Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 9

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Tín ngưỡng Việt Nam

vẫn cứ nằm mộng. Loại mộng này được giải thích do lúc ban ngày, con người hoạt động trăm nghìn việc, tâm linh không được rảnh rang để mà có những viễn cảm về những sự vui buồn sắp xảy ra, cho nên trong lúc ngủ, tâm trí và cơ giác của con người ta được nghỉ ngơi hoàn toàn không bận bịu.

Lúc đó tâm trí và cơ giác rất sáng sủa, có thể báo cho ta biết trước mọi việc sắp xảy ra về mọi phương diện bệnh hoạn, tai nạn hoặc sự vui buồn.

Gặp những giấc mộng, người ta muốn tìm cách hiểu mộng.

Dù sao cũng chớ nên coi giấc mộng như điềm tiên tri mà chỉ

nên coi đó là một cảnh cáo, một báo hiệu, một thúc giục của tạng thức thấy rõ hơn linh tính, để đem nghị lực phấn đấu tự

sửa mình, để chống lại giấc mộng xấu và cố hành động theo lẽ phải để hưởng giấc mộng tốt.

Chìa khóa giải mộng.

nếu ở phương Đông có “chiêm Mộng Kinh” để chỉ cách đoán mộng thì ở phương Tây cũng có những sách dạy đoán mộng, họ gọi là chìa Khóa Giải Mộng.

những sách giải mộng này cũng xếp những giấc mơ thành từng loại như ““chiêm Mộng Kinh”” của Đông phương.

loài vật.

Bị ong đốt: gặp những sự nguy hiểm trong nghề.

Giết ong, phá tổ ong: phá sản hay đau ốm nặng.

Thấy chó sủa: tang tóc.

nghe chó sủa nhưng không thấy chó: sẽ được những lời chúc tụng tốt.

Thấy con cừu: vui mừng về con cháu.

chim to bay: hy vọng.

chim bị bắn: có kẻ thù.

Bò, dê: làm việc có kết quả tốt.

Vịt: miệng tiếng thị phi.

ngựa trắng: đại cát.

Mê tín dị đoan

ngựa đen: thất vọng.

ngựa nâu: hạnh phúc.

ngựa khoang: tình duyên đẹp.

Lợn: công việc lộn xộn.

Voi: gặp quý nhân, hiền sĩ.

ếch, nhái: nguy hiểm, tai nạn.

Rắn: có cuộc ám hại hay báo thù.

chim nhạn: hạnh phúc.

chim cú: điềm vượng tốt lành.

Thỏ: tốt.

người và việc.

Sinh sản: điềm lành, tin tức hay.

Mua bán: mất tiền bạc.

ngã trượt: bệnh tật.

Tính toán: thất tài.

Từ giã: có khách lạ.

Làm việc: thành công.

Đói rét: sung sướng.

công an, cảnh sát: coi chừng bạn bè phản bội.

con chết: sinh quý tử.

Say rượu: bị thất vọng.

Gặp bạn hiền: tai nạn bất thường.

Tắm: điềm hay.

Hôn thiếu nữ: thất vọng vì tình.

Hôn người chết: trường thọ.

Khiêu vũ: thị phi.

Quét nhà: tài lộc lớn.

Đi thuyền: công việc gặp khó khăn.

cưỡi ngựa: được như ý mình.

Thấy ông bà tiên tổ: bất hiếu.

Thấy tiên nữ: thành công lớn.

Buồn: tin mừng.

Tín ngưỡng Việt Nam

Hát: việc lành sắp tới.

Yêu quý: sắp có tai nạn.

Thấy Thánh, phật, chúa: đại cát.

Thua bạc: có việc tốt.

Cỏ cây cảnh vật.

cây to lớn: hạnh phúc.

cây trụi lá: điềm nguy hiểm.

Rừng cây: coi chừng tai nạn.

Lá xanh trên cây: điềm lành.

Lá vàng trên cây: điềm xấu.

Hoa: gặp tình duyên.

cảnh vật hoang tàn: có tai nạn hoặc ốm nặng.

cảnh có nhiều giống vật: điềm phúc.

Kim chỉ: bệnh hoạn.

Rượu: chuyện buồn.

Diêm: việc vui mừng.

nhà cửa đẹp: tham vọng không thành.

nhà không đèn tối tăm: gặp sự phản trắc.

Bắt được tiền bạc: coi chừng mắc lừa.

Mất tiền bạc: phát tài.

Thấy vũ khí: tai nạn phi thường.

Thấy tàu bay: vạ miệng thị phi.

Sang đò: nạn hồng thủy, chết đuối.

