Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 12

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Tỵ, Dậu, Sửu;

Dần, ngọ, Tuất;

Thân, Tý, Thìn.

Về điểm xung hợp này, tục lại còn tin rằng “nam kỵ xung”

và “nữ kỵ hợp” , cho nên lúc xem ngày người ta còn tính cả

các điểm “kỵ xung” và “kỵ hợp” nữa.

Thường thường trong việc kén ngày ta cần chọn: những ngày “Thiên đức, nguyệt đức” cho việc cưới xin và tránh các ngày “Trực nguy, trực phá”. người ở tuổi “kim lâu” tránh việc cưới xin.

những ngày “Thiên ân, Thiên kỵ” cho việc xây dựng nhà cửa và tránh các ngày “Thiên hỏa, Địa hỏa”. người ở tuổi

“Kim lâu” cũng kiêng kỵ làm nhà.

những ngày “Lộc mã, Hoàng đạo” cho việc xuất hành và tránh các ngày “Trực phá, trực bế”.

những ngày “Thiên hỷ, Thiên đức” cho việc an táng và tránh các ngày “Từ khí, Quan phù”.

Trong các niên lịch thường có ghi rõ từng ngày với các vị

sao, các trực, các hành và tính cách của mỗi ngày.

Việc kén ngày thường được các cụ xưa lưu ý rất cẩn thận và mỗi khi làm việc lớn nhỏ, các cụ cũng tính toán để mong tránh hết những điều không may.

Bên các người cẩn thận xem ngày có những người khác lại cho rằng “ngày nào cũng là ngày trời” , và tự nhận là ngu dốt “vô thư bất sách quỷ thần bất trách” , nghĩa là không có sách vở quỷ thần cũng chẳng trách gì.

Mê tín dị đoan

Cách kén giờ

Từ trên mới đề cập tới cách kén ngày, nhưng kén ngày rồi còn phải kén cả giờ.

Giờ được chọn vào lúc đầu một công việc gì: Xuất hành kén giờ lúc ra đi,

cưới xin kén giờ lúc đi rước dâu,

Làm nhà kén giờ lúc mới dựng nhà,

An táng kén giờ lúc hạ huyệt.

Kén giờ, người ta thường tin giờ Hoàng đạo là tốt.

Muốn tính giờ Hoàng đạo, người xưa có đặt ra bốn câu thơ sau đây, mà ai muốn kén giờ nên nhớ lấy: Dần Thân gia Tý, Mão Dậu, Dần

Thìn Tuất tầm Thìn, Tỵ Hợi, Thân

Tý ngọ thiên cương tầm ngọ Vị

Sửu Mùi tòng Tuất định kỳ chân.

Và phải nhớ thêm hai câu:

Đạo Viễn ký thời Thông Đạt

Lộ Dao hà nhật Hoàn trinh

Sáu câu thơ trên là tất cả cái chìa khóa để tìm giờ Hoàng đạo nhưng cũng phải biết tính 12 cung trên bàn tay (xem hình vẽ): cung Tý ở ngấn cuối cùng ngón tay đeo nhẫn, cứ

tính thuận theo chiều kim đồng hồ và đến cuối cùng tới cung Hợi ở cuối ngón tay út.

Muốn tính giờ trước hết phải biết mình định tính là ngày gì rồi dùng hai câu thơ dưới mà bấm theo giờ ở bốn câu thơ

trên. Bấm gặp cung nào có những chữ Đạo Viễn, Thông, Đạt, Dao, Hoàn thì giờ ấy là giờ Hoàng Đạo.

những ngày Dần thân thì bấm chữ Đạo ở cung tý; những ngày mão Dậu thì bấm chữ Đạo ở cung Dần; những ngày thìn tuất thì bấm chữ Đạo ở cung thìn; những ngày tỵ

Hợi thì bấm chữ Đạo ở cung thân; ngày tý thì bấm chữ

Đạo ở cung ngọ; ngày ngọ thì bấm chữ Đạo ở cung vị

Tín ngưỡng Việt Nam

tức là cung mùi; những ngày Sửu mùi thì bấm chữ Đạo ở cung tuất.

Thí dụ bây giờ ta muốn tính giờ Hoàng đạo của ngày Thân.

