Hội đền Kiếp BạcPartie 14
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Đền Kiếp Bạc là nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn xây tại làng Vạn Yên, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương (Hải Hưng) từ năm Canh Tí, 1300, tức là năm Hưng Đạo Vương qua đời. Ngài đã được phong tới chức Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công Bình Bắc Đại nguyên soái.
Đền Kiếp Bạc tựa lưng vào núi Dược Sơn, một ngọn núi ở giữa một dãy núi gồm ba ngọn, hai ngọn hai bên là núi Nam Tào và núi Bắc Đẩu, trên hai ngọn núi này có đền thờ Nam Tào và Bắc Đẩu lưỡng vị tinh quân.
Mặt đền trông ra Lục Đầu giang, nơi ba con sông Nhật Đức gọi nôm là sông Thương, Nguyệt Đức gọi nôm là sông Cầu và Thiên Đức gọi nôm là sông Đuống gặp sông Lục Nam, sông Thái Bình và sông Kinh Môn.
Ngay trước đền có một bãi đất rộng, Bãi Kiếm, tục truyền là nơi xưa kia Hưng Đạo Vương đã hành quyết Phạm Nhan.
Trên cổng đền có năm chữ đại tự TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG TỪ, trên hai cột trụ có đôi câu đối của Thám Hoa Vũ Phạm Hàm.
Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục đầu vô thủy bất thu thanh.
Lược dịch:
Vạn Kiếp núi cao hơi kiếm tỏa
Lục đầu nước chảy tiếng thu vang.
Qua chiếc cổng lớn này là một khoảng sân rộng rãi bao la với những cây đa cổ thụ cao ngất um tùm. Rồi đến ngôi đền kiến trúc theo lối xưa, thật uy nghi cổ kính.
Trong đền, ngoài bàn thờ Hưng Đạo Vương, còn bàn thờ thân phụ, thân mẫu ngài, bàn thờ các con trai ngài là Hưng Nhượng Vương và Hưng Vũ
Vương, các con gái ngài là Quyên Thanh và Đại Hoàng và con rể Ngài là Hổ tướng Phạm Ngũ Lão. Lại có cả bàn thờ hai gia tướng Yết Kiêu và Dã Tượng.
Điều đáng chú ý là cùng với các vị trên, tại đền Kiếp Bạc lại có thờ cả
một tướng nhà Nguyên là Nguyễn Bá Linh tức Phạm Nhan. Theo lời tục truyền, tướng này có tà thuật, đã bị Hưng Đạo Vương dùng gươm thiêng giết, phải chăng việc thờ cúng y có dụng ý để nêu cho mọi người biết Hưng Đạo Vương có uy trừ tà thuật.
Trên vách tường đền Kiếp Bạc có bài thơ nôm không để tên tác giả, nêu rõ công trạng oai hùng của Hưng Đạo Vương trong cuộc chống quân Mông Cổ:
Nghiêng trời lệch nước cuộc đao binh,
Việc nước an nguy hệ một mình.
Núi Kiếp bao phen quân Việt thắng,
Sông Đầu một trận giặc Nguyên kinh.
Rắp đem văn vũ tài vô địch,
Nguyện rửa non sông tiếng bất bình.
Tháng tám dâng hương đền Kiếp Bạc,
Vẫn còn hiền hiện khí oai linh?
Hội đền Kiếp Bạc mở vào ngày 20 tháng 8 âm lịch mỗi năm tức là vào ngày giỗ Tổ đức Hưng Đạo Vương, nhưng ngay từ đầu tháng Tám cửa đền đã mở để khách hành hương tới lễ bái, và ngay từ lúc mở cửa đền khách trẩy hội đã kéo tới rất đông từ khắp các nẻo đường.
Lộ trình tới đền Kiếp Bạc
Muốn đi hành hương đền Kiếp Bạc, từ Hà Nội khách trẩy hội đi xe lửa tới ga Bắc Ninh hoặc Đáp Cầu, chính ra xe lửa hàng ngày chỉ chạy qua ga Thị Cầu cho hành khách xuống rồi chạy thẳng Bắc Giang, nhưng trong những ngày hội đền Kiếp Bạc, sở Hỏa xa cho chạy thêm đoạn đường từ Thị Cầu đến Đáp Cầu và đậu ngay ở bến tàu thủy trên sông Nguyệt Đức.
Khách xuống ga Bắc Ninh phải dùng ô tô hàng, trong Nam gọi là xe đò, đi Phả Lại, nơi có đền Kiếp Bạc, còn khách xuống Đáp Cầu dùng tàu thủy cũng đi Phả Lại (Hải Hưng). Trong những ngày hội, tàu thủy cho chạy thêm nhiều chuyến tàu riêng và cả những hãng ô tô chạy đường Bắc Ninh Phả Lại cũng phải thêm nhiều chuyến.
