Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 10

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Trịnh Lệ công mới làm vua được hai năm thì bày tôi là Sái Túc làm loạn đánh đuổi đi để tôn công tử Hốt làm vua.

Về sau công tử Hốt bị giết, công tử Vi được lập thay, nhưng công tử Vi cũng lại bị giết và Sái Túc lập công tử nghi lên.

Hồi đó kinh thành nước Trịnh bỗng nhiên có một chuyện rất lạ: phía trong cửa nam có một con rắn dài tám thước, đầu xanh đuôi vàng, phía ngoài cửa lại có một con rắn dài hơn một trượng đầu đỏ đuôi xanh. Hai con rắn ấy đánh nhau trong ba ngày đêm không phân hơn thua, người xem rất đông nhưng không ai dám đến gần.

Đến ngày thứ 17 con rắn trong chết, con rắn ngoài vào thành chạy thẳng đến nhà Thái Miếu thì biến mất.

Trịnh Lệ công nghe chuyện lạ, nói với Tân Vu Vô, tướng nước Tề có nhiệm vụ mang quân giúp Lệ công.

Tần Vu Vô đoán là điềm Trịnh Lệ công sẽ khôi phục được ngôi vua và giải thích như sau:

con rắn ở ngoài là Lệ công, con rắn ở trong là công tử

nghi. công tử nghi là em nên con rắn trong ngắn hơn con rắn ngoài. Mười bảy ngày là mười bảy năm Lệ công đi trốn.

con rắn trong chết là công tử nghi chết, con rắn ngoài là Lệ

công chạy vào nhà Thái Miếu tức là khôi phục được ngôi vua.

Lời Tân Vu Vô đoán đã ứng nghiệm và Trịnh Lệ công đã khôi phục được ngôi vua.

Tín ngưỡng Việt Nam

Bọn thợ cày nước vệ cho đất tấn văn Công.

nước Tấn loạn, công tử Trùng nhĩ phải bỏ nước đi trốn.

Khi đi qua nước Vệ bị vua Văn công cấm không cho vào thành. Trùng nhĩ và bọn bày tôi tòng vong phải vòng ngoài thành mà đi, lương thực hết không biết lấy gì ăn.

Một hôm mấy thầy trò đi đến đất ngư Lộc, thấy bọn thợ

cày ngồi ăn cơm trên bờ ruộng, Trùng nhĩ sai một bày tôi là Hồ Yển đến xin cơm.

Bọn thợ cày không cho và nói:

- các người khỏe mạnh thế kia, không đi làm gì mà ăn được lại phải đi ăn xin. chúng ta đi cày ruộng có ăn no mới làm nổi việc, còn cơm đâu mà cho các người.

Hồ Yển nói:

- các ngươi không cho ta cơm thì cho ta xin một cái bát.

Bọn thợ cày này mới chơi nghịch, cầm một nắm đất đưa cho mà bảo rằng:

- nắm đất này đem nặn làm bát được.

Trùng nhĩ và bọn bày tôi đều tức giận. Trùng nhĩ giơ roi toan đánh người thợ cày. Hồ Yển ngăn lại và nói:

- Được cơm thì dễ chứ được đất thì khó! Được đất tức là cái triệu được nước. Đó là chẳng qua cũng là Trời mượn tay người thợ cày để cho công tử thấy, sao công tử lại giận.

công tử nên nhận lấy.

Trùng nhĩ nghe lời nhận nắm đất của người thợ cày.

Về sau quả nhiên Trùng nhĩ lấy lại được nước Tấn và làm vua tức là vua Tấn Văn công.

những điềm báo trước cái chết của Đổng trác.

Đổng Trác là một tên gian thần nhà Hán, lộng quyền ức hiếp nhà vua giết hại quần thần nên triều thần ai cũng oán ghét.

Vương Doãn, quan Tư đồ triều Hán sau bày mưu giết Đổng Trác.

Đổng Trác khi đó đang ở Mi Ổ được Vương Doãn giả làm chiếu chỉ nhà vua vời về kinh đô nhường ngôi.

Mê tín dị đoan

Trong khi đi từ Mi Ổ tới kinh đô, xe tự nhiên gẫy bánh và ngựa lồng đứt dây cương. Rồi trời tự nhiên cũng nổi cơn giông.

Trước những điềm lạ đó, Trác hỏi thì tả, hữu đã đồng mưu với Vương Doãn, đều tìm cách giải thích cho vừa ý Trác. Khi Đổng Trác về triều thì bị giết.

mây ngũ sắc và ngụy văn Đế.

ngụy Văn Đế chính tên là Tào phi là con trưởng Tào Tháo.

Lúc sinh ra phi, trên mái nhà có một đám mây ngũ sắc tròn như tàn lọng, phủ cả một ngày không tan.

có người trông thấy đã nói:

- Đây là khí thiên tử.