Ta bắt đầu chữ Đạo ở cung Tý rồi ta tính dần đi ta sẽ thấy: cung Tý ở chữ ĐẠO

cung Sửu ở chữ VIỄn

cung Dần ở chữ Ký

cung Mão ở chữ Thời

cung Thìn ở chữ THÔnG

cung Tỵ ở chữ ĐẠT

cung ngọ ở chữ Lộ

Mê tín dị đoan

cung Mùi ở chữ DAO

cung Thân ở chữ Hà

cung Dậu ở chữ nhật

cung Tuất ở chữ HOÀn

cung Hợi ở chữ Trinh

như vậy tức là trong ngày hôm đó những giờ Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi và Tuất là những giờ Hoàng Đạo.

các ngày khác cũng tính theo như trên, căn cứ vào sáu câu thơ chìa khóa sẽ biết giờ Hoàng đạo.

mấy PhéP ĐộN

ngoài cách xem ngày kén giờ đã được trình bày, tục ta còn có những phép độn để biết lúc nào nên làm việc gì tốt hay xấu, biết giờ trẻ sơ sinh lành hay dữ, biết giờ người lâm bệnh sẽ ốm nặng hay nhẹ, sống hay chết. Mỗi phép độn một khác nhau. Dưới đây xin ghi ra những cách tính của mấy phép độn thường hay được dùng tới.

TíNh giờ Cho Trẻ Sơ SiNh

Tính giờ cho trẻ sơ sinh, người ta không tìm xem nó có sinh nhằm giờ Hoàng Đạo không, mà người ta cần biết nó có sinh vào những giờ Kim xà thiết tỏa và Quan sát là những giờ

xấu hay không, đứa trẻ sinh nhằm những giờ này khó nuôi, cần phải cúng giải giờ.

giờ Kim xà thiết tỏa

Muốn tính giờ Kim xà thiết tỏa cần biết đúng năm, tháng, ngày và giờ sinh của đứa trẻ.

Bắt đầu tính năm Tý ở cung Tuất trên bàn tay, tính xuôi cho đến năm sinh thuộc về cung nào, rồi lại tự cung ấy mà tính 205

Tín ngưỡng Việt Nam

làm tháng Giêng, tính ngược cho đến ngày tháng sinh thuộc về cung nào, rồi lại từ cung ấy mà tính ngày kể từ mồng một, tính xuôi cho đến ngày sinh thuộc về cung nào, rồi lại từ cung ấy mà khởi giờ Tý tính ngược cho đến giờ sinh.

Xem giờ sinh ở cung nào, con trai phạm vào hai cung Thìn Tuất, con gái phạm vào hai cung Sửu Mùi là phạm vào giờ

Kim xà thiết tỏa.

giờ quan sát

Trẻ sơ sinh cũng có thể phạm giờ Quan sát và cũng khó nuôi như phạm giờ Kim xà thiết tỏa và cũng cần phải cúng giải giờ.

Muốn biết trẻ có phạm giờ Quan sát hay không chỉ cần biết tháng sinh và giờ sinh của đứa trẻ đem so sánh với một bảng đã được lập sẵn, bảng này áp dụng cho cả nam lẫn nữ.

Tháng Giêng sinh vào giờ Tỵ là phạm giờ Quan sát Tháng Hai

-

Thìn -

Tháng Ba

-

Mão -

Tháng Tư

-

Dần -

Tháng năm

-

Sửu -

Tháng Sáu

-

Tý -

Tháng Bảy

-

Hợi -

Tháng Tám

-

Tuất -

Tháng chín

-

Dậu -

Tháng Mười

-

Thân -

Tháng M.một

-

Mùi -

Tháng chạp

-

ngọ -

ĐộN lụC Nhâm

Đây là cách bấm độn để tìm biết xem giờ mình bắt đầu làm một việc gì là tốt hay giờ xấu.

Mê tín dị đoan

1. Đại an, cung Dần

2. Lưu liên, cung Tỵ

3. Tốc hỷ, cung Ngọ

4. Xích khẩu, cung Mùi

5. Tiểu cát, cung Tý

6. Không vong, cung Sửu

Theo phép Độn Lục nhâm phải tính trên bàn tay trái và bàn tay chia làm sáu cung:

1. Đại an ở cung Dần thuộc Kim, 2. lưu liên ở cung Tỵ thuộc Thủy, 3. tốc hỷ ở cung ngọ thuộc Hỏa, 4. Xích khẩu ở cung Mùi thuộc Kim, 5. tiểu cát ở cung Tý thuộc Mộc, 6. Không vong ở cung Sửu thuộc Thổ.

phép động Lục nhâm giản dị hơn cách kén giờ đã nói trên.

Thường độn Lục nhâm người ta chỉ bấm khi việc bắt đầu làm, hoặc ít nhất giờ khởi sự đã quyết định rồi. Độn Lục nhâm chỉ cần biết nguyệt, nhật, Thì, nghĩa là tháng, ngày và giờ

mà không cần đến những yếu tố khác.