Chuyến xe chuyến tàu nào cũng chật như nêm, khách trẩy hội đủ hạng tuổi nam nữ, giàu nghèo không thiếu hạng nào.
Quang cảnh đền Kiếp Bạc trong ngày hội
Ngày hội là ngày húy nhật đức Hưng Đạo Vương. Người đi trẩy hội lấy việc lễ bái làm đầu, bởi vậy hội ở nơi đây chỉ có lễ bái đầu, không có các trò bách hí như ở các hội khác.
Chỉ có khách tới lễ bái, quang cảnh ngày hội cũng đủ thật náo nhiệt sầm uất.
Khách đi lễ đông, người tới hầu bóng xin bùa trừ tà cũng đông.
Dưới sông những con tàu, những con thuyền chở khách từ từ ghé bến giữa cảnh chen chúc của mọi người. Bên những chiếc tàu lớn thuyền to, là những thuyền nan của mấy cô bán vàng mã hương nến chèo ngược chèo xuôi để chào khách.
Trên mặt sông, khách trẩy hội ai cũng trông thấy không biết bao nhiêu những khúc chuối cắm hương đốt nến và đặt vàng mã thả trôi khắp mặt nước. Đấy là của người trẩy hội thả để xua đuổi tà ma đi nơi khác. Bọn tà ma mải đuổi theo vàng mã không ám ảnh những khách hành hương.
Ban đêm những ngọn nến trên những khúc chuối này lập lòe đầy sông xen vào giữa những đám thuyền bè chập chờn như ma trơi, và xa trông như những bóng sao phản chiếu dưới mặt nước.
Từ bến đò đi lên đông nghẹt những người, làn sóng người dồn dập kẻ ra người vào, hết lớp nọ tới lớp kia, chen chân lấn bước, đi thật khó khăn.
Hai bên lối đi la liệt những quán hàng bán hương hoa lễ phẩm và những quán bán thức ăn cho khách hành hương.
Những tà áo xanh đỏ tím vàng của những ông Đồng bà Bóng nổi bật lên giữa đám quần trắng áo the hoặc quần nâu áo nâu của những người đi lễ.
Những ông Đồng bà Bóng còn đeo thêm nào kiếm gỗ, nào đẫy quần áo ngồi đồng, nào cờ ngũ sắc...
Trước sân đền, người ta lên đồng ngồi đảo lia đảo lịa. Đây một ông đồng được Thánh ốp, lình xiên thủng mép đang bắt tà. Tiếng hét, tiếng roi dâu quật xuống chiếu hoặc vào người những ai đang bị tà ma ám ảnh. Kia một đám cúng lễ, tiếng tiêu cảnh chập cheng lẫn với tiếng khấn vái như
muốn át tiếng quát tháo và tiếng roi dâu vun vút của những đám bắt tà.
Lại còn tiếng thanh la, tiếng trống lẫn vào tiếng ồn ào của khách trẩy hội.
Mùi hương trầm bốc ngào ngạt, khói tỏa mịt mù. Chỗ này đốt vàng, chỗ
kia hóa sớ, khói càng bốc nhiều. Người người sì sụp lễ trước bàn thờ, cầu xin khấn vái từ bàn thờ này qua bàn thờ khác.
Trong đền, trước các bàn thờ, còn có nhiều người quỳ khấn xin thẻ hoặc lắc ống thẻ. Người nọ chờ người kia, và cảnh đông đúc cũng không khác chi ngoài sân đền. Lại có những người xin áo dấu. Họ mua sẵn áo ở
ngoài, mang vào đền lấy dấu sơn đóng vào. Có khi họ mua những áo có dấu sẵn, mang vào đền đặt lên bàn thờ cầu khẩn để xin Thánh chứng cho.
Những áo dấu này là những áo cánh nhỏ, mặc cho các trẻ em. Người ta tin rằng, các em mặc áo dấu, tà ma không dám trêu ghẹo, xin lưu ý là chỉ
có áo dấu, không có quần dấu. Dấu Thánh thiêng liêng không ai đóng vào quần.
Ban đêm khách trẩy hội còn lễ bái cho tới khuya. Sau đó có người nằm ngủ ngay trong đền, có người tìm đến những quán ở bên ngoài hoặc tìm đến ngủ dưới những con thuyền đậu ở ven sông.
Quang cảnh tưng bừng náo nhiệt kéo dài cho tới hết tháng Tám âm lịch, mặc dầu ngày hội chính là ngày 20 tháng Tám.
