Hội đền thờ ông Lê Phụng HiểuPartie 4
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Làng Từ Trọng phủ Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa có đền thờ ông Lê Phụng Hiểu, một danh tướng đời nhà Lý, thờ hai đời vua Lý Thái Tổ và Lý Thái Tôn. Đền xây ở rừng Mã Cương, một khu rừng của làng, giáp với thôn Hạc Đình.
Làng Từ Trọng có nhiều thôn, thôn Hạc Đình là một Thôn Hạc Đình nằm dài theo dọc sông Tào, một dòng sông nhỏ chảy vào sông Ngã. Từ
thôn Hạc Đình nhìn ra, xa xa là cầu Hàm Rồng, chiếc cầu bắc từ núi Long qua núi Hổ như muốn lấy nhân công tô điểm cho cảnh thiên nhiên thêm cẩm tú.
Đầu thôn Hạc Đình là bãi Giang Đình, một bãi đất rộng rãi mát mẻ để
hàng xã tổ chức hàng năm những cuộc vui đình đám ở nơi đây.
Theo lời các cụ truyền lại, bãi này là mình một con Hạc với cái cổ dài vươn lên thành con đường nhỏ chạy vào rừng Mã Cương. Con Hạc này đứng một cẳng tạo thành con đường chạy thẳng tắp từ bãi Giang Đình lên đê sông Tào. Cẳng thứ hai của con Hạc ghếch thành khúc đường mòn
chạy từ bãi Giang Đình qua ngả cây Đề, một cây Đề cổ thụ mọc ở trước thôn Hạc Đình, quanh vào trong thôn. Các cụ bảo cây Đề là cái cựa của bàn chân con Hạc.
Đền ông Lê Phụng Hiểu ở rừng Mã Cương, hàng năm dân làng mở hội từ ba mươi Tết năm trước đến hết ngày mồng bảy tháng Giêng năm sau.
Thần tích
Ông Lê Phụng Hiểu, người làng Băng Sơn, phủ Thanh Hóa, sau là xã Dương Sơn, phủ Hoằng Hóa. Ông người to lớn râu ria xồm xoàm sức vóc khỏe mạnh. Thuở nhỏ nhà nghèo, ông phải làm nghề tiều phu kiếm ăn. Nói về sức mạnh, ông có một thần lực, và về sức ăn khoẻ cũng ít ai sánh kịp. Mỗi bữa ông ăn hết một nồi mười cơm (nói mười là chiếc nồi thổi cơm đủ cho mười người khỏe mạnh ăn.)
Khi đi đốn củi, ông không cần búa rìu gì cả, chỉ dùng tay hoặc nhổ hoặc bẻ, tùy theo cây to hoặc cây nhỏ. Ông lại chạy nhanh bước dài, nhờ ở sức vóc to lớn. Một hôm, Lê Phụng Hiểu đi kiếm củi trở về, vai gánh một đầu là một bó củi, còn đầu kia là một bó tre nguyên bụi còn nguyên cả
gốc rễ do ông nhổ lên. Trên bụi tre có một con cò trắng ông đã bắt được ở bên bờ sông Mã.
Ông về đến nửa đường, được tin nhà vua đang kén người có sức khỏe để
sung vào quân túc vệ, ông liền đặt gánh củi xuống rồi hai tay ôm hai bó củi ông quăng vèo đi hai nơi. Ông quyết bỏ nghề tiều phu để sung vào đoàn quân túc vệ của nhà vua.
Bó củi bị ông quăng tới tận làng Buông còn bụi tre rơi đến thôn Hạc Đình, hai nơi cách xa nhau hàng nửa ngày đường.
Sung vào quân túc vệ, ông lập được nhiều công trạng với nhà Lý, được phong làm Đô Thống Thượng Tướng Quân. Năm 1044, khi vua Thái Tôn đem quân đi đánh Chiêm Thành, ông được cử làm tiên phong phá tan được giặc. Ông chết năm 77 tuổi. Ông được phong làm Phúc Thần và được tất cả các thôn xã từ Hạc Đình tới kẻ Buông thờ phụng.