Tín ngưỡng Việt Nam

Muốn bấm độn, người ta bắt đầu tháng Giêng khởi từ cung Dần, rồi tính xuôi tháng Hai tại Tỵ, tháng Ba tại ngọ, tháng Tư tại Mùi, tháng năm tại Tý, tháng Sáu tại Sửu, và như vậy, tháng Bảy lại trở lại cung Dần, cứ thế xuôi đi cho đến tháng mình độn quẻ ở cung nào.

Sau đó bắt đầu từ cung ấy khởi tính ngày mồng một và tính xuôi qua sáu cung trên cho đến ngày mình độn ở cung nào.

Rồi lại từ cung ấy, bắt đầu khởi giờ Tý, tính xuôi cho đến giờ

độn quẻ là giờ gì và đóng ở cung nào tức là trúng quẻ ở cung ấy.

Đây là một thí dụ:

Một người đi xa, xuất hành vào giờ Thìn, ngày mồng 4 tháng 6.

Tính tháng Giêng ở cung Dần thì tháng Sáu ở cung Sửu, lại bắt đầu mồng một tại cung Sửu cho đến cung ngọ là ngày mồng 4. Lại khởi ngay giờ Tý tại cung ngọ tính xuôi cho đến giờ Thìn thì vào cung Dần. cung Dần là quẻ Đại An. Được quẻ rồi, thì căn cứ vào quẻ mà đoán cát hung.

Ý ngHĩa Sáu quẻ trOng PHéP Độn lụC nHâm Trong sáu quẻ, mỗi quẻ có ý nghĩa riêng, có quẻ tốt, có quẻ xấu.

Đại an. - Gặp bạn hiền, được thết đãi ăn uống, có tiền.

Bình yên, vô sự, thanh nhàn. có thể gặp quý nhân giúp đỡ.

lưu liên. - Triệu bất tường, tìm bạn không gặp lại có sự

chia ly. có nhiều điều cản trở trong việc làm.

tốc hỷ. - Vạn sự may mắn. Gặp thầy, gặp bạn, gặp vợ, gặp chồng. có tài có lộc, cầu sao được vậy, nhiều việc vui mừng.

Xích khẩu. - Quẻ xấu, có khẩu thiệt, gặp thị phi. có mất của hoặc bị thương tích, chó cắn. Vợ chồng chia rẽ.

tiểu cát. - ngộ Thanh Long, có tài, có lộc, toại ý muốn.

Gặp thầy cho chữ, gặp bạn giúp đỡ.

Không vong. - Bệnh tật, khẩu thiệt, vợ con ốm đau, mất trộm mất cắp. Quẻ này xấu nhất trong sáu quẻ.

Mê tín dị đoan

TíNh Ngày Để BiẾT Người lâm BệNh Sẽ

ốm NặNg hay Nhẹ, ChẾT hay SốNg

nhiều người khi mới lâm bệnh thường lo lắng không hiểu bệnh sẽ nặng nhẹ ra sao, phải đi xem bói. các thày bói đã căn cứ vào cách tính ngày sau đây để đoán.

phải nhớ ngày tháng lâm bệnh và tuổi người bị bệnh.

cách tính này theo nguyên tắc nhân tam trừ cửu và khi biết kết quả thì tam khinh, lục trọng, cửa nan y. nhân tam trừ cửu nghĩa là nhân lên ba và trừ đi với chín, nếu ra số ba thì bệnh nhẹ, số sáu thì bệnh nặng, số chín thì khó có thuốc chạy chữa.

Thí dụ: một đứa trẻ lên 2, bắt đầu ốm ngày mồng 6 tháng 3.

ốm ngày 6, nhân lên 3 là

ốm tháng 3, nhân lên 3 là

Tuổi lên 2, nhân lên 3 là

Tổng cộng

Đem số 33 trừ 9 đi mãi, còn lại số 6, thế là bệnh trọng.

nếu số lẻ là số 3 thì bệnh nhẹ, nếu chẵn 9 tức là tối nan y, khó có thuốc chạy chữa.

Lẽ tất nhiên việc đoán bệnh nặng nhẹ và người bệnh sống hoặc chết, có khi đúng có khi sai.

Bọn thuật số hay lợi dụng lòng tin khờ khạo của mọi người, khi đúng thì nói quẻ bói linh ứng, còn sai thì đồ tại người bệnh không nhớ đúng ngày lâm bệnh.

còn người bệnh, nghe lời thầy bói đoán, thường bị ảnh hưởng, lâm vào trường hợp tự kỷ ám thị, nhiều khi nhờ vậy mà bệnh nặng cũng khỏi, nhưng cũng nhiều khi do vậy mà bệnh nhẹ cũng trở nên nặng, rồi có thể người đau qua đời.