Đoạn sử oai hùng
Nói đến Hưng Đạo Vương người dân Việt không ai là không nhớ tới đoạn sử oai hùng nước nhà về triều nhà Trần. Quân Trần đã ba phen phá tan quân Mông Cổ.
Chúng ta hiểu rằng Mông Cổ thời đó là một dân tộc hung hãn ở phía Bắc nước Tàu. Chúng đã đánh chiếm nước Tàu, xâm lấn hết vùng Trung Á, Ba Tư kéo quân tới tận Đông Bắc Âu Châu. Ở Bắc Á, chúng đã chiếm Tây Hạ, đánh nước Kim, tràn sang Tiều Tiên. Vó ngựa của chúng đi tới đâu người chết tới đó, gà không dám gáy, cỏ không mọc nổi, vậy mà chúng đã ba lần bị thua liểng xiểng khi tiến đánh nước Nam và ba lần chúng kéo quân sang ta là ba lần chúng đại bại, hao binh tổn tướng đến nỗi chủ tướng của chúng, trong chuyến chinh Nam lần thứ hai phải chui vào ống đồng mới trốn nổi cung kiếm của ta.
Quân ta đã thắng nhờ tài điều binh khiển tướng của Hưng Đạo Vương.
Những cuộc chiến thắng này đã làm vẻ vang cho dân tộc ta, nhiều tác giả
ngoại quốc khi nhắc tới lịch sử kháng Bắc của ta cũng phải khâm phục trước ý chí quật cường bất khuất của dân tộc Việt.
Ông A. Pazzi,[1] trong cuốn Người Việt Cao Quý đã viết: ''Đọc lịch sử
của họ, chúng ta không ngăn được mối xúc động và sự thán phục. Nếu người ta nghĩ đến giặc Mông Cổ với cái đế quốc Thát Đát mênh mông chừng nào, có lẽ người ta mới thấy được cái sức chiến đấu lạ lùng của người Việt Nam. Người ta có thể nhận định một cách rõ ràng và dứt khoát rằng chỉ mình dân tộc Việt Nam - duy nhất trên địa cầu này đã đánh bại quân Mông Cổ xâm lăng. Đó là đoàn quân xâm lược vô cùng
dũng mãnh, đã thôn tính biết bao nhiêu dân tộc lớn lao, đã đặt Trung Hoa dưới ách nô lệ bạo tàn, đã chiếm Tây Hạ, Tây Bá Lợi Á, xâm lăng Trung Âu, uy hiếp Áo, Đức... Vậy mà đoàn quân bách thắng của họ khi vào biên giới Việt Nam đã bị đánh cho thảm bại liên tiếp ba lần.
''Ba lần chiến thắng vinh quang của dân tộc Việt để chống lại kẻ thù số
một của loài người trong lúc ấy, đã đặt Việt Nam vào những dân tộc oanh liệt hàng đầu.''
Nhắc tới Hưng Đạo Vương ngày nay tức là nhắc tới cùng một lúc đoạn sử vẻ vang của dân Việt.
Trong Đại Nam quốc sử diễn ca, có ghi lại đoạn sử oai hùng đó bằng những vần thơ hùng tráng sau đây:
Rợ Nguyên quen thói tham tàn,
Quân năm mươi vạn những toan tranh giành.
Sắc sai Hung Đạo Tổng Binh,
Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào.
Chương Dương một trận phong đào,
Kìa ai cướp giáo ra vào có công?
Hàm quan một trận ruổi rong,
Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền?
Giặc Nguyên còn muốn báo đền,
Mượn đường hộ tống binh thuyền lại sang.
Bạch Đằng một cõi chiến tràng,
Xương bay trắng đất, máu vàng đỏ sông.
Trần Hưng Đạo đã anh hùng, Mà Trần Nhật Duật kể công cũng nhiều.
Hoài Văn tuổi trẻ chí cao,
Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công.
Trần Bình Trọng cũng là trung,
Đành làm Nam quý không lòng Bắc vương.
Khuyển ưng còn nghĩa đá vàng,
Yết Kiêu, Dã Tượng hai chàng cũng ghê.
Mà trong ngọc điệp kim chi,
Lũ Trần Ích Tắc sao đi đầu hàng?
Nhân khi biến cố vội vàng,
Kẻ trung người nịnh đôi đàng tỏ ra.
Trùng hưng đem lại sơn hà...
Hội đền Bảo Lộc
Nhân ngày húy nhật Hưng Đạo Vương, không phải chỉ riêng ở đền Kiếp Bạc có hội hè để lễ bái Ngài, mà còn nhiều nơi khác nữa. Trong số đó có đền Bảo Lộc, xã Bảo Lộc thuộc phủ Xuân Thường tỉnh Nam Định (Hà Nam Ninh) là quê hương của Hưng Đạo Vương và có đền thờ Ngài.