Thấy bùn lầy: tai nạn bất thường.

cảnh thôn quê: công việc có kết quả.

Thấy quan tài: khỏi bệnh.

Quan tài có người: hỉ tín, sinh quý tử.

Bãi tha ma: vui sướng sắp tới.

Thấy nhà bếp: coi chừng đòn ghen.

Trường học: có việc hối hận.

Địa ngục: có kẻ thù oán sinh chuyện.

Mê tín dị đoan

So sánh các bảng sắp loại trên của những sách gọi là “chìa khóa giấc mộng” với những điều giấc mộng trong “chiêm Mộng Kinh”, ta thấy có nhiều giấc mơ Đông và Tây đã giải thích như nhau.

Thí dụ như mê thấy con chết, phương Đông cho là điềm phát tài, thì phương Tây cho là điềm sinh quý tử, đều là điềm tốt cả.

Lại như mê thấy Thánh thần, phương Đông cho là điềm phúc lộc thì phương Tây cũng là điềm đại cát, v.v...

Dù theo phương Tây hay phương Đông, giấc mộng cũng còn tùy hoàn cảnh, tùy người; có khi mộng mị thực là vô bằng, nhưng cũng có khi giấc mộng lại có liên quan với thực. Xét mộng, cần phải đạt, để hiểu giấc mộng, chớ nên cố chấp quá tin mà thành một điều vô ý thức.

những điều giải mộng ghi trên chỉ có tính cách chỉ dẫn.

Hiện tại ở Việt nam cũng có một đôi cuốn sách chỉ dẫn cách đoán điềm giấc mộng, nhưng sách nào thì sách, không nên căn cứ tin một cách mù quáng đến ngu muội. nhiều khi cần xét xem có bệnh tật gì không trước khi tìm thầy giải mộng.

nHững giấC mộng Có gHi trOng Sử SáCH

như trên đã trình bày, mộng với thực nhiều khi có liên quan với nhau. Qua các sách sử nhiều giấc mộng đã được ghi chép lại như giấc mộng của giáo sư Gesner nói trên. nhân nói về

sự chiêm đoán và việc cầu mộng xin chép lại đây mấy giấc mộng của cả phương Đông lẫn phương Tây có sự ứng nghiệm để bạn đọc cùng suy xét.

giấc mộng của vua tuyên vương nhà Chu.

Vua Tuyên Vương nhà chu từ khi lên ngôi, trong nước luôn luôn bị giặc Khương nhung quấy nhiễu.

nhà vua ngày đêm lo ngại. Một hôm nhà vua ngủ ở nhà Thái Miếu bỗng mộng thấy có một người con gái từ phía Tây bước 149

Tín ngưỡng Việt Nam

thẳng vào trong miếu. Vua Tuyên Vương nổi giận, quát mắng rầm lên, truyền nội thị đuổi bắt chẳng thấy một người nào thưa.

người con gái ấy không sợ hãi gì cả, cười khanh khách ba tiếng, lại khóc nức nở ba tiếng rồi thu hốt các thần chủ trong miếu, bó lại thành một bó mà xách đi.

Vua Tuyên Vương vội vàng đuổi theo, bỗng giật mình tỉnh dậy, thành ra một giấc chiêm bao.

nhà vua liền đòi quan Thái sử là Bá Dương phụ vào đoán mộng. Bá Dương phụ đoán là điềm nữ họa.

Giấc mộng này quả nhiên về sau ứng nghiệm. con vua Tuyên Vương là vua U Vương say mê nàng Bao Tự nên có loạn Khương nhung tàn phá kinh thành. rồi vua U Vương cũng bị giết. con vua U Vương là vua Bình Vương phải thiên đô sang phương Đông ở Lạc Ấp thì các thần chủ của các tiên vương cũng phải đi theo, ứng vào điềm cô gái xách các thần chủ mang đi.

giấc mộng của tần văn Công.

nước Tần là một nước chư hầu nhà chu. Tần Văn công làm vua nước Tần dưới thời vua Bình Vương nhà Đông chu.

Một hôm Tần Văn công nằm mê thấy con hoàng xà ở trên trời rơi xuống, hóa làm một tiểu nhi bảo Văn công rằng:

- Ta đây là con trời, trời sai ta xuống báo cho nhà ngươi biết là trời định cho nhà ngươi làm Bạch Đế.

nói xong biến mất.

Hôm sau Tần Văn công truyền Thái sử Đôn vào đoán mộng.

Thái sử Đôn nói:

- Bạch là thuộc về phương Tây, trời cho chúa công làm chủ ở phương Tây này.