Trên là thuật theo thần tích xã Từ Trọng.
Theo ông Phan Kế Bính trong Nam Hải dị nhân, khi vua Lý Thái Tôn đi đánh Chiêm Thành trở về, định phong thưởng cho ông, nhưng ông từ
chối, không nhận tước thưởng, xin đứng ở trên núi Băng Sơn, ném một thanh đao ra ngoài hễ rơi xuống chỗ nào, thì xin đất đến đấy để lập nghiệp.
''Vua ưng cho như thế. Phụng Hiểu đứng ở trên núi, ném một thanh đao ra ngoài mười dặm, sa xuống cắm vào làng Đa Mỹ. Vua mới ban ruộng thưởng cho đến chỗ cắm đao tính ra được hơn nghìn mẫu.
Từ đấy ruộng thưởng cho công thần gọi là ruộng thác đao (nghĩa là cắm đao) là do sự tích ấy. Phụng Hiểu hết lòng thờ vua, biết điều gì nói điều ấy, mà động đi đánh trận nào cũng được. Đến năm 77 tuổi mới mất. Dân làng lập miếu thờ làm Phúc Thần, lịch triều có phong tặng cả.''
Qua thần tích và sự tích kể trên, tuy có điều hơi dị biệt, nhưng tựu trung ông Lê Phụng Hiểu vẫn đã là một bực trung thần phò vua giúp nước nên được dân chúng đời đời hương khói phụng thờ.
Trở lại thần tích, theo các cụ kể lại thì bó củi ông Lê Phụng Hiểu ném vào kẻ Buông dần dần mọc thành một rừng cây nay gọi là rừng Buông.
Còn bó tre có con cò trắng ném vào thôn Hạc Đình nay mọc thành một rừng tre được đặt tên là rừng Trúc Cương, nhưng dân làng Từ Trọng quen tục gọi là rừng Mã Cương.
Rừng Mã Cương có rất nhiêu cò vạc, chúng oang oác kêu suốt đêm ngày như muốn nhắc lại công trạng hiển hách của Đô Thống Thượng Tướng Quân Lê Phụng Hiểu, mà đền thờ ở ngay ven rừng tục gọi là đền Mã Cương. Các cụ bảo đấy là cháu chắt con cò đã đậu trên bụi tre thuở
trước.
Tục lệ ngày hội
Cũng như bất cứ hội nào, hội đen Mã Cương lấy sự cúng tế Đô Thống Thượng Tướng Quân là việc chính, nhưng bên sự tế lễ, hội đền Mã Cương còn có nhiều những tục lạ, những tục này đã phản ảnh phần nào dân tình trong vùng và lòng kính trọng của người dân đối với vị Thành hoàng võ tướng đời nhà Lý này.
Tảo mộ cuối năm
Cùng với những cuộc tế lễ tại đền Mã Cương, hội nơi đây bắt đầu bằng cuộc tảo mộ tập thể của dân làng, nhất là của dân thôn Hạc Đình.
Mỗi gia tộc gồm nhiều gia đình kéo nhau tới bãi tha ma cuối thôn để
thăm viếng mồ mả gia tiên, đắp lại nấm, cuốc đi những cỏ dại, nhổ đi những cây hoang, và cắm hương mời các cụ về hưởng Tết Nguyên Đán cùng con cháu. Những người đi làm ăn nơi xa xôi, một năm một lần, họ
đều nhân dịp nghỉ tết về làng dự cuộc tảo mộ tập thể này. Rất vui và rất nhộn nhịp. Ông già bà cả, người lớn trẻ em, thanh niên nam nữ đều có mặt tại bãi tha ma, người ăn mặc nâu sồng theo lối quê mùa, kẻ áo quần loè loẹt theo lối thị thành.
Trời cuối năm rét căm căm, người người đều có áo bông áo dạ, nhưng trước cảnh tấp nập của dân làng, cái rét như có phần dịu đi. Thỉnh thoảng có một vài tràng pháo nổ, xác pháo hồng bay như muốn đánh tan cơn lạnh, và đem sự ấm cúng lại cho bãi tha ma.