ĐộN KhổNg miNh

Đây là một phép độn, theo các nhà thuật số, do Khổng Minh truyền lại, và thường được coi là rất linh ứng khi độn 209

Tín ngưỡng Việt Nam

về các việc đứng đắn, trái lại đối với các việc bất chính, phép độn sẽ không ảnh hưởng gì.

có thể coi là đứng đắn:

Tính giờ để hỏi vợ,

Tính giờ đi thi,

Tính giờ cầu công danh,

Tính giờ gặp gỡ quý nhân,

Tính giờ tiếp một khách lạ,

Tính giờ biết bệnh nặng nhẹ, v.v...

Độn để đi đánh bạc, để làm một việc tà dâm, lẽ tất nhiên đó là bất chính.

các nhà thuật số có nhấn mạnh thêm là quẻ độn muốn được linh ứng người độn phải thành tâm.

NhữNg yẾu Tố ChíNh CầN BiẾT Để ThựC hàNh PhéP ĐộN

cũng như độn lục nhâm, người bấm độn phải biết 12 cung trên bàn tay.

ngoài ra phải thuộc lòng bài thơ sau đây để biết tính khởi tự cung nào tùy theo thời gian bấm độn: chính, cửu tầm ngưu, ngũ nguyệt Kê

nhị, Bát, Tý thượng, Tam, Thất, Trư

Tứ, Lục, Tuất cung, Thập nhất Mão

Thập nhị, Thập nguyệt, Dần cung cư

Trong bài thơ trên, kê tức là cung Dậu, Trư tức là cung Hợi. Và bài thơ xin hiểu như sau:

Tháng Giêng, tháng chín, tính khởi từ cung Sửu Tháng năm, tính khởi từ cung Dậu

Tháng Hai, tháng Tám, tính khởi từ cung Tý Tháng Ba, tháng Bảy, tính khởi từ cung Hợi 210

Mê tín dị đoan

Tháng Tư, tháng Sáu, tính khởi từ cung Tuất Tháng Mười Một, tính khởi từ cung Mão Tháng chạp tính khởi ở cung Dần.

các vị sao trong phép độn - có mười vị sao trong phép tính độn này, cần phải biết để áp dụng: 1. Thiên cương

6. Tổng Khôi

2. Thái Ất

7. Hà Khôi

3. Thăng Quan

8. Đăng Minh

4. Tiểu cát

9. Thuần Hậu

5. Truyển Tổng

10. Đại cát

Tứ tướng. - Đấy là bốn cung trong bàn tay: Tý, ngọ, Mão, Dậu.

các quẻ trong phép độn. - Khổng Minh độn pháp có tất cả 12 quẻ:

Đăng minh lâm Tý - Thuần hậu lâm Mão Đăng minh lâm ngọ - Thuần hậu lâm Dậu Đăng minh lâm Mão - Đại cát lâm Tý

Đăng minh lâm Dậu - Đại cát lâm ngọ

Thuần hậu lâm Tý - Đại cát lâm Mão

Thuần hậu lâm ngọ - Đại cát lâm Dậu

Qua 12 quẻ trên ta thấy rằng, căn cứ của các quẻ là tứ tướng và mỗi quẻ đều mang tên một trong ba vị sao sau cùng của 10 vị sao trong phép độn.

ý Nghĩa Của 12 quẻ

Mỗi quẻ trong phép độn đều có ý nghĩa riêng, và hợp với tùy từng việc của người cầu xin. có quẻ tốt với người này, xấu với người khác vì lẽ tương sinh, tương khắc theo thuyết ngũ hành.

Tứ tướng thuộc các hành:

Tín ngưỡng Việt Nam

Tý thuộc Thủy

ngọ thuộc Hỏa

Mão thuộc Mộc

Dậu thuộc Kim

Ba vị sao mang tên quẻ thuộc các hành: Đăng Minh thuộc Mộc

Thuần hậu thuộc Hỏa

Đại cát thuộc Kim

Khi giải đoán các quẻ phải biết thêm là các vị sao là ứng vào người ngoài để xem phạm vào cung, mà cung là ứng vào ta. nếu hành của người ngoài khắc hành của ta, ấy là quẻ

xấu, còn nếu hành của ta khắc hành của người ngoài, hoặc có sự tương sinh ấy là quẻ tốt.

Thí dụ:

1. Đại cát lâm Mộc.

Đại cát là Kim, Mão là Mộc, Kim khắc Mộc là quẻ xấu.

2. Đại cát lâm ngọ.

Đại cát là Kim, ngọ là Hỏa, Hỏa khắc Kim là quẻ tốt.