Quả nhiên về sau Tần Văn công được các chư hầu ở phương Tây thần.

giấc mộng của mẹ vua thuấn

Khi bà mẹ vua Thuấn có thai nằm mê thấy con chim sẻ

bằng ngọc bay vào bụng.

Mê tín dị đoan

Thầy đoán mộng giải sinh quý tử. Về sau sinh ra vua Thuấn.

Hai giấc mộng của tào tháo

Ai đã đọc truyện “Tam quốc” tất biết Tào Tháo là một tay đại gian hùng đã sửa soạn để cho con cướp ngôi vua nhà Hán, lập nên nhà ngụy.

Một đêm, khi Tào Tháo sắp chết nằm mê thấy ba con ngựa cùng ăn một tàu.

Hôm sau, Giả Hủ đã đoán:

- Lộc mã là điềm hay, ngựa cùng ăn một tàu là lộc về nhà.

Tào Tháo mừng lắm.

Sự thực giấc mộng không phải như lời Giả Hủ đoán mà ứng vào việc sau này con cháu Tư Mã Ý cướp cơ nghiệp của con cháu Tào Tháo, lập ra nhà Tấn. ngựa chính là họ Tư

Mã. Ba con ngựa là ba bố con Tư Mã Ý, Tư Mã Sư và Tư

Mã chiêu. Ba con ngựa ăn một tàu, chỉ ba cha con Tư Mã Ý chiếm cơ ngơi họ Tào.

Khi gần chết Tào Tháo lại mê thấy những người mình đã giết tới đòi mạng. Sau đó Tào Tháo chết. Giấc mơ này chính là mộng bệnh. Tào Tháo đã giết nhiều người, lương tâm không yên, lúc ốm đau đâm mê hoảng và tưởng như những người mình đã giết tới đòi mạng.

giấc mộng của Chung Hội

chung Hội là tướng giỏi của nhà ngụy thời Tam Quốc.

Hội được cử mang binh đánh nước Thục. Đánh chiếm xong nước Thục, Hội có ý muốn giữ nước Thục lại để

gây nghiệp lớn.

Một đêm chung Hội nằm mê thấy có hàng nghìn con rắn to xúm vào cắn.

Sáng ngày chung Hội hỏi Khương Duy thì Duy nói:

- Mơ thấy rồng rắn là điềm hay.

Sự thật đã trái lại. Rắn là kẻ thù. Sau đó chung Hội khởi sự chống lại nhà ngụy bị thất bại và bị giết.

Tín ngưỡng Việt Nam

giấc mộng của thánh Joseph.

Ông Thánh Joseph nằm mơ thấy Thiên Thần bảo phải đưa đức bà Maria và chúa Jésus sang Ai cập ngay để lánh nạn Hérode. Vừa lúc ấy vua Hérode ra lệnh tàn sát tất cả con trai trong nước. chính nhờ giấc mộng, gia đình ông Thánh Joseph thoát nạn.

giấc mộng của một bác sĩ bạn của malesherbes tiên sinh.

Trong “Đố ai nằm ngủ không mơ”, bà Linh Việt có kể lại: Một ông bác sĩ bạn của Malesherbes tiên sinh thuộc phái duy vật và cực lực phản đối những gì gọi là huyền bí và không tin ma quỷ Thánh thần. Về chiêm bao, ông cho là vì ước muốn bị đè nén lâu ngày sinh ra.

năm 1933, trước lễ Giáng sinh, bác sĩ có người bạn rủ đi săn ở vùng Lorraine. Xe hơi của ông hỏng, ông định lấy vé xe lửa để đến nhà bạn cho kịp đúng hẹn. Tối đó ông nằm mơ thấy chiếc xe lửa ông đi gặp một tai nạn ghê gớm, toa xe lửa ông ngồi bị gẫy nát, ông thấy ông bị gẫy đứt lìa nửa chân trái.

Tỉnh giấc mơ ông thấy sợ hãi, nhưng ông lại nghĩ lại ông cho rằng ban ngày ông ra nhà ga, thấy mấy toa xe lửa nên tối chiêm bao. Sáng ra, ông nhớ rõ giấc mơ, nhưng ông không quan tâm. Tuy nhiên vì thích đi xe hơi hơn đi xe lửa nên ông cố giục thợ máy sửa xong xe cho ông để sáng hôm sau ông đi.

chiều hôm đó, một ông già thân chủ tới thăm bệnh để hỏi xem ông có thể đi du lịch được không. Bác sĩ cho ông biết ông có thể đi du lịch được nhưng phải giữ phổi cho ấm. Ông già cho biết ông sang miền Đông và chỉ đi có một đêm thôi.