Cả thôn Hạc Đình đều có mặt tại bãi tha ma. Mùi hương thơm bay ngào ngạt từ những ngôi mộ hòa lẫn cùng mùi thuốc pháo.
Tế Tiên Thường
Cuộc tảo mộ kéo dài cho tới gần trưa, mọi người mới kéo nhau về đình Mã Cương xem tế tiên thường, cuộc tế để chuẩn bị đón rước ngài Thành hoàng về vui xuân hưởng Tết với dân làng.
Hội tấp nập rộn rã từ lúc tinh sương ngày ba mươi Tết cho đến lúc giao thừa.
Nghi thức tế tiên thường giống như những cuộc tế lễ tại bất cứ nơi nào.
Tế tiên thường vào giờ Hợi cuối năm trước, trước giờ Tý đầu năm sau.
Đúng giờ giao thừa, dân làng làm lễ giao thừa rồi ai về nhà nấy. Hội hè tạm ngừng trong ba ngày Tết rồi lại mở tiếp từ ngày mồng bốn cho đến hết ngày mồng bảy tháng Giêng.
Thi tuyển nữ quan
Đây là một tục đặc biệt của thôn Hạc Đình, tuyển lựa những trinh nữ để
tham dự những buổi hát lễ mừng đức Thành hoàng và lo việc cỗ bàn dâng cúng Ngài.
Tuy đền Mã Cương thuộc về địa phận thôn Hạc Đình xã Từ Trọng, nhưng cuộc tuyển lựa trinh nữ này mở rộng cho tất cả các thanh nữ thuộc các thôn xã thờ Đô Thống Thượng Tướng Quân. Muốn dự cuộc tuyển lựa này, các thanh nữ không những phải còn là con gái mà phải là những cô chưa hề bị mang tai tiếng về nết na của mình nhất là đức hạnh về
phương diện trinh thục. Những kẻ lẳng lơ không dám tham dự. Các cụ
thuật lại rằng trước kia, làng đã kén chọn một cô chưa chồng nhưng không còn nguyên là con gái, cô đã ăn vụng thầm lén dân làng trong đường hoa nguyệt, khi cô vào dự lễ ca hát, cô vừa bước chân vào nhà bái đình là cô ngã xỉu chết ngất. Người nhà khiêng cô về, tới nhà cô tỉnh lại.
Cô không dám tham dự các buổi hát lễ cũng như sửa soạn lễ vật. Dân làng phải kén một cô khác thay thế. Cô kia thuật lại: cô vừa bước chân vào nhà bái đình, cô thấy một vị quan hầu cầm vồ đập vào đầu cô và bảo: Thân mày đã ô uế, ai cho mày vào đây!
Đối với dân chúng vùng này được kén vào hàng trinh nữ hầu Ngài là một điều vinh dự, bởi vậy số thiếu nữ tham dự cuộc thi tuyển đông lắm.
Chính bố mẹ các cô cũng muốn các cô được tuyển chọn và nhiều bà mẹ
đã dạy bảo các cô những điều cần thiết để các cô có thể thắng được cuộc thi, nhất là những điều về nữ công bếp nước.
Cuộc thi tuyển nữ quan được tổ chức ở bãi Giang Đình. Trước bãi, một con đường thẳng tắp chạy tới đền Mã Cương. Sau bãi là một đầm nước không sâu lắm, nước thường chỉ đến bụng, dân chúng quen gọi là đầm Giang Đình. Chính đầm Giang Đình này là trung tâm cuộc thi.
ĐỒ XÔI VÀ THỔI CƠM. Một trong các môn thi chính để tuyển nữ
quan là đồ xôi và thổi cơm. Thực ra hai công việc này, đã gọi là phụ nữ
Việt Nam, trừ những bọn vô dụng, mấy ai là không biết, nhưng thổi cơm và đồ xôi lại là những công việc rất khó khăn vì không phải các nữ thí sinh được thực hiện công việc này ở ngay trong bếp mà ở trên thuyền bơi trên mặt đầm Giang Đình, ngay ngoài trời, có khi gặp buổi mưa phùn hoặc gặp gió đầm thổi lùa tứ phía. Hơn nữa, dùng để nấu cơm, đồ xôi, không ai được dùng than củi của riêng mình, mồi nấu do ban Giám khảo phân phát và gồm toàn bã mía còn tươi khó bén lửa và rất dễ tắt nếu thí sinh hơi vụng về trong việc gây bếp và nhóm lửa.