Hàng năm vào ngày giỗ Ngài, dân làng có mở hội kỷ niệm vào ngày 20
tháng 8. Đồng bào thuộc các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa cũng như các tỉnh miền Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam không tiện trẩy hội đền Kiếp Bạc đều tới lễ bái tại đền Bảo Lộc. Có rất nhiều người đã đi trẩy hội đền
Kiếp Bạc trước ngày lễ chính, đến ngày Khánh kỵ cũng lại tới đền Bảo Lộc dự lễ.
Ngày hội có tế lễ, có rước xách. Ngoài ra có hầu bóng, bắt tà tại đền và các con hương đệ tử tới dự hội cũng đông lắm.
Cũng như ở các đền đài khác, dân chúng tới lễ đền Bảo Lộc để tỏ lòng biết ơn vị anh hùng của đất nước và cũng là để cầu phúc và xin đức Thánh phù hộ cho những điều mong ước ở đây khách hành hương cũng làm sớ, dâng vàng đốt hương làm lễ. Cũng có thể xin thẻ để cầu lời Thánh dạy, và cũng có người xin áo dấu như ở Kiếp Bạc.
Hội xã Yên Cư
Xã Yên Cư thuộc tổng Xuân Dương, huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình (Hà Nam Ninh) ở giáp bờ sông Đáy, trông sang bên kia là tỉnh Nam Định (Hà Nam Ninh), địa phân xã Phú Hào.
Cũng như nhiêu xã khác thuộc tỉnh Ninh Bình ở gần xã Bảo Lộc, xã Yên Cư có đền thờ Hưng Đạo Vương. Hàng năm, cứ vào dịp tháng Tám âm lịch, xã Yên Cư mở hội kỷ niệm cùng với các xã Đa Giá, Yên Khê, Yên Bồng... tỉnh Ninh Bình.
Hội mở to lắm. Dân chúng các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An, vì đường sá xa xôi không thể đi hành hương tại đền Kiếp Bạc đều tới dự hội này, dù đã dự hay không hội đền Bảo Lộc.
Ngày hội có rước xách, tế lễ và các con hương đệ tử quanh vùng cũng kéo nhau tới lên đồng trừ tà để trừ giặc Phạm Nhan hay quấy nhiễu sản phụ và trẻ sơ sinh.
Phạm Nhan, chính tên là Nguyễn Nhan, tục là Bá Linh, xưa là một viên tướng Mông Cổ theo Thoát Hoan sang đánh nước Nam.
Nguyễn Nhan có yêu thuật, lập được nhiều công với giặc Mông Cổ, nhưng cũng mang nhiều tội với dân Nam, chính vì vậy mà dân ta gọi hắn
là Phạm Nhan, nghĩa là phạm nhân tên là Nhan.
Tục truyền rằng Phạm Nhan nhờ có yêu thuật, khi bị bắt, bị trói hắn vẫn tung hoành trốn thoát, sau phải dùng dây ngũ sắc trói hắn mới chịu, nhưng đến khi bị giết, chém đầu này hắn lại mọc ra đầu khác. Sau cùng Hưng Đạo Vương phải dùng gươm thần mới chém được chết hắn, và còn phải lấy các uế vật, máu dê, máu chó vẩy lên người hắn để hắn hết biến hóa.
Tuy hắn bị giết, nhưng từ đó tới nay đã trải hơn sáu trăm năm, người bình dân Việt Nam vẫn còn tin hắn sinh yêu, tác quái trong các gia đình người Việt để hãm hại các trẻ sơ sinh và gây bệnh tật cho các sản phụ.
Muốn trừ Phạm Nhan phải đến xin bùa phép tại các đền thờ đức Trần Hưng Đạo.
Lộ trình tới đền xã Yên Cư
Muốn tới xã Yên Cư, phải đi theo con đường liên tỉnh số 10 từ Ninh Bình cho đến cây đa Quay: Đó là xã Yên Cư.
Những tục lệ trong ngày hội
Tại hội xã Yên Cư, ngoài các cuộc rước xách tế lễ có hai điểm đặc biệt đã kéo khách trẩy hội tới đông hơn: Đó là Cá quần tại sông Đáy và các thiếu nữ phù giá.
Cá quần
Cá quần thể hiện ngay ở sông Đáy, mé trước cửa đình vào ngày hội.
Theo dân làng này, hàng năm đúng vào buổi sáng ngày 20 tháng Tám, không biết cá ở đâu kéo nhau về khúc sông Đáy này nhiều lắm và cùng nhau quần lên đảo xuống múa lượn như mừng rỡ đón chào ai.