Tự nhiên bác sĩ đưa tay vào trong áo, rút vé xe lửa ra nhường lại cho ông già và nói: Tôi đi bằng xe hơi.

Sau cuộc đi săn về, ông được tin chuyến xe hỏa ông định đi gặp tai nạn đụng chiếc tàu suốt Strasbourg vào đêm 23-12-1933. Hàng trăm người vừa bị thương vừa bị chết. Hỏi đến 152

Mê tín dị đoan

ông già thân chủ của ông, ông này bị cụt chân trái, quang cảnh y như giấc chiêm bao của ông.

giấc mộng của vua louis, em Hoàng đế napoléon 1er.

cũng do bà Linh Việt kể lại trong sách trên.

napoléon ler, khi còn là trung úy nghèo, cho người em trai là Louis chín tuổi đến sống với mình. Hàng ngày trung úy dạy em làm toán. Một buổi sáng Louis có vẻ uể oải. Ông anh phải hối thúc và hỏi:

- Sáng nay có chuyện gì? Anh em ta hình như lười quá!

- Ồ, anh không biết, em nằm mơ hay quá.

- Em mơ thấy gì?

- Em làm vua.

- Anh làm gì?

- Anh làm Hoàng đế.

- Hoàng đế!

napoléon nhún vai bảo em đem tập vở ra học toán. Truyện này xảy ra trước sự chứng kiến của ông parmentier, bác sĩ

quân y trong quân đoàn của napoléon.

Về sau napoléon làm Hoàng đế, và phong cho ông Louis làm vua. Giấc mơ đã ứng nghiệm.

cứ kể ra những giấc mộng ghi trong sử sách còn nhiều, nhưng qua mấy giấc mộng trên ta đủ thấy rằng mộng với thực rất có liên quan.

Sấm Ký

Sấm ký là những câu ẩn ngữ của các nhà thuật số tính số

Thái Ất đặt ra. Tục tin rằng lời sấm ký ứng được 500 năm về trước và 500 năm về sau.

Xưa kia nước ta có nhiều câu sấm Hòa đao mộc lạc

Tín ngưỡng Việt Nam

thập bát tử thành

Đông a xuất nhật

Đoái cung ẩn tinh.

đã ứng vào mấy đời Lê, Lý, Trần và chúa Trịnh.

“Hòa đao mộc lạc”, ứng vào nhà Lê hết. Ba chữ hòa, đao và mộc sắp lại thành chữ Lê, lạc là rụng.

“thập bát tử thành”, ứng vào nhà Lý. Ba chữ thập, bát và thử sắp vào thành chữ Lý, thành là nên. Đông A xuất nhật, ứng vào nhà Trần.

“Đoái cung ẩn tinh”, ứng vào chúa Trịnh.

Ông nguyễn Bỉnh Khiêm, tục gọi là Trạng Trình, hiệu là Bạch Vân, về đời nhà Mạc có nghiên cứu số Thái Ất đặt ra nhiều câu sấm hiện nay còn đang lưu truyền và đang được người ta nghiên cứu và cho là ứng nghiệm. những câu này đều ý nghĩa hiểm hóc, khó ai mà đoán cho đúng hết, chỉ

thường khi xảy ra mới biết.

Xin nêu vài câu làm thí dụ.

câu: “Cẩu vĩ trư đầu xuất thánh nhân”, nghĩa là “cuối năm chó đầu năm lợn có thánh nhân, đã được cho là ứng nghiệm vào vua Gia Long, người đã thống nhất đất nước vào năm nhâm Tuất.

câu: “Bạch thủ bạch phát tại sơn hà”, nghĩa là “Đầu trắng tóc trắng tại nước nhà”, đã được coi là ứng nghiệm vào sự

hiện diện của người da trắng tại nước ta, nhất là vào việc người pháp cai trị nước nam.

Lại như câu: Bao giờ ba tháng đủ liền, thầy tăng đổ máu ngô quyền tan thây.

Đã được ứng vào năm Quý Mão, 1963, có ba tháng đủ liền.

năm đó ngô Đình Diệm đàn áp phật giáo, gây phẫn nộ trong giới phật tử mở đầu cho cuộc chính biến lật đổ nhà ngô.

có người cho chính câu trên là như sau: Bao giờ ba tháng đủ liền,

vua chúa mất quyền, dân chúng lầm than!

