình, vì phải tùy theo cấp bực của mỗi vị mà xắn xôi cho có thứ tự để đặt lên bàn cúng Thần và các bàn Tả Ban và Hữu Ban. Nếu xắn xôi đặt sái chỗ sẽ có chuyện rắc rối. Xôi cũng được kính biếu như lối chia thịt đình.

Nhận thấy cái tệ đoan trạm trọng tự nghìn xua còn lưu lại thành sự tranh giành vì miệng ăn nên Ban Quản Trị Đình Xã Long Phú đã cải tổ:

Sau khi cúng xong, tất cả vật cúng đều mang ra hết để đãi đằng dân chúng, không một ai lạm quyền đem về nhà cho vợ con hưởng. Vì họ

biết tôn trọng vật cúng đó do đồng bào địa phương đóng góp, nên để cho dân chúng trọn hưởng. Sự cải tổ này được lòng dân. Âu đó cũng là một điểm son trong việc đình đám.

Cầu thần ban phước lộc thọ và lễ Khai Sơn Ngoài 2 lễ chánh nói trên, đình Long Phú còn thi hành hai lễ phụ nữa:

A. Cầu thần ban phước lộc thọ:

Lễ này mới cải tổ nên tổ chức vào đêm giao thừa, và cử hành vào 04 giờ

sáng ngày mồng 1 tháng Giêng âm lịch.

Nghi tiết

Khởi lễ:

a. Chức Sắc, Thân Hào, quan khách, tề tựu hai bên án tiền (nam bên trái, nữ bên mặt, ở trong ngó ra).

b. Khởi đại cổ. Kính thác. Khởi chinh cổ. Nhạc công khởi nhạc.

c. Tham Thần, Kế Hiên và Đại Bái tựu vị (nguyện hương và lễ tứ bái).

d. Thượng Thần phù Chánh Điện (xướng). Tham Thần bưng mâm Thần Phù và 2 Lễ sĩ cầm đèn hầu hai bên đi vào Chánh Điện. Kế Hiền và Đại Bái cầm nhang theo sau, Tham Thần bưng mâm Thần Phù xá trước Điện rồi từ từ bước lên Chánh Điện đặt mâm Thần Phù. Xong rồi quý vị trở ra quì trước án tiền.

Lễ nghinh thần

a. Nhạc trỗi tiếp giá

b. Tiếng nhạc dứt thì tắt đèn điện (đèn cầy để y) và phụt pháo màu trước Chánh Điện. Pháo màu dứt, cho đèn điện cháy lại.

c. Tham Thần, Kế Hiền và Đại Bái lễ tứ bái và quì để dâng hương, 4 lễ sĩ

(phần hương và thượng hương) dâng tửu, 4 lễ sĩ (chước tửu và hiến tửu) Bốn lễ sĩ trở vô hầu hai bên Chánh Điện.

Lễ tứ thần phù

a. ''Thần tứ phước lộc thọ'' (cũng 2 lễ sĩ hầu trước Chánh Điện xướng).

b. Tham Thần ''Dạ''.

c. ''Đệ Thần Phù án tiền'' (cũng do 2 lễ sĩ hầu trước Chánh Điện xướng).

Tham Thần, Kế Hiền và Đại Bái cùng 2 lễ sĩ hầu trước án tiền vào Chánh Điện. Tham Thần bước lại Chánh Điện thỉnh mâm Thần Phù và trở ra đặt trước án tiền. Kế Hiền, Đại Bái cùng 2 lễ sĩ (có cầm đèn) theo hầu:

d. Tham Thần tựu vị (nguyện hương, lễ tứ bái).

đ. Quận trưởng tựu vị (nguyện hương lễ tứ bái). (Quận trưởng bình thân.

Tham Thần bước vô xá, giở tấm nhiễu phủ, lấy một Thần Phù gắn cho Quận Trưởng, Quận Trưởng xá và lấy một Thần Phù gắn cho Tham Thần).

f. Nhân viên Ban Tế Tự tựu vị (nguyện hương lễ tứ bái). Quận trưởng gắn Thần Phù cho mỗi nhân viên.

g. Bà Tham Thần tựu vị (nguyện hương lễ tứ bái, Quận Trưởng gắn Thần Phù cho Bà Tham Thần và Bà sẽ gắn Thần Phù quý Bà quý Cô).

h. Nhân viên Ban Quản Trị tựu vị (nguyện hương, lễ tứ bái).