Cuộc thi bắt đầu từ sáng tinh sương ngày giáp Tết.
Sáng hôm đó, dọc theo bờ đầm Giang Đình, dân làng đã cho neo sẵn hàng trăm chiếc thuyền thúng, một loại thuyền nan tròn như cái thúng, nhưng có cặp thêm ở hai đầu hai vành bơi chèo, tạo cho chiếc thuyền thúng thành một hình thoi nhọn hai đầu. Hàng năm dân làng phải tuyển cho ngày hội 48 trinh nữ, nhưng số nữ thí sinh tham dự thường trên hàng trăm, có khi đến hai trăm.
Sau tiếng trống lệnh đầu tiên của ban tổ chức, các nữ thí sinh, mỗi cô xuống một thuyền, mang theo đồ rau hoặc kiềng ba chân để làm bếp cùng với mọi vật liệu cần thiết: rơm ướt làm đóm, bã mía tươi làm mồi nấu, nồi, chõ, gạo nếp, gạo tẻ…
Các cô chèo thuyền ra giữa đầm, chuẩn bị bắt bếp, đặt nồi vo gạo cho sẵn sàng rồi chờ hồi trống thứ hai của ban giám khảo trên bãi Giang Đình ra lệnh bắt đầu cuộc thi. Một hồi trống dài điểm thêm ba tiếng sau cùng! Tiếng trống dứt, cuộc thi mới bắt đầu, lúc đó các nữ thí sinh mới được nhóm lửa, nhóm cả bếp đồ xôi lẫn thổi cơm. Mỗi cô được phép
mang xuống thuyền hai cỗ bếp, hoặc đồ rau, hoặc kiềng. Trong cuộc thi các cô được tự do muốn làm sao thì làm, thổi cơm trước hay đồ xôi trước tùy ý, miễn cho nhanh chóng, xong sớm để chèo thuyền vào bờ nộp cơm và xôi lên Ban Giám khảo. Các cô xong trước được thêm điểm nhanh chóng, nhưng phải ngon, xôi phải dẻo. Nếu nồi cơm trên sống dưới khê, tứ bề nát bét và chõ xôi rắn nát thì dù các cô có xong sớm cũng đừng hy vọng gì đến sự trúng tuyển.
Thực ra, tài thổi cơm, đồ xôi của các cô cũng không hơn kém nhau mấy, vì cô nào cũng đã luyện tập tinh xảo. Khó khăn đối với các cô là ở chỗ
nhóm bếp thổi lửa, và phải giữ sao cho thuyền khỏi tròng trành, thuyền thúng lại là loại thuyền rất nhẹ dễ tròng trành và thuyền đã tròng trành, bếp lửa hướng ra phía gió, dễ tắt.
Ngày hội lại gặp bữa mưa phùn gió bấc, các cô sẽ trải qua một cuộc thi vất vả. Nếu mưa phùn lại biến thành mưa nặng hạt, lại là một điều may cho các cô, các cô sẽ được lên bãi Giang Đình, trổ tài bếp nước dưới những mái tranh.
Thực ra, để sửa soạn dự cuộc thi tuyển này, các cô đã luyện tập ít nhất cũng từ tháng một để trau dồi nghệ thuật thổi cơm, nấu xôi ngoài mưa phùn. Các bà mẹ đã dạy các cô cách thức nhóm lửa bằng mồi ướt, cách thức thổi lửa mỗi khi bếp tắt, nhất là cách chọn hướng kê bếp theo chiều gió giúp đỡ cho việc nhóm bếp cũng như cách che bếp làm sao cho lửa cháy dưới nồi được điều hòa, không bị gió tạt đưa ra ngoài bếp. Lửa có giữ đều, gạo trong nồi mới sôi đều, gạo trong nồi mới nở đều, cơm mới ngon, xôi mới dẻo được. Các cô cũng lại am tường cách ước lượng thời gian từ lúc nước sôi đổ gạo vào nồi, chét nồi đáy chõ xôi cho đến khi chín dẻo đúng mức; các cô dùng những nén hương đốt cháy và trông theo những đoạn hương cháy để biết nồi cơm, chõ xôi đã vừa chín chưa.