Quả nhiên về sau Tào phi cướp ngôi của vua Hiến Đế nhà Hán lập ra ngụy Triều.

mây vàng phủ đồi thông làng Bích Câu, huyện thọ Xương.

Trong tác phẩm Duyên Bích câu của nhà văn nguyễn Xuân Huy, viết lại “Bích câu Kỳ ngộ” đã thuật truyện đồi thông làng Bích câu có mây vàng như tơ chín phủ um tùm che lấp cả đồi. Và đó là điềm trong làng có trạng.

Đồi thông có phủ mây vàng,

Là điềm có trạng ở làng Bích câu.

Khoa thi năm ấy quả nhiên một người làng Bích câu đã đỗ Trạng nguyên, chính là Tú Uyên.

Chú chém cháu, cháu nhảy xuống sông, con rồng nó đỡ.

Dã sử về vua Đinh Tiên Hoàng có kể lại rằng: Thuở nhỏ vua Đinh Tiên Hoàng ở chăn trâu với ông chú.

Một hôm cậu ta giết trâu của chú để thết đãi bạn mục đồng đã cùng cậu ta tập trận cờ lau.

Ông chú biết chuyện, giận quá, cầm dao muốn chém. cậu bé sợ quá chạy nhảy xuống sông. Ở dưới sông một con rồng vàng nổi lên đỡ cậu ở trên lưng.

Ông chú thấy vậy sợ hãi chắp tay lạy, biết rằng cháu mình sau này sẽ có sự nghiệp.

Tín ngưỡng Việt Nam

con rồng ứng vào điềm cậu bé ấy làm vua và thống nhất đất nước.

Điềm gở Điềm hay Theo Tây PhươNg

Từ trên các bạn đã đọc những điều gọi là mê tín của nước ta, tức là của Á Đông, mặc dầu trong nhiều sự mê tín vẫn có sự giải thích được theo khoa học nhất là về chiêm đoán và chiêm nghiệm.

Dưới đây xin trích trong tuần báo Đàn Bà số 138 ra ngày 16-1-1942 về những điều mê tín của Tây phương nhan đề là

“Điềm Gở Điềm Hay”.

Qua bài này ta thấy rằng Đông phương và Tây phương thật đã có nhiều chỗ gặp nhau:

“Dân tộc nào cũng có sự mê tín, tin điềm này gở điềm nọ

hay, không phải rằng cứ mê tín là dở là ngu muội”. có nhiều sự mê tính rất duyên dáng, thú vị tỉ như các cụ ta thấy điềm hoa đèn, điềm đom đóm vào nhà là có sự mừng, chim khách là báo quý khách đến nhà v.v...

“Bây giờ chúng ta bĩu môi với những sự mê tín của các bà mẹ ta, nhưng cũng có lúc một người đàn bà phóng khoáng đến đâu, tâm hồn cứng cỏi đến đâu cũng chột dạ khi lỡ tay đánh vỡ một chiếc gương soi. như vậy đủ chứng tỏ rằng không phải chỉ ngu tối cổ sơ, ta mới mê tín. Ta mê tín ấy là tại lòng ta lúc nào cũng nơm nớp lo sợ giữ gìn hạnh phúc, thấy điềm tốt thì mừng, điềm dở thì lo.

“Và trong sự giữ gìn hạnh phúc bao giờ người đàn bà cũng cẩn thận hơn đàn ông nên cố nhiên đàn bà hay mê tín hơn đàn ông.

“Dưới đây chúng tôi thuật ít nhiều điều mê tín của Tây phương rất giống của ta và rất có ý nghĩa.

Mê tín dị đoan

Họ tin rằng:

“nếu buổi sáng gặp một con mèo ngoan ngoãn thì cái ngày hôm ấy rất bình thường êm ả, không xấu không tốt. nếu gặp mấy chú mèo quần nhau thế nào cũng bị cái vạ miệng: phải cẩn thận lời ăn tiếng nói.

“Về nhà quê hay ra vườn gặp con chim chích chòe, có sự

không hay hoặc thất vọng. Hãy quay tay, hãy chổng mông lại phía nó, điềm gở sẽ tiêu tan.

“chó lạ vào nhà mình hay thấy mình mà quấn quít; kẻ yêu mình rất chung tình. (Ta cũng tin mèo vào nhà thì khó, chó vào nhà thì giầu).

“có đàn chim yến bay qua cửa sổ, sẽ có một bất ngờ rất tốt lành đến với ta.

“chim làm tổ trên nóc nhà đang ở, điềm rất tốt, không nên rời xa cái nhà đó.

“Một con bướm đậu trên mái tóc, điềm hay, nếu là con gái sắp có tân lang đến hỏi.

“con chó lại gần chỗ mình ngủ, đầu gối lên chân mình: đại cát.

“Đã hết mùa hồng mà trong vườn vẫn còn một đóa hồng nở, nhất là đóa hồng ấy là hồng mầu sẫm, thế nào cũng được may mắn trên đường tình ái.

