Hội đền ChèmPartie 12
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Làng Chèm ở tả ngạn sông Hồng, ngay trên con đường liên tỉnh Hà Nội đi Phúc Yên, thuộc địa phận huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên (Vĩnh Phú).
Tại đền Chèm có đền thờ ông Lý Ông Trọng.
Vài nét về ông Lý Ông Trọng
Lý Ông Trọng là người Việt Nam nhưng làm tướng nước Tàu thời vua Tần Thủy Hoàng. Lý Ông Trọng có công đánh giặc Hung Nô rất được vua Tần tin mến và được phong làm Phục Tín Hầu.
Tại đền có pho trọng của Ngài rất lớn, to hơn tầm vóc người ta ngày nay.
Tương truyền rằng ngày xưa Lý Ông Trọng to lớn như vậy nên rợ Hung Nô trông thấy bóng Ngài phải sợ.
Khi về già, Lý Ông Trọng được vua Tần cho trở lại quê nhà, lúc chết dân làng Chém lập đền thờ.
Ngày hội
Hội làng Chém mở vào ngày rằm tháng Năm. Lúc này hội hè đã hết ở
các nơi khác nên hội làng Chèm rất được nhiều người quanh vùng kéo nhau tới dự. Địa thế gần Hà Nội của làng Chèm càng khiến cho hội thêm đông khách với những người ở Thủ đô dắt nhau tới. Hội kéo dài ba ngày.
Ngày hội có nhiều cuộc vui trong đó có đánh đu, thả chim thi, đánh vật, hát chèo, đánh cờ...
Cũng rước xách tế lễ như các hội nơi khác, nhưng ở đây có đám rước tượng thần xuống sông Hồng Hà để làm lễ mộc dục là đặc biệt.
Tượng thần to lớn, lúc rước các thanh niên trong làng phải xúm nhau vào khiêng và để cuộc rước được dễ dàng, ông tiên chỉ hàng năm phải làm lễ
khấn Ngài để Ngài phù hộ cho bức tượng được nhẹ đi.
Sở dĩ tượng Ngài được rước xuống sông để tắm là vì theo lời truyền lại, khi ở Tàu về, sống ở làng Chèm, hàng ngày Ngài thường xuống tắm ở
sông Hồng Hà. Bởi vậy để kỷ niệm việc tắm sông xưa kia của Ngài, dân làng rước tượng Ngài xuống sông để Ngài tắm như lúc sinh thời.
Sau lễ tắm ở sông, dân làng lại rước tượng ngài về đình cúng tế. Dân làng cắt những bộ quần áo giấy thật to lớn để tế Ngài.
Trong ngày hội, những thanh niên trong làng còn tân được kén để đáp thuyền ra giữa dòng sông Hồng Hà, múc nước trong về tế Ngài.
Những cuộc tế lễ theo nghi thức cổ truyền rất vui, và dân làng cũng hân hoan hàng năm mở hội kỷ niệm ngài. Hội càng mở to, càng linh đình bao nhiêu, năm đó dân làng càng làm ăn phát đạt chừng ấy.
Dân làng sùng kính Ngài lắm. Ngày hội, người ta nghỉ cả mọi việc để dự
các cuộc tế lễ và rước xách.
Hội lăng ông với huý nhật Tả quân Lê Văn Duyệt Nói tới các danh thần triều Nguyễn, thời vua Gia Long khai sáng lại có công ơn với dân chúng miền Nam, đã từng đổi nguy làm an, đem lại thịnh vượng phú cường cho toàn cõi, phải kể tới Tả quân Lê Văn Duyệt, Gia Định thành Tổng Trấn, trải thờ hai đời vua, luôn luôn một dạ trung thành, lo cho dân, nghĩ đến đất nước.
Ngài mất ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (1823). Nhân dân đã lập đền thờ Ngài và hàng năm đến húy nhật của Ngài, không ai quên, người ta tấp nập tới lễ Lăng Ông, nơi có mộ và đền thờ Ngài để tỏ lòng sùng kính.
Và chính hai tiếng Lăng Ông, cũng là hai tiếng gọi cung kính đối với Ngài.
Lăng Ông
Lăng Ông ở đâu?
Đã là dân Sài Gòn và Gia Định không ai là không biết Lăng Ông. Lăng Ông xây trên địa phận xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định, ở ngay tỉnh lỵ, bên kia cầu Bông, cách cầu chừng 600 thước, trên đường Lê Văn Duyệt, thị
xã Gia Định (nay thuộc P.1, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh).