Không ai bắt cá ngày hôm đó, dân làng cũng như khách trẩy hội, mọi người chỉ thi nhau ném thực phẩm cho cá ăn và đàn cá cũng như dạn
người không biết sợ hãi.
Người ta bảo rằng cá quần ở khúc sông này hàng năm vào ngày nói trên đã có từ lâu lắm, không biết tự bao giờ. Tục bảo rằng đó là cá ở sông Bạch Đằng về mừng đón đức Hưng Đạo Vương khi Ngài giáng lâm tại đình xã Yên Cư. Sau ngày 20 tháng Tám, cá lại kéo nhau đi.
Phù giá nữ quan
Đây là điểm đặc biệt thứ hai của ngày hội. Các thiếu nữ thanh tân trong làng từ 18 tuổi được dân làng cử khiêng kiệu trong những đám rước, nhất là đám rước qua sông ngày 20 tháng Tám.
Tại đây có câu:
Trai thanh tân chân quỳ vai kiệu,
Gái yểu điệu phù giá nữ quan.
Lệ làng này trong ngày hội, con trai từ thập bát trở lên được cắt để
khiêng kiệu và các đồ thờ trong đám nước. Cùng với các chàng trai thanh tân này, dân làng lại cắt cả các trinh nữ, nghĩa là những cô gái chưa chồng từ 18 tuổi trở lên để khiêng kiệu của Hưng Đạo Vương phu nhân và của các quận chúa.
Rước qua sông
Trong mỗi kỳ hội, xã Yên Cư có tổ chức nhiều đám rước, nhưng đám rước được mọi người chú ý hơn cả là đám rước vào ngày 20 tháng Tám, đám rước cuối cùng của kỳ hội hàng năm trước khi rã đám.
Đám rước đi từ xã Yên Cư, qua sông Đáy sang xã Phú Hào bên Nam Định. Lẽ tất nhiên trong lúc rước, đám rước có dùng thuyền nhưng dân làng Yên Cư bảo rằng kiệu của Hưng Đạo Vương, của phu nhân và của các quận chúa không phải dùng thuyền. Trong đám rước này, các kiệu đều do các cô phù giá khiêng và lội qua sông. Phép mầu của Hưng Đạo
Vương thực là huyền diệu nên các kiệu lội qua sông không chìm và các cô phù giá cũng không ai bị ướt.
Đám rước sang tới xã Phú Hào, nghỉ tại đình làng này sau khi tế lễ, đến chiều lại rước về, nhưng lần này, quay về bằng thuyên.
Các quan viên cùng những người đi rước xã Yên Cư được ban Hội đồng xã Phú Hào khoản đãi theo tục lệ giao hảo giữa các xã.
Không rõ xã Phú Hào thờ vị thần nào nhưng theo lời một vài người dân Yên Cư chúng tôi quen biết, xã này cũng thờ một vị nhân thần đời nhà Trần.
Đám rước qua sông vui lắm! Nào tàn lọng, nào trống kèn, nào phường bát âm, cờ quạt phấp phới, hương tỏa khói trầm và người người đông nghịt những con thuyền.
Nhất niên, nhất lệ, ngày hội hàng năm, ai bỏ được?
Kỷ niệm Hưng Đạo Vương tại Sài Gòn
Từ năm 1954, với Hiệp định Genève, đất nước bị chia đôi, nhưng lòng người Việt Nam không thay đổi, dù xưa kia hay ngày nay, dù ở Bắc hay ở Nam, cũng không bao giờ quên ngày kỷ niệm vĩ đại anh hùng của dân tộc.
Hàng năm vào ngày 20 tháng Tám âm lịch, tại đền thờ Ngài ở đường Hiền Vương Sài Gòn (nay là Võ Thị Sáu), dân chúng vẫn làm lễ kỷ niệm với những cuộc tế lễ rất long trọng. Trong mấy năm gần đây, ban quản trị
đền lại có tổ chức Tế nữ quan, nghĩa là các quan viên dự tế, từ chủ tế, bồi tế đến chấp sự viên đều là phụ nữ.
Rất nhiều người tới dự lễ và khách hành hương trong ngày kỷ niệm từ
sớm đến chiều luôn luôn không ngớt.
Cũng nhiều người tới xin thẻ như ở các đền ngoài Bắc xưa kia.
Một vài hội tại các đền thờ các tướng tá của Hưng Đạo Vương Nhân nói tới hội hè tại các đình đền có thờ Hưng Đạo Vương, chúng tôi xin nói qua tới một vài hội tại các nơi có đền thờ các tướng tá bộ hạ của Người. Chúng tôi chỉ nói tới một số ít ỏi chúng tôi biết và chờ sự chỉ
giáo của bạn đọc về các hội hè khác liên quan tới các tướng sĩ của Hưng Đạo Vương.