“Được người biếu đóa hoa tím đầu mùa hay cuối mùa, điềm tốt.

“Đứa trẻ con biếu mình đóa hoa mầu vàng: nên cẩn thận chớ tin lời phỉnh nịnh.

“chớ để hoa lên giường sợ người nằm trên giường ấy sẽ

bị ốm đau.

“Đánh vỡ chiếc lọ đựng hoa, người nào biếu ta chiếc lọ

ấy hay nếu chính ta mua, thì người ấy hay ta sắp gặp một sự phiền lòng.

“Ai biếu ta hoa quả: rất tốt.

Tín ngưỡng Việt Nam

“Ra khỏi cửa gặp một nữ tu được hạnh phúc lâu dài.

“Gặp một anh gù có bướu sau lưng sẽ được mọi sự như ý.

nếu có cách mà rờ lên được cái bướu của chàng ta càng tốt lắm; nhưng nếu lỡ gặp một người đàn bà có bướu thì thôi hết cả mọi sự may mắn.

“Làm cho người già cả phải rơi lụy: điềm gở.

“Một người ăn mày chìa tay tươi cười xin ta làm phúc: hạnh ngộ.

“Ai nguyền rủa ta điều gì, ta nên nói lại bảy lần; “ta không cần!” thì sự nguyền rủa cho ta không vận vào ta được.

“Đánh vỡ một chiếc gương: điềm gở, cốt nhục ly thân; nhưng vất ngay những mảnh gương vỡ xuống sông hay đập vỡ luôn một chiếc gương khác, điềm gở sẽ tiêu tan.

“Đánh vỡ hay đánh mất một món đồ vật gì ta có trong lúc cơn đen vận túng: rất tốt, thời vận đen đã hết, từ nay bắt đầu làm ăn dễ chịu.

“Đánh vỡ cốc: rất tốt. nếu đầy tớ đánh vỡ cả một mâm chén đĩa: đừng mắng, điềm đại cát.

“Đánh đứt chuỗi hạt trai hay hạt ngọc đeo trên cổ, nên mau mau tìm cho đủ hạt. Thiếu bao nhiêu hạt là bấy nhiêu sự không may xảy ra cho ta.

“Đánh rơi đi rơi lại mãi một món đồ vật trong một ngày: nỗi buồn rầu chưa hết, vẫn đeo bám theo đuổi ta.

“Đánh rơi con dao, lưỡi dao cắm phập vào mặt bàn, ta sắp có cơn thịnh nộ ghê gớm.

“Đang chải áo đánh rơi bàn chải hai ba lần: có người mếch lòng vì ta.

“Đánh đổ lọ mực: có sự phiền muộn thoáng qua.

“Đang ngồi ghế mà ngã: điềm đang có người âm mưu lừa dối ta. ngã mà không đau đớn gì: điềm ta sẽ thắng tất cả kẻ địch.

“Một bức ảnh lồng kính rơi: nếu không sao cả, việc gì làm cũng được viên thành. nếu kính vỡ: có việc mừng.

Mê tín dị đoan

“nếu khung ảnh lệch lạc dập vỡ: điềm xấu.

“Đánh vãi muối ra bàn: có sự cãi nhau, nhưng lấy ngay ba dúm muối ném qua vai thì điềm xấu sẽ mất.

“Bắt được chùm chìa khóa: nên giữ lấy, rất tốt.

“Đánh mất món nữ trang thường dùng: có sự không hay.

“Bắt được đồ nữ trang, dù xoàng xĩnh cũng rất tốt.

“Đánh mất chiếc mùi soa: chớ nên tin người yêu quá.

“Ai biếu ta chiếc mùi soa hay cái kéo con dao, ta nên trả

lại cho họ một xu hay một chiếc ghim, nếu không người cho kẻ nhận sẽ có sự xích mích nhau.

“Đốt ngay sợi tóc bạc đầu tiên trên đầu ta, về già ta sẽ

thanh nhàn sung sướng.”

Bói ToáN

Bói toán theo định nghĩa “Tự điển Việt nam phổ Thông”

của Đào Văn Tập là dò xem tương lai bằng phép bói.

Bói do chữ bốc chuyển nghĩa ra. Bói có nhiều cách. Bói bằng mõ rùa gọi là bốc, bói bằng cỏ thì gọi là phệ. Lại còn cách xem ngày kén giờ, tính theo can chi, ngũ hành.

Xem tướng cũng là một cách bói.

các nhà thuật số cho rằng việc bói toán chính là phép mầu nhiệm, biến hóa huyền vi, cho nên kinh chu dịch là sách bói toán, mà đức Khổng Tử dạy rằng “Dịch là biến dịch”. nghĩa là dương biến âm, âm biến dương, cát biến hung, hung biến cát, tương thể đều biến hóa không chừng(1).