Qua mấy điểm trên, ta thấy rằng lẽ tương sinh và tương khắc rất quan trọng đối với Khổng Minh độn pháp.

Dưới đây là ý nghĩa phân tách các quẻ: Đăng minh lâm tý. - Quẻ tốt, có sự tương hợp trong ngoài.

Lúc đầu hơi kém lợi lộc, nhưng càng về sau càng hay.

Đăng minh lâm ngọ. - Quẻ tốt, vạn sự trôi chảy, nhất là đối với các việc xuất ngoại hoặc xuất binh.

Đăng minh lâm mão. - Quẻ tốt về buôn bán giao dịch, cộng tác trong việc làm ăn. Xấu với người bệnh hoặc người bị đáo cung môn thưa kiện.

Đăng minh lâm Dậu. - Quẻ tốt. Thưa kiện thắng, nhưng không phải kiện gian - Bệnh tật mau khỏi. Tuy nhiên xấu nếu tính ra đi hoặc xuất quân.

thuần hậu lâm tý. - Giao dịch không tốt, cầu lợi không thành. Bệnh tật mau khỏi.

Mê tín dị đoan

thuần hậu lâm ngọ. - Tốt cho sự giao dịch, cộng tác - Xấu với kiện tụng và bệnh tật.

thuần hậu lâm mão. - Tốt cho việc thương mại giao dịch.

Xấu cho bệnh tật. Kiện tụng mau xong.

thuần hậu lâm Dậu. - Xấu cho việc kiện tụng, bị thua là chắc. cũng xấu cho việc ra đi và làm ăn giao dịch. người ốm chóng khỏi.

Đại cát lâm tý. - Tốt về mọi phương diện.

Đại cát lâm ngọ. - nội át ngoại. người xa không về. Tốt cho việc kiện tụng và bệnh tật mau khỏi.

Đại cát lâm mão. - Quẻ xấu. Tiền nong bỏ ra bất lợi, đau ốm tăng bệnh, duy cầu công danh có thể thành nếu chịu phí tổn.

Đại cát lâm Dậu. - nội ngoại tương hợp, tốt cho việc giao dịch cộng tác - người xa sẽ về - Xấu với bệnh tật và thưa kiện, lâu khỏi và lâu kết liễu.

CáCh Bấm ĐộN

Sau khi đã hiểu rõ về mọi yếu tố, dưới đây là cách bấm độn. phải căn cứ đầu tiên vào bài thơ đã nêu trên:

- Bắt đầu bấm tháng. Tính xem với tháng hiện tại phải bấm từ cung nào, cung đó là tháng Giêng, rồi theo vòng thuận tính mỗi tháng một cung, cho đến tháng hiện tại thì dừng lại ở cung ấy.

- Sau tháng tính đến ngày. Mồng một bắt đầu từ cung vừa dừng lại, rồi cũng tính thuận mỗi cung một ngày cho đến ngày hiện tại thì dừng lại ở cung ấy.

- Rồi tính đến giờ. Giờ Tý bắt đầu từ cung vừa dừng lại khi tính ngày và cũng tính thuận mỗi giờ một cung cho đến giờ hiện tại thì dừng lại ở cung ấy.

- Sau cùng tính đến các vị sao. Lấy cung giờ làm gốc, lùi lại một cung tính vị sao thứ nhất là sao Thiên cương rồi lần 213

Tín ngưỡng Việt Nam

lượt mỗi vị sao một cung theo vòng thuận. cứ tính mãi cho đến khi một trong ba vị sao sau cùng Đăng Minh, Thuần Hậu, Đại cát sẽ đóng ở một trong Tứ Tướng, tức là các cung Tý, ngọ, Mão, Dậu trên bàn tay. Lúc đó là quẻ đã định. nếu sao Đăng Minh ngừng ở cung ngọ là quẻ Đăng minh lâm ngọ, nếu Đại cát ngừng ở cung ngọ là Đại cát lâm ngọ, v.v...

Quẻ đã định, việc giải đoán sẽ theo như đã trình bày ở trên.

Tục có dặn lại rằng muốn việc bấm độn được linh nghiệm người bấm độn phải tâm thành chú ý vào việc mình cầu.

ngoài, ra việc bấm độn cũng phải dè dặt, chỉ nên bấm độn khi thật ra cần dùng và khi mình thật mong mỏi.

một thí dụ bấm độn

ngày 12 tháng Ba, hồi 9 giờ 30 sáng.

Bắt đầu tính tháng. Theo bài thơ trên, tháng Ba bắt đầu tính từ cung Hợi. Tháng Giêng ở Hợi, tháng Hai ở Tý và tháng Ba ở Sửu.

