Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 6
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Chấp sự:
nghĩa đen, theo nguyên văn Hy Lạp Diaconos, là người đầy tớ.
Mỗi chi hội, tùy theo công việc cử một số nam nữ chấp sự
có trách nhiệm giúp việc tài chính cho Hội thánh và phụ tá ông mục sư hoặc truyền đạo trong mọi công việc của Hội thánh.
truyền đạo:
Truyền đạo có nhiệm vụ đi giảng đạo để truyền rao Tin Lành. những người này phải học qua lớp Kinh Thánh, ở
Việt nam tại trường Kinh Thánh Đà nẵng. Họ sẽ phục vụ
chúa trong một chi hội hoặc làm phó mục sư ở một chi hội đông đúc.
mục sư:
các vị truyền đạo sau một thời gian phục vụ, ít nhất là hai năm có thể được Hội thánh phong chức mục sư.
Việc phong chức do Hội Đồng phong chức gồm ít nhất bảy vị vừa là mục sư vừa là Giáo Sĩ.
Mê tín dị đoan
Ban Hội Đồng thẩm vấn xét hỏi về sự kêu gọi, từng trải về giáo lý, nếu vị truyền đạo có xứng đáng mới cử hành lễ Tấn phong.
Lễ Tấn phong chức mục sư rất long trọng.
Một vị mục sư sẽ thay mặt Hội Đồng, nhân danh đức chúa trời truyền đạt sứ mệnh cho vị tân mục sư. Vị này còn phải trả lời nhiều câu chất vấn của vị chủ tọa trước mặt Hội thánh đang nhóm họp lại tại nhà thờ. Sau đó, toàn thể ban Hội Đồng và các vị mục sư hiện diện đặt tay cầu nguyện phong chức cho vị tân mục sư này.
Trách nhiệm của mục sư rất quan trọng: mục sư lo phân phát lời Đức chúa Trời cho Hội chúng, thực hành các nghi lễ của Hội thánh, cai trị Hội thánh theo kỷ luật Thánh của chúa, chủ tọa các nhóm họp của Hội thánh.
Theo sự tổ chức của Hội thánh Tin Lành Việt nam thì chỉ các vị mục sư mới được ứng cử chức vị Hội trưởng chủ nhiệm. Đoàn trưởng Đoàn Truyền giáo và Đoàn trưởng Đoàn thanh niên.
Tóm lại, nhiệm vụ của mục sư rất lớn lao, nên việc tấn phong cũng rất kỹ lưỡng.
CáC Cơ quaN TruyềN giáo Và xã hội
Kể từ ngày thực sự được hoạt động tại Việt nam, năm 1911, tới nay, Hội thánh Tin Lành ngoài việc thu hút được một số tín đồ đáng kể, đã thành lập những cơ sở truyền giáo và xã hội sau đây:
1. Trường Kinh Thánh tại Đà nẵng để đào luyện các mục sư và truyền đạo của Hội thánh. Học viên là các nam nữ tín đồ. Hạn học là 5 năm kể cả 2 năm tập sự mới được tốt nghiệp.
2. Ban Lưu hành truyền đạo tại mỗi địa hạt liên hội để lưu hành truyền rao Tin Lành.
Tín ngưỡng Việt Nam
3. cô nhi viện Tin Lành tại Hòn chồng, nha Trang để
nuôi dạy các cô nhi.
4. Trường Trung học Bết Hê Lem tại cô nhi viện.
5. Đoàn truyền giáo Tin Lành tại cao nguyên.
6. Ban truyền giảng Tin Lành ở các đài phát thanh.
7. Ban cứu tế Tin Lành.
8. các cơ quan ngôn luận gồm: Thánh Kinh báo, báo Hừng Đông, Tạp chí Truyền giáo, Tập bài học Trường chủ nhật và nhi Đồng giảng tập.
Đạo Tin Lành hiện nay tại Việt nam cũng được rất nhiều giới chú ý, và đang phát triển.
Mê tín dị đoan
Đạo Baha’i
Đạo Baha’i là một tôn giáo mới, chưa đi sâu vào nếp sống nhiều người Việt nam, nhưng gần đây cũng có ít nhiều tiếng vang trong quần chúng, do đó, nhân nói tới các tôn giáo tại Việt nam cũng xin nhắc qua để bạn đọc biết.