NgŨ hàNh

Trong việc bói toán, để đoán quẻ cần phải biết nhiều yếu tố nhưng có thể nói rằng những yếu tố chính là ngũ

hành tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, vì mọi yếu tố

1. Huyền Mạc đạo nhân - Tướng, Mạng, Mộc, Bốc, tr.48.

Tín ngưỡng Việt Nam

khác đều qui vào ngũ hành cả, mặc dầu phải theo lẽ âm dương biến hóa.

Can, Chi với ngũ Hành

có thập can nên gọi là Thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, canh, Tân, nhâm, và Quý.

có thập nhị chi gọi là Địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão (Mẹo), Thìn, Tỵ, ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Trong thập can thì:

Giáp, Ất thuộc Mộc

Bính, Đinh thuộc Hỏa

Mậu, Kỷ thuộc Thổ

nhâm, Quý thuộc Thủy

canh, Tân thuộc Kim

Trong thập nhị chi thì:

Dần, Mão, Thìn thuộc Mộc

Tỵ, ngọ, Mùi thuộc Hỏa

Thân, Dậu, Tuất thuộc Kim

Hợi, Tý, Sửu thuộc Thủy

ngoài ra bốn chi Thìn, Mùi, Tuất, Sửu nói về sự đơn thì thuộc Thổ.

BốN mùa Và BốN PhươNg Với CaN, Chi Và NgŨ hàNh Một năm có bốn mùa là Xuân, Hạ, Thu, Đông, và trời đất chia làm bốn phương là Đông, Tây, nam, Bắc.

Trong thập can thì:

Giáp, Ất là phương Đông thuộc Mộc

Bính, Đinh là phương nam thuộc Hỏa

Mậu, Kỷ là trung ương thuộc Thủy

canh, Tân là phương Tây thuộc Kim

nhâm, Quý là phương Bắc thuộc Thổ

Mê tín dị đoan

Trong thập nhị chi thì:

Dần, Mão, Thìn là phương Đông,

coi mùa Xuân, thuộc Mộc

Tỵ, ngọ, Mùi là phương nam,

coi mùa Hạ, thuộc Hỏa

Thân, Dậu, Tuất là phương Tây,

coi mùa Thu, thuộc Kim

Hợi, Tý, Sửu là phương Bắc,

coi mùa Đông, thuộc Thủy

ngoài ra bốn chi Thìn, Mùi, Sửu, Tuất, nói về sự đơn là bốn phương bằng: Đông Bắc, Tây Bắc, Đông nam, Tây nam coi về bốn tháng quý:

tháng Ba, Quý Xuân

tháng Sáu, Quý Hạ

tháng chín, Quý Thu

tháng chạp, Quý Đông

như trên đã nói, trong trường hợp này, bốn chi này thuộc Thổ

âm, dươNg Và CaN, Chi

Mọi việc biến hóa trong phép bói toán đều do lẽ âm dương chi phối. Trong các hàng can, chi cũng phân ra âm và dương.

Trong thập can thì:

Giáp, Bính, Mậu, canh, nhâm thuộc Dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thuộc Âm.

Trong thập nhị chi thì:

Tý, Dần, Thìn, ngọ, Thân, Tuất thuộc Dương; Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thuộc Âm.

Xung và Hợp giữa can chi đối với ngũ hành.

Trong thập can cũng như trong thập nhị chi, có những can hợp nhau, có những chi hợp nhau, cũng như trái lại có những can và những chi xung nhau.

Tín ngưỡng Việt Nam

năm can hợp nhau và biến hóa ngũ hành: Giáp hợp với Kỷ hóa Thổ.

Ất hợp với canh hóa Kim.

Bính hợp với Tân hóa Thủy.

Đinh hợp với nhâm hóa Mộc.

Mậu hợp với Quý hóa Hỏa

Sáu chi hợp nhau thuộc ngũ hành:

Tý hợp với Sửu thuộc Thổ.

Dần hợp với Hợi thuộc Mộc.

Mão hợp với Tuất thuộc Hỏa.

Thìn hợp với Dậu thuộc Kim.

Tỵ hợp với Thân thuộc Thủy.

ngọ hợp với Mùi; ngọ là Thái Dương, Mùi là Thái Âm.

ngoài sáu chi trên hợp hai một với nhau gọi là lục hợp, các chi còn lại hợp nhau ba một gọi là tam hợp: Thân, Tý, Thìn thuộc Thủy.

Hợi, Mão, Mùi thuộc Mộc.

Dần, ngọ, Tuất thuộc Hỏa.

Tỵ, Dậu, Sửu thuộc Kim.

có các chi hợp nhau, cũng có các chi xung nhau. Sáu chi xung, xung hai một, gọi là Lục xung: Tý xung với ngọ.

Sửu xung với Mùi.

Dần xung với Thân.

Mão xung với Dậu.

Thìn xung với Tuất.

Tỵ xung với Hợi.

ngoài Lục xung, còn có Tứ hành xung, bốn chi một, xung lẫn nhau:

Tý, ngọ, Mão, Dậu.