Hội đền Phạm Ngũ Lão
Làng Phù Ủng thuộc phủ Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng) có đền thờ
ông Phạm Ngũ Lão, một danh tướng đời Trần đã lập được rất nhiều công trạng trong cuộc chống quân Mông Cổ xâm lăng.
Hội mở trong 15 ngày, từ 11 đến 25 tháng Giêng.
Đền thờ Ngài ở giữa làng. Cách đền Ngài 300 thước có đền thờ bà cung phi con gái Ngài, Thủy Tiên quận chúa, sau được vua Trần Anh Tôn vời làm cung phi.
Thủy Tiên quận chúa, là con gái duy nhất của Ngài.
Quận chúa tuy là cung phi của vua Anh Tôn nhưng bà không có con, cho nên lúc về già, bà về tu ở chùa Phù Ủng và mất ở đó. Ngày hội làng Phù Ủng mở đầu bằng một đại lễ vào ngày 11 tháng Giêng. Đại lễ này dân làng tế Phạm Tiên Công tức là ông thân sinh ra Ngài trước rồi sau đó mới tới tế tại đền Ngài.
Tối hôm đó, sau hai lễ tế Phạm Tiên Công và Phạm tướng quân, dân làng họp mặt tại đền bà cung phi để lau rửa tượng bà và trang sức cho pho tượng với đủ quần áo hoa hột. Những đồ nữ trang này, trước kia, ông thủ
từ vẫn giữ gìn cẩn thận và hàng năm chỉ mang dùng trong dịp hội, sau đó lại được cất trong các hộp riêng.
Ngày 12 dân làng tế lễ tại đền bà cung phi, và sáng ngày 13, dân làng rước tượng bà về đền chính và thờ tại đền này cho tới ngày 23 tháng
Giêng, mới lại rước về đền cũ.
Trong buổi rước tượng bà cung phi, các trai làng phải khiêng kiệu, nhưng các tín nữ, áo quần thật là lòe loẹt được cắt cử để đội những hòm giày, hòm mũ, hòm quần áo của bà. Các cô được cắt cử vào công việc này đều lấy làm hãnh diện và các cô tin rằng sẽ gặp may mắn quanh năm, những cô chưa lập gia đình sẽ gặp bạn lứa đôi xứng đáng.
Suốt thời gian mở hội, ngày nào dân làng cũng có tế lễ và có các trò vui như đánh cờ, đánh tổ tôm điếm. Tới tối lại có hát chèo.
Ngày 15 có cuộc tế của hội Kỳ Anh trong xã. Chỉ những người có phẩm hàm chức tước, và những ông già trên năm chục tuổi mới được dự lễ này.
Ngày 23 có cuộc rước tượng bà cung phi trở về đền. Lại các thanh niên khiêng kiệu và các thanh nữ đội vàng hương, giày mũ như hôm rước tượng bà vào đền chính.
Đám rước cớ trống, não bạt, và có phường bát âm cử nhạc, và cả trong những ngày tế lễ cũng vậy.
Ngày 25 là ngày rã đám. Dân làng làm lễ tại đền bà cung phi để xin cất các đồ trang sức.
Hội đền Hưng Nhượng Vương
Đền này gọi là đền Suốt, vì ở cửa Suốt, gần Cẩm Phả. Hưng Nhượng Vương chính tên Trần Quốc Tảng, con trai thứ ba đức Hưng Đạo Vương.
Đền Suốt dựng trên con đường từ Hải Phòng tới bến Cẩm Phả, xây trên đỉnh núi Hồng Nhạc. Trong đền có tượng Hưng Nhượng Vương trông ra biển Đông Hải, và do đó dân chúng còn gọi đền này là đền đức Đông Hải Đại Vương. Đền tựa lưng vào dãy núi Vạn Hoa, một dãy núi đất hình chữ bát úp. Hai bên núi Hồng Nhạc có hai núi cũng mang tên là Nam Tào Bắc Đẩu, giống như hai ngọn núi hai bên núi Dược Sơn ở Kiếp Bạc.
Hưng Nhượng Vương xưa kia đã có công giúp cha là Hưng Đạo Vương đánh đuổi giặc Nguyên, trong hai lần Thoát Hoan chực xâm chiếm nước Nam, bởi vậy khi Vương chết được dân chúng lập đền thờ phụng.