Đạo Baha’i Với CáC TôN giáo
các tín đồ đạo Baha’i quan niệm tất cả các tôn giáo đều là một, đều cùng một nguồn gốc. cứ mỗi thời kỳ Thượng đế lại cho xuống thế gian một đấng Trung gian để bày tỏ chân lý vĩnh cửu, nền tảng của tôn giáo, để mang đến những luật lệ
và giáo huấn thích hợp với mỗi thời đại và để thiết lập một nền văn minh mới cho một kỷ nguyên mới.
Đấng Trung gian chính là đấng biểu hiện của Thượng đế, và Thượng đế qua mỗi thời đại luôn luôn là đấng tối cao, và đấng tối cao này được thờ phụng qua bất cứ tôn giáo nào.
Xét qua các tôn giáo, có rất nhiều điểm tương đồng mà Hội đồng tinh thần Baha’i đã ghi nhận.
a) Cùng nhận rằng cuộc đời có một ý nghĩa: Tất cả tôn giáo đều dạy đời sống hiện tại chỉ là giai đoạn sửa soạn cho một đời sống khác, đời sống khác đây có thể
là Thiên đường, hoặc có thể đầu thai làm một kiếp khác. Ý
Tín ngưỡng Việt Nam
nghĩa phần giáo huấn này là để cho người ta biết, chết không là hết, chết là tiếp tục sống, và cuộc sống sau cái chết, sung sướng hay khổ sở đều do hiện tại của ta.
b) Cùng tin một đấng tối cao:
Đấng Tối cao này chính là Thượng đế, mà các vị Giáo chủ
các tôn giáo đều khuyên tín đồ thờ phụng. Đức Thượng đế
là duy nhất, tuy bản chất không ai nhận thức được và cũng không ai mô tả nổi.
c) Cùng dạy con người trau dồi đức hạnh: Giáo lý của bất cứ tôn giáo nào cũng răn dạy con người về đức hạnh. Về đời sống tôn giáo, con người cần phải có ba loại đức hạnh để:
- Giữ một đời sống lành mạnh, tránh những điều xú uế
và giữ gìn điều độ trong những nhu cầu vật chất: - Tạo tình thương, lòng tin cậy và sự yên ổn trong việc tránh giết chóc, tà dâm, gian trá;
- phát triển tâm linh, tạo sự tiến bộ trong đời sống sau khi chết trong việc cầu nguyện, làm lễ, ăn chay, thăm Thánh địa v.v...
Trong việc trau dồi đức hạnh, giáo lý các tôn giáo đều dạy rằng sự ích kỷ ngăn trở sự phát triển tinh thần, và trái lại sự
hy sinh, sự quên mình là hành vi hiệu nghiệm giúp sự phát triển này.
d) Các vị giáo chủ và những tín đồ đầu tiên đều chịu hy sinh; e) tôn giáo phát triển bất kể sự đàn áp.
NguồN gốC Đạo Baha’i
Tất cả các giáo lý tôn giáo đều dạy nhân loại yêu thương nhau, nhưng loài người đã không chịu tuân theo các giáo lý, thay vì thương yêu nhau đã chống đối nhau, phân chia bè phái 94
Mê tín dị đoan
và gây nhiều tai biến khiến nhân loại không còn biết đâu là con đường phải để tiến bước nữa.
Tình trạng này thường có tại khắp các quốc gia trên thế
giới, nhưng cho tới thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, ở nước Ba Tư tình trạng đã bi đát hơn hết: chính phủ tham nhũng, quan lại tàn ác bất nhân, các tu sĩ cố chấp, các giáo phái chống báng nhau. con người sa đọa, trộm cắp bất lương.
Giữa tình trạng ấy giáo chủ đạo Baha’i đã xuất thế.
năm 1844, tại Ba Tư một thanh niên tên Bab đã tiên báo sự giáng thế của đức Balla’u’llah. Bab đã bị chính quyền bắt theo sự xúi giục của những tu sĩ Hồi giáo, và đã bị xử tử sau sáu năm bị lưu đày và cầm tù.
Suốt đời Bab lúc nào cũng “Biết” và “Yêu” Thượng đế, chiếu sáng những đặc tính của ngài và dọn đường cho sự giáng thế
sắp tới của ngài. Bab không hề biết sợ gì kể cả sự chết vì tình thương đã loại trừ sợ hãi, và ngay việc tử vì đạo của Bab chỉ
là sự hoan lạc ném toàn thể thân mình dưới chân Thượng đế.