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Dần, Thân, Tỵ, Hợi.

Mê tín dị đoan

các chi ngoài sự hợp xung, còn Lục hại: Tý với Mùi hại nhau.

Sửu với ngọ hại nhau.

Thân với Hợi hại nhau.

Dậu với Tuất hại nhau.

Dần với Thìn hại nhau.

Mão với Tỵ hại nhau.

NgŨ SắC Với NgŨ hàNh, Tứ Thời, Tứ PhươNg Và 12 Chi.

Theo tục bói toán, các màu sắc được phân làm năm sắc chính là Hồng, Hoàng, Lam, Bạch, Hắc.

Hồng thuộc Hỏa, Tỵ, ngọ, Mùi, mùa Hạ và phương nam.

Hoàng thuộc Thổ, bốn chi vị đơn (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), bốn tháng quý và bốn phương bàng hay là Trung ương.

Lam thuộc Mộc, Dần, Mão, Thìn, mùa Xuân và phương Đông.

Bạch thuộc Kim, Thân, Dậu, Tuất, mùa Thu và phương Tây.

Hắc thuộc Thủy, Hợi, Tý, Sửu, mùa Đông và phương Bắc.

NgŨ hàNh TươNg SiNh Và TươNg KhắC

cũng như các can chi, có các hành xung nhau gọi là tương khắc, và lại có các hành hợp nhau gọi là tương sinh.

ngũ hành tương sinh là:

Kim sinh Thủy,

Thủy sinh Mộc,

Mộc sinh Hỏa,

Hỏa sinh Thổ.

Thổ sinh Kim.

ngũ hành tương khắc là:

Kim khắc Mộc,

Tín ngưỡng Việt Nam

Mộc khắc Thổ,

Thổ khắc Thủy,

Thủy khắc Hỏa,

Hỏa khắc Kim.

NgŨ hàNh Và CáC TrựC.

có 12 Trực, mỗi Trực có tính chất riêng, và có một số

tuổi thuộc mỗi trực. Mỗi trực lại thuộc các hành khác nhau.

Trực Kiên thuộc Thổ gồm các tuổi Ất Sửu, Giáp Tuất, Quý Mùi, nhâm Thìn và Bính Thìn.

Trực Trừ thuộc Thủy gồm các tuổi nhâm Dần, Đinh Tỵ, Quý Tỵ, canh Thân và Ất Hợi.

Trực Mãn thuộc Thổ gồm các tuổi Mậu Tý, Quý Mão, Bính ngọ, canh ngọ và Tân Dậu.

Trực Bình thuộc Thủy gồm các tuổi Kỷ Sửu, canh Thìn, Đinh Mùi, Tân Mùi và Mậu Tuất.

Trực Định thuộc Mộc gồm các tuổi Bính Dần, Tân Tỵ, Giáp Thân, Mậu Thân và Kỷ Hợi.

Trực chấp thuộc Hỏa gồm các tuổi Quý Sửu, Giáp Thìn, Ất Mùi, Bính Tuất và nhâm Tuất.

Trực phá thuộc Hỏa gồm các tuổi nhâm Tý, Đinh Mão, Giáp ngọ, Ất Dậu và Kỷ Dậu.

Trực nguy thuộc Thủy gồm các tuổi canh Dần, Ất Tỵ, nhâm Thân, Đinh Hợi và Quý Hợi.

Trực Thành thuộc Kim gồm các tuổi Bính Tý, canh Tý, Tân Mão, Mậu ngọ và Quý Dậu.

Trực Thâu thuộc Thủy gồm các tuổi Đinh Sửu, Tân Sửu, Mậu Thìn, Kỷ Mùi và canh Tuất.

Trực Khai thuộc Kim gồm các tuổi Giáp Dần, Mậu Dần, Kỷ Tỵ, Bính Thân và Tân Hợi.

Mê tín dị đoan

Trực Bế thuộc Kim gồm các tuổi Giáp Tý, Ất Mão, Kỷ

Mão, nhâm ngọ và Đinh Dậu.

ý Nghĩa Của 12 TrựC

như trên đã nói, mỗi trực có một tính chất riêng, do đó ý nghĩa của 12 trực khác nhau. Dưới đây là sơ lược tính chất của mỗi trực.

Trực Kiên: Khô khan, người thuộc trực này gian nan, thân lập thân, nhưng suốt đời không nhà cửa.

Trực Trừ: Thật thà, người thuộc trực này không được nhờ

bà con, không có bạn tốt, số phận lao đao, đàn ông còn được vinh hoa, đàn bà khó nuôi con.

Trực Mãn: Khôn ngoan, trí tuệ. - con cái dễ nuôi, bạn bè tốt. phúc đức nhiều.

Trực Bình: Thông minh, kín đáo. - Khéo léo giao thiệp.

người ngoài quý mến.