Hội mở vào rằm tháng Giêng âm lịch hàng năm. Trong ngày hội có tế lễ
và cũng có các ông Đồng, bà Bóng mang khăn chầu áo ngự tới lên đồng, bắt tà chữa bệnh. Khách trẩy hội cũng xin thẻ.
Dân chúng miền duyên hải miền Bắc, nhất là dân thợ mỏ Hồng Gai và Cẩm Phả tới lễ đông lắm. Có người tới xin bùa xin dấu, có người chủ yết tới lễ để tỏ lòng nhớ ơn một vị anh hùng.
Tuy hội chính mở vào rằm tháng Giêng, nhưng ngay từ ngày 12 đã có người bắt đầu tới lễ và mãi tới ngày 20 đóng cửa đền, hội mới coi là hết.
Trong những ngày hội có tàu thủy chạy đường biển và ô tô chạy đường bộ từ Hải Phòng hoặc Hồng Gai (Quảng Ninh) tới đền.
Đi trẩy hội đền Suốt, khách hành hương còn có dịp ngắm phong cảnh dãy núi Vạn Hoa, đi thăm mấy ngọn Hồng Nhạc, Nam Tào và Bắc Đẩu.
Suốt mấy ngày hội, đền cửa Suốt thật là tấp nập. Để kiêng tên người ta gọi Hưng Nhượng Vương là ông lớn cửa Suốt.
Ngày ngày hội về rằm tháng Giêng, ngày mồng ba tháng Tám là ngày giỗ Hưng Nhượng Vương, dân làng nơi đây cũng có mở hội.
Hội đền Yết Kiêu
Xã Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (Hải Hưng) ở ngay bên sông Phú Lương, có đền thờ Yết Kiêu, gia tướng của Hưng Đạo Vương. Hàng năm dân làng mở hội vào ngày mồng 8 tháng Hai âm lịch.
THẦN TÍCH. Yết Kiêu là gia tướng của Hưng Đạo Vương đã lập nhiêu công trạng trong ba cuộc đánh đuổi quân Nguyên.
Hạ Bì chính là quê ông. Ông là một người có sức khoẻ. Bà mẹ ông nhà nghèo, lập quán bán hàng nước dưới gốc một cây đa đầu làng. Quán lợp sơ sài chỉ đủ che mưa che nắng.
Ông Yết Kiêu, lúc nhỏ ở với mẹ, ban đêm không bao giờ ngủ trong quán, bắc võng ngủ trên cây đa.
Ông hầu hạ mẹ rất có hiếu và làm hết những công việc nặng nhọc. Nhà ông có hai cái chum lớn([2]) đựng nước. Công việc gánh nước để dùng trong nhà cũng như để bà mẹ nấu nước bán do ông đảm nhiệm. Gánh nước ông không dùng thùng nhỏ, mà ông đem ngay hai cái chum lồng vào để gánh nước ở sông. Mỗi lần như vậy ông gánh đầy hai chum nước, đủ cho mẹ dùng bảy tám ngày.
Một ngày kia ông gánh đôi chum ra bờ sông lấy nước, ông bắt gặp hai con trâu đang húc nhau, ông liền lấy đòn ống gánh nước để đuổi cho chúng khỏi húc nhau, không dè hai con trâu mải húc nhau, húc dập cả
đòn ống của ông. Tức mình ông xông thẳng tới lấy hai tay vít đầu hai con trâu xuống.
Hai con trâu hoảng sợ chạy xuống sông mất. Ông nhìn tới đòn ống thấy có dính mấy chiếc lông trâu. Ông tự bảo ''Đòn ống mọc lông.''
Đoạn ông nhổ những chiếc lông đó cắm vào hai lòng bàn chân không dè lông ăn luôn vào da. Ông lấy làm lạ, nhưng cũng không lưu tâm tới mấy, gánh hai chiếc chum xuống sông để múc nước. Nào ngờ ông bước xuống sông, nước rẽ ra cả hai bên và ông không múc được nước.
Ông gánh hai chiếc chum về không. Không thấy có nước, bà mẹ hỏi thì ông đáp: ''Sông hết nước rồi!''.
Thấy con trả lời một cách vô lý bà mẹ cho là ông mải đi chơi không chịu gánh nước, rồi nói dối. Bà vác gậy đuổi đánh. Ông bỏ chạy, không dám về nhà nữa. Về sau ông gặp Hưng Đạo Vương theo về làm gia tướng lập được nhiều công trạng trong việc đánh đuổi quân Mông Cổ.
Trên đây là thần tích xã Hạ Bì. Thần tích này hơi khác với những điều đã ghi trong các sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính và Hải Dương Phong vật chí của Trần Đạm Trai, bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm.