Đúng như lời tiên báo của Bab, sứ giả của Thượng đế đã giáng sinh. Đó là Đức Balla’u’llah, giáng thế ngày 12-11-1817
trong một gia đình quyền quý Ba Tư. Tên thật của ngài là Mirza’Husayn’Ali. ngài tỏ ra có tư chất thông minh từ lúc nhỏ, và khi 13, 14 tuổi, ngài đã từng biện luận với nhiều nhà thông thái khiến họ phải kính nể. chính phủ Ba Tư, khi ngài 22 tuổi đã bổ nhiệm ngài vào chức vụ Thượng thư, nhưng ngài nhất quyết từ chối.
Vì Bab bị xử bắn, một môn đồ trung kiên đã ám sát hụt quốc vương Ba Tư. Do đó tất cả các người tin theo lời tiên báo của Bab đều bị tội. Balla’u’llah và thân quyến bị giam cầm và lưu đày qua nhiều nơi.
Balla’u’llah đã tuyên bố mình chính là người Bab đã tiên báo.
ngài bị lưu đày hết nơi này qua nơi khác. Trong thời gian bị lưu đày ngài đã gửi thư cho các vị quốc vương kêu gọi 95
Tín ngưỡng Việt Nam
chấm dứt các cuộc xâm lăng và thiết lập một nền tôn giáo chân chính cho cả nhân loại. Lời kêu gọi của ngài không được đáp ứng.
ngài đã được sự sùng kính của rất đông đảo tín đồ.
ngài nhập diệt ngày 29-5-1892 thọ 75 tuổi. Trước khi về
Trời, ngài có chúc thư cử con trưởng ngài là Abdul Baha làm đại diện giải thích những điều giáo huấn của ngài. Từ đó giáo lý Baha’i được lần lượt giới thiệu với thế giới. Theo Hội đồng Tinh thần Baha’i, nhân loại đã chấp nhận đức Balla’u’llah là đấng cứu thế trong kỷ nguyên này.
giáo lý CăN BảN Của Đạo Baha’i
Theo tài liệu của Hội đồng Tinh thần Baha’i thì đức Balla’u’llah công bố sứ mạng của ngài vào năm 1863.
ngài cũng như Đức phật Thích ca đã bỏ cuộc sống giàu sang và địa vị của một con quan để tuyên bố rằng ngài là đấng mà các tôn giáo lớn trên thế giới đã tiên báo và chờ đợi ngài đến để tạo lập một thiên quốc của Thượng đế trên mặt đất này.
ngài đã tập trung những điều giáo huấn của mình vào trong 150 bộ sách với những nguyên lý chính: 1. Thống nhất nhân loại;
2. Tìm hiểu chân lý một cách độc lập; 3. Thượng đế duy nhất và các giáo chủ đồng nhất; 4. Mục đích của tôn giáo là xây dựng sự thống nhất và hòa hợp;
5. Tôn giáo phải đi đôi với khoa học và lý trí; 6. Hủy bỏ thành kiến và mê tín;
7. nam nữ bình đẳng;
8. Giáo dục phổ thông và bắt buộc;
Mê tín dị đoan
9. chấp dụng một thế giới ngữ phụ để tránh sự hiểu lầm nhau vì bất đồng ngôn ngữ;
10. Giải pháp tâm linh đối với vấn đề kinh tế, lấy sự hiểu biết giữa tư bản và cần lao làm nền tảng; 11. Một pháp viện quốc tế để ngăn chặn mọi xung đột giữa các quốc gia.
12. Thế giới hòa bình.
Tại Sao gọi là Đạo Baha’i
chính vì đạo do giáo chủ Balla’u’llah thành lập nên gọi là đạo Baha’i. Balla’u’llah theo nghĩa tiếng Ba Tư là ánh sáng của Thượng đế, là Vinh quang, còn Baha’i nghĩa là người noi theo ánh sáng của Thượng đế.
Đạo truyền sang Việt nam, giữ nguyên danh từ đạo Baha’i.
Hội đồng Tinh thần đạo giải thích: Danh từ này được giữ
nguyên không đổi sang tiếng Việt nam vì mục đích tối cao của Tôn giáo Baha’i là thống nhất. người ta không nhận ra nhau chỉ vì bất đồng ngôn ngữ.