Mê tín dị đoan

năm Bính ngọ, 1966 cũng ba tháng 5,6,7 đủ liền, nhưng nước ta hiện nay làm gì còn vua chúa, còn dân chúng lầm than thì với cuộc chiến tranh ngày nay, tránh sao cho được khỏi sự lầm than! Xét qua tình trạng nước ta vào năm Bính ngọ, tự ta sẽ hiểu lời sấm có ứng nghiệm hay không?

Mấy câu sấm ký trên nêu ra với tính cách chỉ dẫn. nếu muốn biết nhiều về những câu sấm, đọc các sách nghiên cứu riêng về lời sấm.

Thường thường những lời sấm rất ít câu có nghĩa rõ ràng, nên cứ có việc gì tương tự ta cho là ứng nghiệm.

lời ĐồNg dao

Lời đồng dao là những câu ví von trẻ con thường hát chơi không biết ở đâu mà ra.

người ta thường cũng chiêm đoán qua lời đồng dao như

qua sấm ký, những sự việc xảy ra.

Sách Tàu nói rằng: lời đồng dao là bởi sao huỳnh hoặc hiện xuống dạy trẻ con hát rồi trẻ quen mồm hát.

có nhiều câu đồng dao đầu tiên nghe không có nghĩa lý, nhưng theo các cụ truyền lại, thì về sau đã ứng vào thời cuộc.

Thí dụ cuối đời nhà Tây chu, trẻ con có hát câu: thỏ mọc thì ác phải tà,

yểm hồ cơ bạc ấy là mất Chu.

Yểm là một thứ cô dâu dùng để làm cung; cơ là loại cỏ kết lại làm cái túi đựng tên. Yểm hồ cơ bạc là cung tên.

Việc cung tên hỉ việc loạn lạc. Đời nhà chu về sau loạn lạc, chư hầu tranh nhau, rồi rốt cuộc nhà chu tàn.

Lại như về cuối đời nhà Hán, vào triều vua Thiếu Đế, con vua Linh Đế có câu đồng dao:

Đế không ra đế,

vương không ra vương,

Tín ngưỡng Việt Nam

Xe cùng với ngựa,

Chạy thẳng Bắc mang.

câu đồng dao này đã ứng vào loạn thập thượng thị, nhà vua và các quan phải bỏ kinh thành lốc nhốc chạy về hướng Bắc, không còn thể thống gì.

Tại nước ta, từ trước cũng có nhiều câu đồng dao được coi là ứng nghiệm.

như câu:

Chỉ đâu mà buộc ngang trời,

thuốc đâu mà chữa cho người lẳng lơ.

đã được cho là ứng vào việc dây điện và dây điện thoại mắc cao khắp nơi, và những người lẳng lơ mắc bệnh phong tình.

Và câu:

Chi chi trành trành

Cái đanh thổi lửa

Mọi người bảo ứng vào đèn điện.

ngoài Bắc Việt trước đây có câu:

Đập đầu, đập ngực, đập vai,

Bên Đông cũng lắm. Bên Đoài cũng đông.

để chỉ vào việc đồng bào Thiên chúa giáo. Tỉnh Đông là Hải Dương có Sặt là nơi đông đồng bào theo tôn giáo này, cũng như tỉnh Đoài là Sơn Tây có Hưng Hóa là nơi có nhiều đồng bào theo đạo.

Dưới thời ngô Đình Diệm, khi nhà ngô sắp đổ, vào năm 1962, có nhiều người được nghe nhắc lại câu: Dinh Độc lập một màu tang tóc

anh em ngô thị thảy vong thân

Xét ra nặng oán nhẹ ân

Họ ngô tan tác muôn dân vui mừng.

có lẽ đây là do một người nào ghét anh em ngô Đình Diệm đặt ra, nhưng người ta bảo rằng, hồi đó cứ buổi chiều tại dinh Độc Lập có mây mù nặng bao phủ bên trên, báo 156

Mê tín dị đoan

hiệu điềm tang tóc. Và mấy câu trên ứng nghiệm vào năm sau như lời đồng dao!

các câu đồng dao rất nhiều, nhiều câu không biết có ứng nghiệm hay không, không ai hiểu, tuy nhiên lời đồng dao vẫn được dùng để chiêm đoán cho những việc sẽ xảy ra.

nói chung, các cách chiêm đoán của ta đều tin vào quỷ

thần, bởi thế cho nên thường thấy nặng về mặt huyền ảo, có linh nghiệm hay không cũng còn tùy trường hợp.

Thơ thiên, thẻ thánh, lời sấm ký, các câu đồng dao bao giờ

cũng ý tứ mông mênh, câu đoán ngược, câu đoán xuôi, câu đoán ngay, câu đoán trạnh, hay dở không bao giờ nhất định, muốn hiểu sao là ứng nghiệm thì hiểu. cơ trời huyền bí, con người biết thấu sao hết và tin sao cho cùng.