Trực Định: nết na, được hưởng lộc của mẹ cha. nhân từ, đức hạnh. - Thanh liêm - Ôn hòa - nhân duyên tự mình kén lấy.

Trực chấp: nóng tính - Đàn ông rộng rãi - Đàn bà hẹp lượng.

Trực phá: Lao đao, lo âu - phải tha phương cầu thực.

Trực nguy: nhiều lo nghĩ - phải Bắc nam bôn tẩu. Đàn bà tốt, đàn ông kém.

Trực Thành: Yên vui - Giàu sang - Đàn ông lịch sự - Đàn bà buồn vui thất thường.

Trực Thâu: Long đong vất vả.

Trực Khai: Long đong tứ bề - Đàn ông vui vẻ. Đàn bà hay gây lộn với chồng.

Trực Bế: Tốt. Thi cử đỗ đạt.

các tính chất của các trực trên là chỉ về người, còn mỗi ngày cũng đều chịu ảnh hưởng của một trực, và tùy từng trực, hàng ngày có công việc nên làm hay không nên làm.

ngày Trực Kiên: Tốt cho các việc thi ơn huệ, trồng cây cối.

Tín ngưỡng Việt Nam

Xấu cho các việc chôn cất, đào giếng, lợp nhà.

ngày Trực Trừ: Tốt cho các việc trừ phục, cúng giải, cạo đầu.

Xấu cho các việc xuất vốn, hội họp, châm chích.

ngày Trực Mãn: Tốt cho các việc xuất hành, sửa kho, dựng nhà, mở tiệm.

Xấu cho các việc chôn cất, thưa kiện, xuất vốn, nhậm chức.

ngày Trực Bình: Tốt cho các việc rời bếp, thượng lương, làm chuồng lục súc.

Xấu cho các việc khai trương, xuất nhập tài vật, giá thú, động thổ.

ngày Trực Định: Tốt cho các việc giao dịch, buôn bán, làm chuồng lục súc, thi ơn huệ.

Xấu cho các việc xuất hành, thưa kiện, châm chích, an sàng.

ngày Trực chấp: Tốt cho các việc tạo tác, sửa giếng, thu người làm.

Xấu cho các việc xuất nhập vốn liếng, khai kho, an sàng.

ngày Trực phá: Tốt cho các việc dỡ nhà, phá vách, ra đi.

Xấu cho các việc mở cửa hàng, may mặc, sửa kho, hội họp.

ngày Trực nguy: Tốt cho các việc cúng lễ, may mặc, từ tụng.

Xấu cho các việc hội họp, châm chích, giá thú, làm chuồng lục súc, khai trương.

ngày Trực Thành: Tốt cho các việc nhập học, giá thú, may mặc, thượng lương.

Xấu cho các việc kiện tụng, mai táng, châm chích, di cư.

ngày Trực Thâu: Tốt cho các việc khai trương, lập kho vựa, giao dịch, may mặc.

Xấu cho các việc an táng, giá thú, nhậm chức, xuất nhập tài vật.

ngày Trực Khai: Tốt cho các việc làm nhà, động thổ, làm chuồng gia súc, giá thú, đào giếng.

Xấu cho các việc giao dịch, châm chích, trồng tỉa.

ngày Trực Bế: Tốt cho các việc làm cửa, thượng lương, giá thú, trị bệnh.

Mê tín dị đoan

Xấu cho các việc nhậm chức, châm chích, đào giếng, kiện thưa.

Ảnh hưởng mỗi trực đối với mỗi ngày còn tùy thuộc các vị sao của những ngày này, và cũng còn tùy thuộc vào giờ

khởi sự công việc. Do đó ta mới có tục xem ngày kén giờ.

NgŨ ĐẾ

Tục ta tin rằng có năm vị hoàng đế chi phối về phần thiêng liêng của con người trên thế gian. Và người nào thuộc ảnh hưởng vị Hoàng đế nào là con vị Hoàng đế ấy thác sinh xuống cõi trần.

năm vị hoàng đế đó là:

Hoàng Đế, Thanh Đế, Hắc Đế, Xích Đế và Bạch Đế.

Ảnh hưởng của ngũ đế với con người rất được tục tin tưởng.

Theo các nhà thuật số, ảnh hưởng đó như sau: COn ông HOàng Đế:

những người mệnh Thổ.

phụ nữ chịu ảnh hưởng của Hoàng Đế người mảnh khảnh, tính nết đoan trang, ngôn ngữ rành rẽ, cần kiệm siêng năng, nhưng ít bạn bè. Thương chồng thương con, chung thủy. Sinh đẻ dễ dàng, nuôi con dễ, nuôi lục súc cũng tốt. Tóc nhiều, đen lánh và cứng.

nam nhi chịu ảnh hưởng của ông Hoàng Đế người sức vóc to lớn mạnh mẽ, cương quyết và có khi hung tợn, tính khẳng khái, nói to, hành động mau lẹ. Thích chiến đấu, chỉ

huy nhưng ngang tàng, thiếu nhã nhặn tuy rất thành thật.