Đạo Baha’i Đối Với TíN Đồ CáC Đạo KháC
các tín đồ đạo khác, một khi theo tôn giáo Baha’i cóp hải bỏ các giáo chủ tôn giáo cũ của họ không?
Để trả lời câu hỏi này Hội đồng Tinh thần đạo đã đưa ra một thí dụ của một học sinh khi đạt được chứng chỉ Tú tài, cậu ta vẫn phải tôn kính, biết ơn các giáo sư cũ, vì nếu không có các giáo sư này, làm sao cậu đã đỗ được Tú tài.
các tín hữu đạo Baha’i tin rằng đức Balla’u’llah chính là giáo chủ của các tôn giáo khác trước đây, đức phật, đức chúa, đấng Moise, v.v..., nhưng là của thời đại này. Trước đây nếu không có các vị giáo chủ các tôn giáo ra đời trước nhân loại không thể tiến bộ để hiểu được đức Balla’u’llah. Một người 97
Tín ngưỡng Việt Nam
không thể trở thành tín hữu Baha’i nếu không chấp nhận các vị giáo chủ trước đây.
Đạo Baha’i Đối Với lễ Nghi PhoNg TụC Cổ TruyềN
Tín đồ Baha’i quan niệm chấp nhận tôn giáo Baha’i không có nghĩa là phải bỏ hết tất cả các tập tục cũ.
Bộ lạc nào, sắc dân nào, xã hội nào đều có tập tục lề lối riêng, có tục hay có tục dở. Tín đồ Baha’i giữ lại những tục lệ hay, có tính cách nhân đạo, có lợi cho sự sống của nhân loại, có thể bảo đảm được nhân cách.
Mỗi dân tộc có một sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng, không thể có một luật lệ nào bắt buộc tất cả nhân loại phải sống rập theo một khuôn mẫu nhất định được, cũng như trong một khu vườn phải có nhiều sắc hoa, khu vườn mới càng đẹp.
Tuy nhiên giáo hữu Baha’i cho rằng tất cả những vẻ đẹp riêng rẽ phải phù hợp với 12 nguyên lý đạo đã nêu ra, giống như một bản nhạc tuy có nhiều giọng cao thấp đục trong, nhưng tiếng nhạc vẫn phải được điều hòa theo nguyên lý hòa hợp. Đạo Baha’i chủ trương thống nhất cả tôn giáo, nhưng thống nhất không phải là đồng hóa.
Tổ ChứC Đạo Baha’i
Trung tâm quốc tế tôn giáo Baha’i hiện nay đặt trên núi carmel, tỉnh Haifa, nước Do Thái. Đứng đầu Trung tâm là đức Giám hộ. ngài chỉ định trên toàn cõi thế giới 27 vị phụ
tá Giám hộ để giữ việc coi sóc giềng mối đạo và kêu gọi nhân loại xây dựng Tòa nhà Thống nhất. Hệ thống này, các tín đồ Baha’i gọi là trụ cột Thống nhất; trụ cột này giúp cho các tín đồ Baha’i trên thế giới tuân theo các giáo huấn của Balla’u’llah. các tín đồ thấy có điều gì nghi ngờ, các vị phụ
tá Giám hộ giải thích, và có thể nhờ vị phụ tá Giám hộ tại 98
Mê tín dị đoan
Thánh địa, tức là Haifa xem lại chính văn của đức Bab, của Giáo chủ và của Adul Baha để hiểu rõ. Bên cạnh hệ thống Thống nhất trên, đạo có một hệ thống Dân chủ.
Đạo Baha’i không có các tu sĩ, để lo việc đạo, đã có Hội đồng Tinh thần tại mỗi địa phương. Hội đồng này gồm chín người được bầu lên hàng năm vào ngày 21-4 do toàn thể tín đồ Baha’i trưởng thành nghĩa là từ 21 tuổi trở lên. chín người này họp lại bầu chức chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký và thủ quỹ.
Trên Hội đồng Tinh thần địa phương là Hội đồng Tinh thần Quốc gia tại mỗi quốc gia. các Hội đồng địa phương tổ chức bầu một hoặc hai đại biểu tùy theo nhân số, tham dự Hội đồng Quốc gia. Tất cả các tín đồ đều được coi như
ứng cử viên trong cuộc bầu cử này. các nước số tín đồ chưa đông, chưa đủ thành lập Hội đồng Quốc gia, sẽ do Hội đồng Tinh thần vùng, mỗi vùng gồm nhiều quốc gia điều khiển.