Bởi vậy chiêm đoán là một việc, suy ngẫm và tin tưởng lại là việc khác, và cũng còn tùy người, tùy hoàn cảnh.

Tín ngưỡng Việt Nam

Chiêm Nghiệm

Trên đã nói qua về sự chiêm đoán, giờ đây xin nói tới những điều chiêm nghiệm. nếu chiêm đoán là xem trước mà đoán mọi việc xảy ra về sau thì chiêm nghiệm là xem các việc đã xảy ra bên ngoài mà nghiệm việc hay dở

của người hoặc trời đất.

Vạn vật tương quan, mọi vật ở trên đời thường có liên hệ

không trực tiếp thì gián tiếp, cho nên việc xảy ra ở trong trời đất thường khi vẫn ảnh hưởng tới con người, có khi tới đoàn thể như thôn xã quốc gia và có khi ảnh hưởng tới chính trời đất nữa.

Theo tục, ta phân biệt sự chiêm nghiệm làm hai loại:

- nghiệm xem thiên thời;

- nghiệm xem nhân sự.

Nghiệm xem ThiêN Thời

phương Đông cũng như phương Tây đều có khoa thiên văn để nghiên cứu về những hiện trạng của trời đất trăng sao. Một đám mây có thể là nguồn gốc cho cơn mưa, một cơn giông có thể báo trước một trận bão. người phương Tây 158

Mê tín dị đoan

xem thiên văn để nghiên cứu về khoa khí tượng, còn người phương Đông ngoài việc nghiên cứu về khí tượng nhiều khi còn dùng khoa thiên văn để chiêm nghiệm những sự việc xảy ra, nhất là trong đám quảng đại quần chúng. Mỗi hiện trạng của trời đất có thể báo trước một việc hay hoặc dở. nghiệm sự

việc qua các hiện trạng này ta gọi là nghiệm xem thiên thời.

Dưới đây là những điều chiêm nghiệm xưa nay thường có và được mọi người nhận là đúng:

Mặt trời có sắc năm vẻ: hiện tượng thái bình.

Mặt trời mặt trăng bị gấu ăn: có tai biến.

Sao chổi: có việc binh đao

Mây thành hiện: có loạn.

Đêm trừ tịch trời sáng: được mùa đậu trắng.

Đêm trừ tịch trời tối: được mùa đậu đen.

Sấm đầu năm trước bữa cơm: sấm đói, năm đó mất mùa.

Sấm đầu mùa sau bữa cơm: sấm no, năm đó được mùa.

Mặt trăng có quầng: hạn.

Mặt trăng có tán: mưa.

Trăng mồng tám đầy: gạo hơn.

Trăng mồng tám vơi: gạo kém.

Mồng tám tháng tư không mưa: bỏ cả cày bừa mà vất lúa đi.(1)

ngày đoan dương mưa: cây cối nhiều sâu.

Đêm trung thu trăng mờ: lúa kém.

Đêm trung thu trăng sáng vừa vừa: được lúa chiêm.

Đêm trung thu trăng tỏ: được cả hai mùa.

ngày trùng cửu có mưa: năm sau được mùa.

ngày trùng cửu không mưa: năm sau mất mùa.

1. Ca dao.

Tín ngưỡng Việt Nam

Lúa chín có hoa: gạo rẻ.

cau tốt: lúa mất mùa.

nhãn được mùa: nước to.

Khoai lang ngọt: đói kém.

Đồng nhiều ốc nhồi: nước to.

Rễ cây trắng, cỏ gà trắng: trời sắp mưa.

cóc nghiến răng: trời mưa.

cá trê rạch lên cạn: trời nắng.

Mùa xuân lá tre rụng nhiều: sắp có mưa to.

xương đùi ếch đen: có mưa.

Đen khúc trên: mưa đầu tháng.

Đen khúc giữa: mưa giữa tháng.

Đen khúc dưới: mưa cuối tháng.

cá không vẩy đập đầu không có máu: nắng to.

chuồn chuồn ra từng đàn: sắp bão.

Kiến tha trứng leo lên cây: nước to.

Kiến ở trên cao leo xuống: trời nắng.

Mưa lâu quạ bay ra kêu: mưa tạnh.

nước có bọt đen: trời còn rét.

Mống đằng Đông, cầu vồng đằng Tây: chẳng mưa giây cũng bão giật(1)

Mỡ gà: thì gió (ý nói ráng màu vàng).