Cuộc thi đồ xôi, thổi cơm mất buổi sáng.
Trong khi các nữ thí sinh làm bài thi ở dưới đầm, ở trên bãi Giang Đình, dân làng đông đúc đứng xem, trong số đó, có rất nhiều bà mẹ đã từng
huấn luyện cho con gái, sốt ruột chờ đợi kết quả chõ xôi nồi cơm của con.
LÀM BÁNH. Món thi thứ hai trong việc tuyển nữ quan là làm bánh. Mỗi thí sinh phải làm một hoặc hai thứ bánh theo sáng kiến của mình, bánh có thề làm bằng bột gạo thường hoặc bột lọc và chế hoá tùy theo ý muốn và tài năng của các cô.
Các cô lại phải đặt tên cho thứ bánh của mình làm.
Thường công việc đặt tên này do các ông hoặc cha đã tìm chữ đặt trước cho các con.
Thí dụ bánh: Song phượng tề phi hai con phượng cùng bay. Chiếc bánh có thể to bằng cái mâm, bột lọc trong suốt, duy có hai con phượng hình đang bay có nhân đậu xanh làm nổi mình phượng nằm trên mâm bánh.
Một thí dụ khác: Lý ngư vượt vũ môn, cá chép vượt vũ môn. Đây là nhắc lại tích cá thi để hóa rồng. Một dòng thác chảy mạnh bằng bột lọc, mé dưới có dăm ba con cá chép bằng bột trắng mang cá hồng hồng như
muốn vượt ngọn thác.
Thêm một thí dụ thứ ba: Mẫu đơn phú quý. Hoa mẫu đơn là hoa phú quý. Chiếc bánh là một bông bạch mẫu đơn lớn, có hai chiếc lá xanh, bột trắng nhuộm xanh, một chiếc mang chữ Phú và một chiếc mang chữ
Quý, hai chữ màu vàng hoặc đỏ.
Đại để các kiểu bánh đều mang những tên cầu kỳ, dùng các thứ hoa, các loài chim, tứ linh, long ly, quy phượng hoặc các điển tích đề cho tên thật đẹp. Tên đẹp mà bánh lại phải ngon mới được làng lựa chọn.
Cô nào qua được cả hai môn thi trên được lựa làm nữ quan để dự những cuộc ca hát thờ thần, và các cô cũng là những người có trọng trách sửa soạn cỗ bàn dể dâng Ngài.
CA HÁT THỜ THẦN
Trong những buổi lễ thờ thần, các trinh nữ đã được tuyển lựa được tham dự Hát Trải đề mừng Ngài. Hát Trải nghĩa là vừa bơi trải vừa ca hát. Trải là một loại thuyền dài, khi bơi ở trên sông cần phải có nhiều người bơi hoặc ngồi ở giữa thành một hàng hai tay hai bơi chèo hai bên, hoặc ngồi thành hai hàng ở hai bên cùng bơi theo nhịp người cầm lái. Thường trong trường hợp hai hàng tay chèo, người ta dùng bơi chèo ngắn, trái lại chỉ có một hàng tay chèo ở giữa, người ta dùng bơi chèo dài.
Trải ở đây chỉ là hai thuyền rồng, hàng ngày để thờ trong đền, ngày hội mang ra đặt song song trước sân đình, chầu vào bàn thờ Đô Thống Thượng Tướng Quân. Mỗi thuyền rồng có mười hai cặp bơi chèo sơn son cho hai mươi bốn nữ thủy thủ, chính là các cô trinh nữ đã được dân làng kén chọn qua cuộc thi ngày giáp Tết.