Tướng cao, đầu vuông, cổ tròn, ngón tay bàn tay đều to lớn.

COn ông tHanH Đế:

những người mệnh Mộc.

phụ nữ chịu ảnh hưởng của Thanh Đế người mảnh mai, da trắng, môi son, bàn tay mềm mại, ngón tay búp măng, mũi 179

Tín ngưỡng Việt Nam

dọc dừa, đi đứng tề chỉnh, nói năng nghiêm trang, người bình tĩnh, vui buồn không lộ ra ngoài. nhiều người ưa tu hành lễ

bái. Lo việc nội trợ, cặm cụi tỉ mỉ, biết thêu thùa may vá, biết trang trí tranh ảnh, không ưa sự náo nhiệt.

nam nhi chịu ảnh hưởng của Thanh Đế hình dáng cũng mảnh dẻ, tính tình hòa nhã, điềm đạm, giàu tư tưởng thích cảnh an nhàn tĩnh mịch, ưa văn chương mỹ thuật, có tín ngưỡng.

con ông Thanh Đế, dù nam hay nữ, nếu chịu ảnh hưởng xấu thì dễ bị sự cám dỗ sa ngã, đàn ông sinh quỷ quái, lừa đảo, gian ngoa; đàn bà thì trụy lạc.

COn ông HắC Đế:

những người mệnh Thủy.

chịu ảnh hưởng của Hắc Đế nam cũng như nữ nước da đen, tay chân thô kệch, nói năng chậm chạp, ăn ở đạm bạc không ưa xa hoa hào nháng bề ngoài, răng dài, tóc cứng. Siêng năng, cần mẫn, trung hậu, giàu lòng hy sinh. Hiền đức và chân thật nên thường bị thất bại, lường gạt. Ít gặp may mắn.

phụ nữ ưa thanh tịnh, sùng lễ bái. Đàn ông xã giao kém, nói năng thiếu khéo léo nhiều khi như thô bỉ. Không muốn dính tới việc của người khác. Vì quá thành thật, nên nhiều khi bị bức bách họ đã trở nên hung ác.

nếu nam nhi đã được thành công trên lĩnh vực nào là do sự nhẫn nại và chịu đựng, do sự siêng năng và cương quyết, nhất là trên lãnh vực văn nghệ và mỹ thuật.

COn ông XíCH Đế:

những người mệnh Hỏa.

chịu ảnh hưởng của Xích Đế, người hơi mập, nước da đen, đôi mắt sáng ngời, tiếng lớn mà thanh, đầu lớn, trán rộng, miệng rộng. Tính tình trầm tĩnh, hay dè dặt lại nhiều tự ái.

Mê tín dị đoan

Sống lâu, đời bình thản ít tai nạn, giàu chậm nhưng bền, gặp khó khăn dễ vượt qua. nhân từ bác ái, có đức tự tin.

phụ nữ là những người vợ hiền, tài nội trợ, sinh đẻ dễ, ít ốm đau, cần kiệm, giản dị. Tha thiết với gia đình. Tin quỷ

thần, hiếu nghĩa.

Đàn ông mến yêu vợ, không chơi bời, đối với phụ nữ có thái độ nghiêm trang. Tính tình ngay thẳng, không kiêu hãnh.

COn ông BạCH Đế:

những người mệnh Kim.

chịu ảnh hưởng của Bạch Đế người nhỏ nhưng đều đặn cân đối, mặt mũi đối xứng, da trắng mắt sáng, môi đỏ, tiếng nói thanh, trông người rất đáng ưa.

phụ nữ lãnh đạm với ái tình, thường lợi dụng ân tình của kẻ khác để kiếm tiền bạc, tiền bạc hơn tình cảm. Ưa giàu sang quyền quý, lúc nào cũng muốn có một sự nghiệp lớn, địa vị cao.

Đàn ông khôn ngoan, giao dịch khéo léo, có kiên tâm trong công việc làm ăn.

Dù nam hay nữ, gặp hoàn cảnh thuận tiện có thể trở nên đại thương gia, đại kỹ nghệ gia, trạng sư, bác sĩ.

Và nếu trường hợp đưa tới, con người sẽ rất xảo trá, quỷ

quyệt, gian lận, trai trăng hoa gạt gái, ăn chơi phóng đãng, thụt két, nhiều vợ. Trai cũng như gái đều thiếu chung tình.

Từ trên đã nói tới một cách đại cương, phần lớn những yếu tố cần thiết để có thể biết mà đoán quẻ trong việc bói toán.

Bói toán có nhiều cách, ở đây xin nêu qua mấy cách thường dùng để bạn đọc có một đôi ý niệm về việc bói toán của phương Đông.

người ta vẫn bảo bói toán là mê tín dị đoan, nhưng cũng có người cho bói toán là huyền ảo biến hóa vô cùng vô cực, người tầm thường không thể thấu hết được.