Mỡ chó: thì mưa (ý nói ráng màu vàng, ngả sang đỏ)(2) Nghiệm xem NhâN Sự

nghiệm xem nhân sự tức là nghiệm những việc ứng về

người. Vốn ta tin những điềm ứng trước, mọi việc bất thần xảy ra đều có thể báo trước một điềm hay dở được. nhiều 1. Ca dao.

2. Theo câu tục ngữ: thứ nhất nhện sa thứ nhì xà chắn.

Mê tín dị đoan

khi viễn cảm con người rất sáng suốt đã giúp người ta tránh được nhiều tai nạn hoặc hưởng được nhiều dịp may, ta đều gọi đó là linh tính báo trước. Khi linh tính lại căn cứ vào sự

việc gì, tức là linh tính đã biết đường báo trước để lui tới.

Dưới đây là một số các điều nghiệm về nhân sự, mà cách đây hơn năm chục năm cụ phan Kế Bính đã sưu tầm cho chúng ta và cho đến bây giờ vẫn được cho là đúng. cũng như ở trên bảng nghiệm xem thiên thời, một số các điều cụ phan không nói tới, nhưng tục ta vẫn tin, tôi đã thêm vào.

Hoa nở giữa lúc giao thừa: tốt.

Mồng một Tết có hoa nở: tốt.

nhện sa trước mặt: có tin hay.

Gặp rắn chắn ngang trước mặt: hay(1) Gặp rắn đi ngược chiều với mình: điềm xấu.

Gặp rắn chạy cùng chiều với mình: bình thường.

Máy mắt tay phải: có tin yên.

Máy mắt tay chiêu: có tin dữ.(2)

Ruồi sa vào bát ăn, chén uống: điềm lành.

nhện vàng sa: sự buồn.

nhện trắng sa: điềm được khen.

nhện đen sa: tin mừng(4)

Đánh được rắn ngày mồng năm tháng năm: phát đạt.

chim sẻ làm tổ trên cây trong sân: nhà thịnh vượng.

cò làm tổ ở bụi tre cạnh nhà: điềm hay.

Mèo đến nhà: thì khó

chó đến nhà: thì giầu(5)

Đom đóm vào nhà: thì tốt.

1. Theo câu tục ngữ: thứ nhất nhện sa thứ nhì xà chắn.

2. Tục ngữ.

3. Tục ngữ có câu: Vàng mắng, trắng khen, đen mừng.

4. Tục ngữ.

Tín ngưỡng Việt Nam

chuột rúc trong nhà: phát tài.

Hoa đèn nở: phát tài.

Ong làm tổ trong sân, trong vườn: điềm hay.

Rắn vào nhà: quái.

cú kêu: độc.

chim lợn kêu; có dịch khí.

Gà mái gáy: có điềm gở.

chim bồ các hoặc chim khách kêu: có khách sắp đến.

Mối xông quần áo: độc.

chuột cắn quần áo: độc.

chim bay rơi cứt vào quần áo: mặc thì độc.

chim sa cá nhảy: ăn thịt độc.

Ra ngõ gặp trai: tốt.

Ra ngõ gặp gái: thì xấu.

Ra ngõ gặp người gánh nước: tốt.

Vào rạp xem hát, gặp cảnh vui mừng: tốt.

Vào rạp xem hát, gặp cảnh khóc than, buồn rầu: xấu.

Khi cúng lễ, lò hương bốc lửa: tốt.

Đun nấu lửa reo: đắt hàng.

Đánh đổ điếu: xấu.

Đánh đổ dầu: xấu.

Vỡ chai lọ nước mắm: xấu.

Bình vôi đổ: xấu.

Đi đâu hoặc làm việc gì, hắt hơi một tiếng: xấu.

Đi đâu hoặc làm việc gì, hắt hơi hai tiếng trở lên: tốt.

Máy mắt: ăn xôi (có sự)

Máy môi: ăn thịt (được mời ăn).

Máy đít: phải đòn (đánh lộn)(1)

1. Tục ngữ.

Mê tín dị đoan

Móng chân móng tay có hoa đen: xấu.

Giật mình vô căn cứ: có tin không hay.

Trong nhà bỗng dưng có cây to héo đổ: có thương.

Làng nào có cây gạo ra hoa trái mùa hoặc có đai: trong làng có người thi đỗ.

cây to ở đình chùa tự nhiên đổ: thủ chỉ làng chết.

chủ tướng đi đánh giặc, cờ soái đổ: bất tường.

Làng đang có hội cờ đổ hoặc cờ gãy: bất thương.