Trên hết là Hội đồng Tinh thần Quốc tế. Hội đồng này vừa đây được bầu tại Haifa vào năm 1963 bởi nhân viên thuộc hơn 60 Hội đồng Tinh thần Quốc gia và Hội đồng Tinh thần vùng.
Tất cả các Hội đồng đều được bầu hàng năm vào khoảng thời gian từ 21-4 đến 2-5.
nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Tinh thần: Hội đồng lo việc truyền giáo, tổ chức các cuộc lễ, giải quyết mọi vấn đề liên quan đến đời sống tín đồ, bảo vệ đạo đối với kẻ chống đối, đảm nhiệm vấn đề quỹ đạo và chỉ định các tín đồ vào các Ủy ban đặc biệt để giúp việc cho Hội đồng.
các quyết định của Hội đồng, các tín đồ phải tuân theo.
Trong trường hợp có điều gì nghi ngờ, các tín đồ có thể trình lên Hội đồng cao hơn hoặc trình với quý vị phụ tá Giám hộ.
Đạo Baha’i Tại ViệT Nam
năm 1954, bà Shirin Fozdar, một ủy viên truyền giáo Ấn Độ được Hội đồng Tinh thần Quốc gia Baha’i Ấn Độ cho 99
Tín ngưỡng Việt Nam
phép truyền giáo tại Việt nam, nhưng lúc đầu vì ngôn ngữ
bất đồng nên bà đã gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy việc truyền giáo của bà nhờ sự giúp đỡ của nhiều người nên cũng đã có kết quả, và Hội đồng Tinh thần đầu tiên tại Việt nam đã được thành lập tại Sài Gòn vào năm 1955. Và cho đến cuối năm 1962, tại miền nam Việt nam đã có tất cả 40 Hội đồng Tinh thần địa phương.
Việt nam chưa có Hội đồng Tinh thần Quốc gia, nên các Hội đồng địa phương còn chịu sự điều khiển trực tiếp của Hội đồng Tinh thần vùng Đông nam Á. Hội đồng Đông nam Á
đã chỉ định tại Việt nam một Ủy ban truyền giáo toàn quốc, với nhiệm vụ tương tự như nhiệm vụ của Hội đồng Tinh thần quốc gia.
Trong những năm 1960, 1961, 1962, theo tài liệu của Hội đồng Tinh thần Baha’i Saigon, công việc truyền giáo có kết quả và tín đồ Baha’i Việt nam đã ý thức được trách nhiệm của mình và nhiệt liệt tin tưởng rằng phụng sự tôn giáo Baha’i tức là phụng sự Thượng đế và nhân loại.
Đời SốNg Baha’i
Để đáp một câu hỏi nêu lên “ai có thể sống đời sống Baha’i”
đức Abdul Baha, con trưởng đức Balla’u’llah, người đại diện để giải thích những giáo huấn của ngài, đã nói:
- phàm kẻ nào sống cuộc đời đúng theo giáo huấn của Balla’u’llah đã là Baha’i rồi. ngược lại kẻ nào tự hào là Baha’i trong 50 năm mà không sống cuộc đời chân chính thì chẳng phải là một Baha’i.
Đời sống Baha’i không có nghi lễ gì. Ai sống cũng được, chỉ
cần có lòng chân thành hướng về giáo chủ và về đấng Tối cao.
Việc ghi tên vào cộng đồng Baha’i chỉ có tính cách quản trị.
Tín đồ Baha’i cũng đọc kinh, cũng giữ gìn trai giới cũng tâm niệm như bất cứ tín đồ tôn giáo nào, nhưng khi làm 100
Mê tín dị đoan
những việc đó họ phải biết rõ lý do, mục đích và ý nghĩa của mình làm.
Tín đồ Baha’i tự coi mình như là một lớp người mới có nhiệm vụ xây dựng một nền văn minh mới cho nhân loại và tin rằng phải có sự thương yêu chân thành, sự quên mình và sự hy sinh toàn vẹn mới làm cho xã hội tiến bộ.
Đức Abdul Baha đã nói về tín đồ Baha’i:
- người Baha’i phải khác với những người khác trong nhân loại. nhưng sự khác biệt này không phải tùy thuộc của cải...