Tín ngưỡng Việt Nam

Hai ý kiến trên, ý kiến nào đúng hay sai còn tùy từng người. Ở đây tôi chỉ nhắc lại việc bói toán vì bói toán đã xâm nhập vào phong tục Việt nam ta, mà không có một ý kiến phê phán nào.

Cân Xương tínH Số

Đây là cách lấy năm tháng ngày giờ sinh của mỗi người rồi tổng cộng với nhau, để xem nặng nhẹ bao nhiêu.

Số thành này các thầy tướng số gọi là cân xương nặng nhẹ.

Khi biết số xương nặng nhẹ rồi thì truy theo quẻ mà đoán, mỗi số lượng nặng nhẹ từ 2 lạng 2 đồng cân là số lượng tối thiểu đến 7 lạng 1 đồng cân là đối đa, mỗi số lượng có một quẻ riêng. Trước hết phải biết số nặng nhẹ, của năm, tháng, ngày, giờ.

Số lượng Của năm:

Giáp Tý:

2 lạng 1 đồng cân

Bính Tý: 1 lạng 6 đồng cân

Mậu Tý:

1 - 5

canh Tý: 0 - 7

nhâm Tý: 0 - 5

Ất Sửu:

0 - 9

Đinh Sửu: 0 - 8

Kỷ Sửu:

0 - 8

Tân Sửu: 0 - 7

Quý Sửu: 0 - 5

Bính Dần: 0 - 6

Mậu Dần: 0 - 8

canh Dần: 0 - 9

nhân Dần: 0 - 9

Giáp Dần: 1 - 2

Đinh Mão: 0 - 7

Kỷ Mão: 1 - 9

Tân Mão: 1 - 2

Quý Mão: 1 - 2

Ất Mão:

0 - 8

Mậu Thìn: 1 - 2

canh Thìn: 1 - 2

nhâm Thìn: 1 - 0

Giáp Thìn: 0 - 8

Bính Thìn: 0 - 8

Mê tín dị đoan

Kỷ Tỵ:

0 - 5

Tân Tỵ:

0 - 6

Quý Tỵ:

0 - 7

Ất Tỵ:

0 - 7

Đinh Tỵ:

0 - 6

canh ngọ: 0 - 9

nhâm ngọ: 0 - 8

Giáp ngọ: 1 - 5

Bính ngọ: 1 - 3

Mậu ngọ: 1 - 9

Tân Mùi: 0 - 8

Quý Mùi: 0 - 7

Ất Mùi:

0 - 6

Đinh Mùi: 0 - 5

Kỷ Mùi:

0 - 6

nhâm Thân: 0 - 7

Giáp Thân: 0 - 5

Bính Thân: 0 - 5

Mậu Thân: 1 - 4

canh Thân: 0 - 8

Quý Dậu: 0 - 8

Ất Dậu:

1 - 5

Đinh Dậu: 1 - 4

Kỷ Dậu:

0 - 5

Tân Dậu: 1 - 6

Giáp Tuất: 1 - 5

Bính Tuất: 0 - 6

Mậu Tuất: 1 - 4

canh Tuất: 0 - 9

nhâm Tuất: 1 - 0

Ất Hợi:

0 - 9

Đinh Hợi: 1 - 6

Kỷ Hợi:

0 - 9

Tân Hợi: 1 - 7

Quý Hợi: 0 - 7

Số lượng Của tHáng:

Th.1:

0 lạng 6 đồng cân Th.2:

0 lạng 7 đồng cân

Th.3:

1 - 8

Th.4:

0 - 9

Th.5:

0 - 5

Th.6:

1 - 6

Th.7:

0 - 9

Th.8:

1 - 5

Th.9:

1 - 8

Th.10:

0 - 8

Th.11:

0 - 9

Th.12:

0 - 5

Số lượng Của ngày:

Mồng 1:

0 lạng 5 đồng cân Mồng 2:

1 lạng 0 đồng cân

Mồng 3:

0 - 8

Mồng 4:

1 - 5

Tín ngưỡng Việt Nam

Mồng 5:

1 - 6

Mồng 6:

1 - 5

Mồng 7:

0 - 8

Mồng 8:

1 - 6

Mồng 9:

0 - 8

Mồng 10: 1 - 6

ngày 11:

0 - 9 -

Mồng 12: 1 - 7

ngày 13:

0 - 8

Mồng 14: 1 - 7

ngày 15:

1 - 0

Mồng 16: 0 - 8

ngày 17:

0 - 9

Mồng 18: 1 - 8

ngày 19:

0 - 5

Mồng 20: 1 - 5

ngày 21:

1 - 0

Mồng 22: 0 - 9

ngày 23:

0 - 8

Mồng 24: 0 - 9

ngày 25:

1 - 5

Mồng 26: 1 - 8

ngày 27:

0 - 7

Mồng 28: 0 - 8