Theo Hải Dương Phong vật chí, một lần ông ra bãi biển gặp lúc có hai con trâu húc nhau, ông dùng cùi tay đánh trâu trâu chạy xuống bể mất dạng. Khi nhìn lại thấy có mấy cái lông trâu dính bệt vào cùi tay. Ông cho là vật thiêng bỏ ngay vào mồm nuốt chửng. Từ đấy ông lội nước cũng như đi trên đất bằng.
Theo Phan Kế Bính, khi ông thấy hai con trâu húc nhau, ông lấy gậy đánh trâu, trâu chạy xuống biển. Nhìn đầu gậy có dính mấy lông trâu, ông bỏ vào mồm nuốt chửng.
Khi theo Hưng Đạo Vương đánh quân Nguyên, ông dùng một chiếc dùi sắt, lặn xuống nước, khoan thủng thuyền của giặc, làm cho thuyền giặc bị đắm rất nhiều. Tướng giặc là Ô Mã Nhi thấy vậy dùng lưới chụp bắt được ông. Ô Mã Nhi tra hỏi trong nước Nam có bao nhiêu người tài giỏi như ông. Ông trả lời những người giỏi hơn ông nhiều lắm, tha ông, ông sẽ chỉ cho mà bắt. Ô Mã Nhi nghe lời, sai lấy thuyền nhẹ chở ông đi dẫn đường, ông liền, trong một lúc quân giặc không đề phòng nhảy xuống sông trốn.
Khi giặc Nguyên đã phá xong, triều đình chưa kịp ban thưởng, ông đã ốm chết. Ông được truy phong làm TĨNH MỤC HIỀN MINH CHIÊU
ỨNG ĐẠI VƯƠNG.
Dân làng Hạ Bì lập đền thờ ông, và hàng năm mở hội để kỷ niệm.
Tục lệ trong ngày hội
Ngoài những cuộc tế lễ tại đình, trong ngày hội dân làng có tổ chức đánh cờ bỏi. Và chung quanh đình là những đám cờ bạc như xúc xắc, thò lò, đáo đĩa v.v...
Làng này có tục đăng cai rất tốn kém. Hàng năm sau ngày hội, dân làng chỉ định 12 vị quan viên sẽ lo việc đăng cai cho ngày hội năm sau.
12 vị quan viên, trong suốt năm được chỉ định, nếu vợ có chửa sẽ phải phạt vạ, và theo nguyên tắc họ phải giữ không gần nữ sắc cho đến kỳ hội năm sau.
Đến kỳ hội, mỗi vị đăng cai phải giết một cơn lợn (heo) nặng ít nhất một tạ ta tức 60 kí lô ngày nay. Con lợn này vị đăng cai phải nuôi từ năm trước, vỗ cho béo đẫy, và cũng phải giữ sạch sẽ. Nếu ai vô ý để lợn ăn phải vật ô uế, con lợn sẽ bị bệnh mà chết, do đó con lợn được săn sóc kỹ
lưỡng cũng như vị đăng cai phải tự giữ gìn lấy mình vậy. Cùng với con lợn vị đăng cai lại phải lo thổi một mâm xôi lớn, khổ mâm rộng 2 thước 2 tấc ta, tức là 0 thước 88 ngày nay. Mâm xôi phải đơm thật đầy. Và phải thổi bằng gạo nếp cái hột tròn mập và mùi thơm phức.
Xôi lợn này mang ra tế thần, rồi dùng làm phần chia cho dân làng.
Các vị bô lão tuổi cao được chia phần nhiều hơn, đúng theo tục lệ trọng tuổi già.
Các vị đăng cai nếu trong thời gian được chỉ định chẳng may gặp đại tang, sẽ bị loại, và một vị quan viên sẽ thay thế để lo việc đăng cai. Đăng cai tuy tốn kém, nhưng đây là một điều vinh dự trong dân làng, nên mọi người được chỉ định đều lấy làm hân hoan lo tròn bổn phận.
Theo lời một người dân xã Hạ Bì nói với chúng tôi thì Tĩnh Mục Hiển Minh Chiêu Ứng đại vương linh thiêng lắm, Ngài phù hộ cho dân làng rất nhiều. Trong đền thờ còn có chiếc búi tóc của Ngài. Chiếc búi tóc này, với thời gian đã biến từ màu đen sang màu vàng đỏ. Cho tới hồi 1945 chiếc búi tóc vẫn còn, nhưng không biết ngày nay có còn nguyên tại đền thờ Ngài chăng?
[1] A. Pazzi. – Người Việt Cao Quý do Hồng Cúc dịch, Cảo Thơm, in lần thứ hai, Sài Gòn, trang 88-89. (A. Pazzi là bút danh của nhà văn Vũ