Thử tính đến ngày. - Bắt đầu tính mồng một từ cung Sửu rồi lần lượt tính đi, ngày 12 vào cung Tý.

Rồi tính đến giờ. - 9 giờ 30 sáng vào giờ Thìn. Bắt đầu tính giờ Tý và cung Tý ở trên, tức là cung của ngày 12, rồi lần lượt tính đi, giờ Thìn vào cung Thìn.

Sau cùng tính đến các vị sao. Từ cung Thìn lùi lại một cung, tức là bắt đầu tính các vị sao từ cung Mão. Sao Thiên cương ở Mão, sao Thái Ất ở Thìn... và sau cùng Đại cát ở

Tý, tức là gặp quẻ Đại cát lâm Tý.

Theo mọi người tin về thuật số thì Khổng Minh độn pháp rất linh nghiệm, đã độn được quẻ tốt, chớ nên chần chừ, nên làm ngay việc định làm.

PhéP xem Ngày KéN giờ Từ xưa Tới Nay Theo các sách Trung Hoa ghi chép lại thì phép chọn ngày bắt đầu từ đời Đường ngu, Tam Đại. Ta chịu ảnh hưởng văn 214

Mê tín dị đoan

hóa Trung Hoa, nên đã theo người Trung Hoa trong việc xem ngày kén giờ.

Về thời Đường ngu, Tam Đại, người ta chỉ tùy việc mà chọn ngày theo nguyên tắc nội sự dụng nhu, ngoại sự dung cương, nội sự là những việc trong nhà như tế tự, cưới xin v.v... nhu là mềm chỉ vào những âm can gồm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. cương là rắn chỉ vào những dương can gồm Giáp, Bính, Mậu, canh, nhâm.

Theo như vậy, những ngày Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thuộc âm, tốt cho những việc trong nhà có tính cách êm ái hòa nhã, còn những ngày Giáp, Bính, Mậu, canh, nhâm thuộc dương, hợp cho những việc bên ngoài có tính cách cứng cáp mạnh mẽ. Việc kén ngày, người xưa cốt lấy ý nghĩa hòa hợp với việc làm, nhưng về sau những nhà âm dương thuật số mỗi ngày một bày đặt thêm ra nào sao, nào trực, nào ngũ hành, nào tam hợp, nào tứ xung v.v...

Hết tính ngày lại kén giờ, nguyên tắc nội sự dụng nhu, ngoại sự dụng cương theo lý hòa hợp âm dương càng ngày càng bị sai lạc và đi tới chỗ dị đoan mê tín.

ngày nay, có những người bất cứ làm một việc gì cũng xem ngày tính giờ, không kể đó là việc quan trọng hay không.

Âm dương phải có sự hòa hợp, người xưa kén ngày tùy theo việc cứng cáp hay êm ái mà định. Dần dần lại thêm lối tính giờ để đoán trước kết quả. người sau theo người xưa định ngày nhưng lại kén cả giờ. nhắc lại những tục này nơi đây, tôi không dám khen chê, tôi chỉ làm công việc ghi lại những phong tục đã có và hiện đang có tại nước nhà.

Viết lên đây những cách thức xem ngày kén giờ, tôi chỉ nêu lên mấy điều sơ lược chính để bạn đọc có thể có được một đôi ý niệm về tục lệ này của ta. Tôi không có ý khuyên ai nên tin hay không nên tin. Việc tín nghi còn tùy người và tùy hoàn cảnh.

cũng như đối với tất cả mọi điều gì của phương Đông có tính cách huyền ảo, việc xem ngày tính giờ tới nay đã được 215

Tín ngưỡng Việt Nam

nhiều người tín ngưỡng chính ở phần huyền ảo thì nhiều mà ở phần thực nhiệm thì ít.

Huyền ảo thì thực thực hư hư, hiểu sao nên vậy, cùng một quẻ, có thể cho là hay cũng như cho là dở được.

cần hiểu để mà biết, cần nghiệm để mà xem, bậc thức giả

đâu có u mê trong những điều huyền hoặc.

Sao Và hạN

Tục ta tin rằng mỗi năm đời mình bị cai quản bởi một vị

sao, có vị lành có vị dữ, tùy theo niên hạn của mình. Gặp các vị sao dữ, người ta phải làm lễ dâng sao giải hạn.

các vị tinh quân thực ra luôn luôn là bảo hộ con người, nhưng vì niên hạn, nên người ta cần phải cúng lễ để nhờ các vị che chở.