Trong khi tế lễ, các cô ngồi vào thuyền rồng, mỗi chiếc thuyền hai mươi bốn cô, các cô vừa chèo thuyền cạn vừa ca hát để chầu thần. Lẽ tất nhiên việc chèo thuyền cũng như việc ca hát các cô phải tập trước, tập từ trong năm, từ trước khi dự cuộc thi tuyển nữ quan của làng. Việc luyện tập này rất khó khăn, có luyện tập mới dai sức để có thể bơi trải trong suốt buổi tế kéo dài hàng giờ.
Có cô lại phải tập múa và tập hát ở nhà một người Quản giáp. Muốn hát được các cô phải học thuộc lòng những bài hát thờ có sẵn, thường dùng tại các nơi đền điện mà dưới đây là mấy bài tiêu biểu.
BÀI DÂNG NHANG
Một nén hương thơm thấu chín tầng,
Kính trời, kính đất, kính linh thân.
Chữ rằng nhất niệm thông tam giới,
Mừng vua muôn tuổi trị muôn dân.
Một nén hương thơm thấu cửa thiên,
Mây lồng năm thức nguyệt lồng in.
Kính thành những bén duyên hương lửa,
Rờ rỡ vinh hoa ức vạn niên.
BÀI NHẠC HƯƠNG
Thông minh chính trực vị chi thần,
Biến hóa vô cùng đức đại tân.
Mừng vua có sắc phong choi chói,
Đệ nhất vua, đây Thượng đẳng Thần.
MÚA BÀI BÔNG. Trong các lối ca hát ở Hạc Đình lối ca múa bài bông bắt đầu cho các buổi tế lễ. Ca và vũ hòa điệu với nhau theo nhịp trống nhịp đàn. Lối ca vũ này thường thấy tại các đền điện khi hội hè có múa hát, nhất là khi có các nữ quan, nghĩa là khi có các trinh nữ trong làng được tuyển để tham dự. Cũng có nơi không phải là các thanh nữ ca múa mà do đàn ông trong làng, những người đã được kén chọn và chỉ định trước.
Múa bài bông cần đông người. Ở Hạc Đình số này gồm tất cả các cô đã được tuyển lựa ngày giáp Tết. Lúc múa mỗi cô cầm một chiếc quạt nhỏ.
Thoạt mới vào, các cô chia làm hai hàng quỳ ở trước hương án, hai tay nâng chiếc quạt lên khỏi đầu. Một cô đứng đầu đóng vai Tiên Đồng đứng lên khai mạc cuộc múa bằng một bài hát:
Tiêu dao lồng lộng Thiên Đình
Tật tốc giáng dương trần bộ bộ
Khâm thừa Phật tổ,
Giáng hạ trần.
Hát xong mấy câu trên, Tiên đồng hát tiếp mấy câu nói lối: Như tôi nay tiên ông trao chức
Ngô biểu tự Tiên đồng
Truyền ca nhi Nam, Bắc, Tây, Đông
Đều múa hát dâng hương Thượng Đế.
Hết câu hát, tất cả các cô khác đều đứng lên vừa múa vừa hát, các cô vừa múa vừa lượn trước bàn thờ, theo một hàng lối đã tập trước trông rất nhẹ
nhàng.
Sau múa bài bông là bơi trải chèo thuyền rồng.
Trong các buổi tế lễ cũng còn những điệu múa khác như múa tứ linh, múa đèn v.v... mỗi điệu múa lại có bài ca riêng, nhưng rất tiếc lâu ngày chúng tôi không còn nhớ và vì cách trở muốn tìm kiếm tài liệu cũng không ra.
Hội đền Mã Cương vui, dân chúng nô nức tới lễ bái và vui xuân, nhưng có lẽ từ ngày Cách mạng tháng 8 tới nay nghĩa là từ gần ba chục năm nay, hội đâu còn nữa, hội có còn chăng chỉ ở trong trí nhớ những người hoài cổ, và chắc rằng đền Đô Thống Thượng Tướng Quân Lê Phụng Hiểu cũng chẳng còn ai hương khói!