Lăng Ông chiếm một khu đất rộng lớn giữa bốn con đường: Đại lộ Lê Văn Duyệt (Đinh Tiên Hoàng) bên phía hữu, đường Trịnh Hoài Đức bên phía tả, đường Châu Văn Tiếp ở trước mặt và đại lộ Chi Lăng (Phan Đăng Lưu) ở sau lưng.
Khu đất này vuông vắn đẹp đẽ, mặc dầu Ty Bưu điện hàng tỉnh có chiếm mất một khoảng nhỏ đằng sau về phía trái.
Từ Sài Gòn đi tới phải đi qua Cầu Bông rồi thẳng đại lộ Lê Văn Duyệt (Đinh Tiên Hoàng) đến ngã ba đường, nơi đường Châu Văn Tiếp gặp đường Lê Văn Duyệt (Đinh Tiên Hoàng) là tới Lăng Ông.
Lăng Ông trông thẳng sang mé tay mặt công sở xã Bình Hòa (Nhà Văn hóa quận Bình Thạnh), ngang đường Châu Văn Tiếp.
Trước Lăng Ông là một khoảng đất trống rộng rãi để các khách tới lễ bái đậu xe.
Qua khoảng đất này là cửu Tam Quan: Cửa này có ba cổng, cổng giữa chỉ mở trong những ngày Tết hoặc ngày lễ. Hàng ngày chỉ có hai cổng bên mở cho khách hành hương ra vào, vào theo lối tay trái và ra theo lối tay mặt.
Qua cửa Tam Quan, là một con đường xây gạch đi thẳng cho tới lối vào đền thờ. Hai bên đường gạch này là vườn hoa có cây cao bóng mát, phong cảnh trầm tĩnh.
Đi từ ngoài cửa vào độ vài chục thước, rẽ về phía tay trái theo một con đường nhỏ khác cũng lát gạch, khách hành hương sẽ đi tới nơi đức Tả
quân Lê Văn Duyệt an nghỉ giấc thiên thu. Nằm bên cạnh ngài là mộ phu nhân, nhũ danh Đỗ Thị Phấn.
Hai ngôi mộ của ông bà Tả quân đều xây cao và quanh năm có người tới hương khói phụng thờ. Chung quanh hai ngôi mộ là lớp tường hoa, và ở
mé ngoài về góc tay phải là nhà bia nhắc lại công trạng của Tả quân.
Trở lại con đường gạch lớn, khách hành hương đi thẳng vào chừng vài chục thước thì tới cổng vào đền, nhưng trước khi tới cổng này, ở bên trái, tại khu vườn hoa, có đền thờ thổ thần, xây cất rất giản dị.
Đền thờ
Đền thờ đức Tả quân ở bên tay trái con đường gạch, và xây theo lối xưa không có gác. Đền đã qua nhiêu lần sửa chữa và xây thêm, nên trông ở
bên ngoài vẻ cổ kính có giảm đi nhiều. Qua cổng đền, trước đền là một sân gạch khá rộng.
Tại sân này có đặt một dãy lư hương để khách hành hương các nơi thắp hương khấn vái và có lò hóa vàng, nơi đốt những vàng mã của khách thập phương mang dâng lễ.
Thường ngày, ngay ngoài cổng Tam quan và ở ngay sau cổng vào đền, có những người bán vàng hương cho khách lễ bái. Những người bán hàng này thường hay chèo kéo gây sự bực mình cho khách nên những năm gần đây, ban quản trị đền tuy không cấm bán nhưng đã trù liệu ngay trong đền vàng hương để khách hành hương dâng lễ và cấm ngặt người bán hàng không được chèo kéo khách.
Chiếc sân gạch rộng suốt trước mặt đền và ở mé bên kia sân, đối diện với cửa vào là cửa ra. Đền xây lưng về phía trước Tòa Hành chánh tỉnh Gia Định.
Đền ngăn làm ba có cửa ăn thông nhau. Giữa là đền thờ, bên trái là nhà sửa soạn vàng hương của khách vào dâng lễ, bên phải là nhà để xăm.
Đền thờ chia làm ba lớp, mỗi lớp đều có bàn thờ, duy lớp trong cùng tức là hậu cung có tượng của đức Tả quân trông thật uy nghi trang trọng.
Đền có những bức hoành phi chữ vàng chói lọi và những đôi câu đối ở
những hàng cột, nhắc lại sự nghiệp hiển hách của Tả quân.
Đền đã được liệt vào hạng di tích văn hóa được bảo tồn.
Đằng sau đền lại là vườn hoa và có cửa sau để khách hành hương cũng có thể ra vào lối này được. Cửa sau cũng có ba cổng, cổng giữa thường chỉ mở trong những ngày lễ, còn hai bên là lối ra vào riêng biệt.