Theo các sách được lưu truyền, có tất cả chín vị sao chia nhau cai quản vận mệnh của mọi người, theo tám niên hạn.

chín vị sao là:

1. tHái Dương tinH

Đây là một vị tinh quân soi sáng tỏ rạng khắp nơi. Ảnh hưởng sao này, chủ việc đi làm xa, có của có tiền. Bậc đại nhân được sao này chiếu mạng gặp nhiều điều vui mừng, trong nhà thêm người và muôn sự đều vui vẻ thuận hòa. Sao này không hợp với đàn bà.

Mỗi tháng, ngày 27, sao Thái dương giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy vàng, viết bài vị như sau: nhật cung thái dương thiên tử tinh quân.

phải thắp 12 ngọn đèn, quay về chính tây cúng.

2. tHái âm tinH

Sao này hợp với đàn ông. Kiện thưa tính toán đều được việc. Đàn bà gặp sao này có bệnh hoạn, sinh sản đáng e ngại.

Mê tín dị đoan

Mỗi tháng, ngày 26, sao Thái âm giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy vàng viết bài vị như sau:

nguyệt cung thái âm Hoàng hậu tinh quân.

phải thắp 7 ngọn đèn, quay về phía chính Tây cúng.

3. mộC ĐứC tinH

Gặp sao này đàn ông có bệnh đau mắt, đàn bà e mất huyết.

Hôn nhân hòa hợp, nhà cửa bình an.

Mỗi tháng, ngày 25, sao Mộc đức giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy xanh, viết bài vị như sau: Đông phương giáp ất mộc đức tinh quân.

phải thắp 20 ngọn đèn, quay về phía chính Tây cúng.

4. Hỏa ĐứC tinH

Đây là một hung tinh, thường gọi là tai tinh, gặp sao này chiếu, đàn ông bị bệnh ghẻ lở mụn nhọt; đàn bà sinh sản e mất máu. Đàn ông kiện thưa bất lợi, người trong nhà không yên, lục súc không nuôi được. cần phải hết sức giữ gìn. Hỏa đức tinh quân còn được gọi là sao Vân hán.

Mỗi tháng, ngày 29 sao Hỏa đức giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy đỏ, viết bài vị như sau:

nam phương Bính đinh Hỏa đức tinh quân.

phải thắp 15 ngọn đèn, quay về phía Tây cúng.

5. tHổ ĐứC tinH

Đây cũng là một hung tinh, thường gọi là ách tinh. Ảnh hưởng về tai nạn chẳng yên, trong nhà nhiều chuyện thị phi.

chiêm bao quái lạ. Súc vật nuôi không lợi. chẳng nên đi xa.

Thổ đức tinh còn được gọi là sao Thổ tú.

Mỗi tháng ngày 19, sao Thổ đức giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy vàng viết bài vị như sau:

trung ương mậu kỷ thổ đức tinh quân.

phải thắp 5 ngọn đèn quay về phía chính Tây cúng.

Tín ngưỡng Việt Nam

6. Kim ĐứC tinH

còn gọi là sao Thái bạch. Quý nhân gặp sao này thì gặp việc vui mừng, trong nhà thêm người. Về hôn nhân, cưới gả

nên cẩn thận, có tiểu nhân tìm cách hãm hại.

Mỗi tháng, ngày 15, sao Thái bạch giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy trắng viết bài vị như sau: tây phương Canh tân Kim đức tinh quân.

cũng có thể thay hai chữ Kim đức bằng hai chữ Thái bạch.

phải thắp 8 ngọn nến quay về phía chính Tây cúng.

7. tHủy ĐứC tinH

Sao này còn gọi là phúc lộc tinh. người quân tử gặp rất vui mừng. Đi làm ăn xa có tiền của. Trong nhà thêm người.

Đối với đàn bà hơi bất lợi. nên tránh sóng biển. Thủy đức tinh còn được gọi là sao Thủy diệu.

Mỗi tháng, ngày 21, sao Thủy diệu giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy đen viết bài vị:

Bắc phương nhâm quý thủy đức tinh quân.

phải thắp 7 ngọn đèn, quay về phía chính Tây cúng.

8. la Hầu tinH

Vị sao này còn gọi là Khẩu thiệt tinh. Ảnh hưởng về sự

thưa kiện, thị phi khẩu thiệt, và bệnh đau mắt. Đàn bà sinh nở e ngại, có thể sinh ra quái thai. Đàn ông gặp sao này xấu lắm cũng như đàn bà gặp sao Kế đô. Ta có câu nam La hầu, nữ Kế đô là vì vậy.

Mỗi tháng, ngày mồng 8, sao La hầu giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy vàng viết bài vị như sau: thiên cung thần thủ la hầu tinh quân.

phải thắp 9 ngọn đèn quay về phía chính Bắc mà cúng.