Đầu năm có người gánh nước vào nhà: điềm tốt.

Qua hai bảng về hai loại chiêm nghiệm trên, có nhiều điều thật là trái ngược với khoa học như “gấu ăn mặt trời, mặt trăng” tức là nhật thực và nguyệt thực, nhưng tục đã tin thì người ta cứ tin, nhất là trong khi đó lại có một hạng người xúi giục cho người ta tin để sống trên sự dễ tin ấy, tôi muốn nói các môn đồ lưu phái đạo Lão biến thể đã thi nhau bày đặt ra những cách hành đạo khác nhau, những điều huyền hoặc dựa vào sự chiêm đoán và chiêm nghiệm.

cũng nhiều điều, có người không tin, nhưng cũng không nói trái lại. Lại có nhiều điều có thể lấy khoa học mà giải thích được. Thí dụ như chim lợn kêu thì có dịch khí. chính là bởi nước dãi con chim này có chất độc, khi nó kêu nước dãi đó rớt vào giếng làng, dân làng ăn sinh bệnh. chim lợn thường đậu trên ngọn cây to và ở thôn quê, giếng thường ở dưới bóng cây to.

Lại cũng như “chim sa cá nhảy” ăn thịt độc. Sở dĩ thịt chim cá này độc, vì con chim đã không đủ sức bay mà sa xuống tức là con chim ốm, còn như con cá đang ở dưới nước phải quãy nhảy lên cũng là con cá đau. Ăn thịt chim ốm cá đau tất nhiên phải độc.

nhưng dù sao, tin vào sự chiêm đoán cũng như sự chiêm nghiệm đều đã là thói tục của ta, hay dở tùy theo quan niệm từng người.

Tín ngưỡng Việt Nam

cũng như sự chiêm đoán, sự chiêm nghiệm nặng về phần huyền ảo, đúng hay sai ở sự việc đã đành nhưng cũng lại do ở người nghiệm rất nhiều.

Trong trời đất tuy có một lẽ cảm ứng, nhưng nhiều khi chen vào lẽ cảm ứng đó có nhiều điều huyền hoặc, và có những trường hợp, những điều huyền hoặc đo đã biến sự chiêm nghiệm thành một điều mê tín.

người ta đã tin vào sự chiêm nghiệm vì người ta cho rằng: phàm một người, một nước, cho đến cả thiên hạ, sắp có việc hay tất có điềm hay sinh ra trước, sắp có việc dở tất có điềm dở

sinh ra, hoặc điềm ra tai mắt chân tay, hoặc điềm ra cây cối súc vật, hoặc điềm ra mưa, gió, mây, mù, trăng, sao, sương, tuyết.(1) sách ta có câu rằng: “Hòa khí chí tường, quái khí chí dị”

tức là khí hòa nhã thì điềm lành đem đến, khí quái lệ thì điềm dữ đưa lại.

Mọi điềm lành dữ có thể là điềm Trời, nhưng có Trời mà cũng có ta, nếu mọi việc ta không cố gắng tin ở sức mình, chỉ cầu mong ở sự chiêm nghiệm thì thật đúng là câu chuyện há miệng chờ ho và trong trường hợp này sự chiêm nghiệm đã rất tai hại.

người có nghị lực tin tưởng ở nơi mình, không bao giờ

quan tâm đến điềm lành dữ, có thể cải điềm dữ hóa lành, còn những kẻ há miệng chờ ho thì nhiều khi điềm lành cũng hóa dữ.

Bởi vậy nghiệm để mà biết, xem để mà xem, ta có chiêm nghiệm nhưng ta phải lấy sức mình phấn đấu.

NhữNg ViệC Chiêm Nghiệm Có ghi TroNg SáCh Sử

Về những việc chiêm nghiệm, trong sử sách cũng có ghi rất nhiều, nhân dịp đây xin chép lại một số ít câu chuyện về

1. Phan Kế Bính - Việt Nam phong tục.

Mê tín dị đoan

chiêm nghiệm để bạn đọc giải trí và suy ngẫm, còn phần tin nghi tùy ở các bạn.

những điềm lạ trước và sau khi đức Khổng tử ra đời.

Trước khi đức Khổng Tử sinh ra có kỳ lân xuất hiện và sau khi ngài sinh có nhiều điềm lạ khác. (Xin xem ở chương nho Giáo đoạn nói về đức Khổng Tử, quyển thượng).

rắn hiện tại kinh thành nước trịnh.

Trịnh là một nước lớn thời Đông chu. Hồi đó là đời vua chu Huệ Vương và tại nước Trịnh là đời vua Trịnh Lệ công.