Tham Thần gắn Thần Phù cho mỗi người.

i. Quý vị Trưởng Ban tựu vị:

Quan khách, thân hào tựu vị.

Nhân viên các Ban tựu vị.

Tuần tự vào nguyện hương và lễ bái.

Ban Tế Tự thay phiên nhau gắn Thần Phù theo thứ tự ưu tiên Trưởng Ban, quan khách, thân hào rồi đến nhân viên các Ban.

Xin lưu ý

Nhạc luôn luôn cử hành khi nguyện hương, lễ bái và lúc gắn Thần Phù.

Suốt thời gian cử lễ yêu câu quý Ông, quý Bà nghiêm trang và tuyệt đối giữ sự im lặng.

Hơn nữa khi tập hợp tại nhà Hội cũng như lúc vào Đình dự lễ, Ban tổ

chức đã định phía trái cho Nam và phía mặt cho Nữ (trong Chánh Điện ngó ra).

Chuẩn bị buổi lễ

a. Sắp Thần Phù trên một mâm có lót và phủ nhiễu đỏ. Trên tấm nhiễu phủ có đề ba chữ PHƯỚC LỘC THỌ bằng nước vàng.

b. Trước giờ hành lễ, đặt mâm Thần Phù trước án tiền, trên một chiếc ghế đẩu có phủ vải.

c. Đặt hai bộ lư xông trầm hai bên Chánh Điện.

d. Trước Chánh Điện để pháo màu (Pháo này phựt lên khi tiếng nhạc tiếp giá nghinh thần chấm dứt).

e. Phải có 6 lễ sĩ (4 hầu hai bên Chánh Điện, hai hầu hai bên án tiền và sẽ

theo hầu mâm Thần Phù khi vô ra Chánh Điện).

B. Lễ khai sơn

Lễ này có từ đời Nghiêu Thuấn, do tích ông Thuấn là người hiền, bị kế

mẫu ghen ghét và gièm siểm, nên cha là Cổ Tẩu giận đày ông lên non

Lịch phá rừng làm ruộng, được trời cho voi ra cày giùm, chim nhặt cỏ

giúp. Vì vậy người Tàu muốn Thần Thánh hóa trong công cuộc canh tác điền địa để khuyến dân, nên bày ra lễ này gọi KHAI SƠN ĐIỀN. Đến thời Bắc thuộc tục lệ này truyền sang Việt Nam cho tới hiện nay.

Noi theo cổ lệ, hàng năm cứ đến ngày 7 tháng Giêng âm lịch Ban Quản Trị Đình Xã Long Phú tổ chức buổi lễ đơn giản đó ở ngoài sân đình -

bằng cách đặt bàn trên có để hương đăng trà quả, dưới bàn có để sẵn một đống rơm, cuốc, xuổng, bừa cào và thùng nước. Vài vị cao niên trong Ban Tế Tự đến vái lạy xong, thì qua giai đoạn cuốc cày, xối nước làm mưa hầu tượng trưng cảnh mưa hòa gió thuận để nông dân trồng tỉa được trúng mùa, nhà nhà no ấm, làm cho dân giàu nước mạnh.

Lễ Khai sơn còn gọi là lễ Khai hạ hay lễ đầu năm tức là ngày mở đầu cho các sự thong thả vui chơi, cho nên buổi lễ đó bắt buộc mỗi vị Hương chức luộc một con gà tựu họp lại cúng tại đình. Trước hành lễ sau dùng hết.

Sau bữa ăn thân mật, có vị còn lấy lại cặp giò gà của mình cúng đặng khi về nhà nhờ người xem giùm để đoán vận mạng từ đầu năm đến cuối năm.

Từ năm 1967, Ban Quản Trị nhận thấy sự kiện đã lỗi thời, vì mỗi vị ở

nhà làm gà mang đến đình mất cả vệ sinh, lại nữa gặp hồi vật giá đắt đỏ

nên bãi bỏ, để xuất quỹ đình mua gà giao cho ban Thiện Phòng sắp đặt cúng chu đáo. Các Ban tựu họp cúng lạy, ăn uống rồi giải tán có trật tự.