9. Kế Đô tinH

Đây cũng là một vị hung tinh. Đàn bà gặp xấu lắm, bị

khẩu thiệt thị phi. các bực đại nhân cũng chẳng được tốt gì.

Mê tín dị đoan

Lục súc hao tổn. Đối với người đi làm ăn xa còn đỡ, ở trong nhà thì xấu.

Mỗi tháng, ngày 18, sao Kế đô giáng trần. Khi cúng phải dùng giấy vàng viết bài vị như sau:

thiên vỹ Cung phân Kế đô tinh quân.

phải thắp 20 ngọn đèn quay về phía chính Tây cúng.

Tất cả chín vị tinh quân trên chia nhau cai quản con người tùy theo tuổi, mỗi tuổi con người chịu một hạn niên, và trong hạn niên này có chư vị tôn thần của từng hạn niên theo dõi, ban họa phúc cho từng người.

Mỗi năm người ta gặp một vị sao, và sau chín năm lại gặp trở lại vị sao cũ.

cùng một tuổi, trai gái gặp các vị sao khác nhau và do đó hạn niên cũng khác nhau. năm nào đúng tuổi nào thì gặp vị

sao ấy cùng hạn niên của từng năm, không kể năm đó thuộc can, chi nào.

có tám hạn niên, mỗi hạn niên đều có ảnh hưởng tới con người trong niên hạn.

Tám hạn niên là:

1. Hoàng Tuyền: Đại hạn, hao tài, bệnh nặng, mạng gặp dữ.

2. Tam Khiu: Tiểu hạn, mắt đau, người nhức mỏi.

3. ngũ Mộ: Tiểu hạn, hao tiền, tốn của, bệnh hoạn.

4. Thiên Tinh: Bị khẩu thiệt, có kiện thưa.

5. Toán Tận: Đại hạn, hao tài, bệnh tật, thêm nhiều ưu tư.

6. Thiên La: Hạn xấu, tà ma ám ảnh trong nhà.

7. Địa Võng: Tiếng thị phi, có tai họa.

8. Diêm Vương: Hạn xấu, có thể gặp tai họa, có nhiều điều buồn bực.

Qua tám niên hạn trên, không niên hạn nào tốt, như vậy nghĩa là trong một năm ai cũng gặp sự xấu. Tuy nhiên sự xấu này có thể tránh được, và ảnh hưởng của niên hạn cũng không đáng làm cho người ta lo ngại, vì còn ảnh hưởng của các vị

sao, lại còn ảnh hưởng của việc làm của từng người; người 219

Tín ngưỡng Việt Nam

nào lo làm việc phúc đức, người nào chuyên nghĩ đến việc lành thì tai nạn nào cũng qua khỏi và đáng nặng cũng chuyển thành nhẹ. Tám hạn niên lần lượt theo chín vị sao, mỗi hạn niên đều có các chư tôn thần chư vị riêng. Bởi vậy, khi làm lễ dâng sao giải hạn phải cúng cả chư vị tôn thần này. các vị

sao mỗi tháng chỉ giáng trần có một lần vào ngày nhất định ở

trên, muốn cúng phải cúng đúng vào ngày vị sao giáng trần.

Lễ vật cúng gồm hương đăng hoa quả. Tùy mỗi vị sao, dùng giấy màu thích hợp làm bài vị, thắp số đèn hoặc nến đúng của từng vị, rồi lấy hướng mà cúng.

Trên bài vị, ngoài việc ghi danh hiệu đức tinh quân, phải có ghi cả chư vị tôn thần hạn niên.

Thí dụ:

Cung thỉnh

nhật Cung thái Dương thiên tử tinh quân toán tận tôn thần Chư vị.

Dâng SaO giải Hạn

Để tiện giúp các bạn hiểu cúng sao, xin chép dưới đây, nghi thức và những bài khấn lễ đã được ghi trong các sách Lịch phật của một vài môn phái phật giáo.

Sau khi đã đặt bàn thờ đúng hướng của vị sao, đốt ba nén hương, quỳ trước bàn thờ niệm:

Đệ tử lòng thành đốt nén hương,

Cầu xin Phật thánh giải tai ương.

giúp trong lê thứ đều khang hảo.

gia nội nhân nhân đắc cát tường.

niệm xong, cắm hương lên bàn thờ, lễ ba lễ, quỳ khấn tiếp:

việt nam quốc

.............. Chỗ ở.........

tôi tên họ là...

Mê tín dị đoan

niên canh ............. (tuổi gì)

....................... (mấy tuổi) năm nay gặp vận

tinh quân hạn thần

........................................