Ta không muốn giữa các người có sự khác biệt thông thường hoặc sự phân biệt về khoa học thương mại, kỹ nghệ. Ta chỉ
muốn giữa các người có sự khác biệt về tâm linh, nghĩa là các người phải có đời sống đạo đức mẫu mực khác thường.
Trong tình yêu của Tinh thần các người phải khác biệt với mọi sự vật. các người phải trở nên khác thường trong tình yêu nhân loại, trong sự thống nhất và hòa hợp, trong sự tự
ái và công bằng.
Tín đồ Baha’i vẫn sống giữa xã hội với sự hân hoan chịu đựng thử thách và nhất tâm phụng sự nhân loại.
người Baha’i được hoàn toàn tự do trong tư tưởng và hành động.
các tổ chức Baha’i cũng cần có ngân quỹ để thực hiện chương trình đạo, nhưng tín đồ không bị bắt buộc phải đóng góp. Tín đồ phải hiểu việc phụng sự và việc dâng hiến là một quyền thiêng liêng.
người Baha’i chân chính không những chỉ đóng góp tài sản một cách tự ý, kín đáo cho đạo, mà nếu cần họ sẵn sàng hiến dâng cả sinh mạng của mình cho đạo.
người Baha’i có nhiệm vụ tìm hiểu Thượng đế và giữ Đức Tin cho bền vững ngõ hầu giới thiệu đạo với người khác.
Đạo Baha’i không có tu sĩ và do đó mỗi tín đồ đều là một nhà truyền giáo.
Tín ngưỡng Việt Nam
Tín đồ không bỏ đạo bất cứ vì lý do nào, vì bỏ đạo là bỏ
Thượng đế. Tín đồ Baha’i luôn luôn có thái độ cởi mở, đến với tất cả mọi người như một người bạn, một người đồng hương, một người anh em trong gia đình.
Tín đồ Baha’i cũng cần gặp gỡ lẫn nhau để trao đổi sự
hiểu biết và kinh nghiệm.
có những buổi họp hằng tuần tại giảng đường Baha’i, và cũng có những buổi họp trong những ngày lễ Baha’i.
năm Baha’i bắt đầu vào tối ngày 20 tháng 3, gọi là lễ
naw-Ruz.
ngày 21 tháng 4, vào lúc 3 giờ chiều là ngày đầu lễ Ridvan tức là ngày tuyên ngôn của Balla’u’llah.
ngày 22-5, vào lúc 2 giờ 11 phút sau mặt trời lặn là Tuyên ngôn của Bab.
ngày 29-5, lúc 3 giờ sáng là lễ Thăng Thiên của Balla’u’llah.
ngày 9-7, lúc 12 giờ trưa là lễ Tử đạo của Bab.
ngày 29-10, là lễ sinh nhật của Bab.
Tối 11-10, là lễ sinh nhật của Balla’u’llah.
Tối 25-11, là lễ Hiệp ước.
Và 1 giờ sáng ngày 28-10, là lễ Thăng Thiên của Abdul Baha.
ngày Baha’i bắt đầu từ mặt trời lặn hôm trước đến mặt trời lặn hôm sau.
Trong những ngày Thánh lễ, tín đồ Baha’i trai giới trong 19 ngày liền trong mỗi năm từ ngày 2-3 đến 21-3, thời gian này là một tháng Baha’i. Ý nghĩa của cuộc trai giới là luyện ý chí mạnh mẽ, dọn mình trong sạch, mở mang trí óc và tâm hồn. Trong thời gian này, phải nhịn ăn uống ban ngày, từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn và chỉ ăn uống vào buổi tối, cốt dành nhiều thời giờ trong việc rèn luyện ý chí, cầu nguyện và suy tưởng.
những người ốm yếu, mang thai hoặc đi xa có thể được miễn trai giới.
Mê tín dị đoan
Tín đồ Baha’i coi việc phụng sự Hội đồng Tinh thần là một vinh dự, khi được bầu vào Hội đồng này, cố gắng lo tròn phận sự cho đến hết nhiệm kỳ. chỉ những người đau yếu hoặc di chuyển đi nơi khác mới được thay thế.
người Baha’i tuân theo quyết định của Hội đồng Tinh thần, và tránh việc chỉ trích các bạn hữu, cố gắng đem điều tốt thay cho điều xấu, và nếu người nào không sửa đổi, có thể trình với Hội đồng Tinh thần.
NhữNg Nơi PhụNg Sự
Trên toàn thế giới, đạo Baha’i có năm ngôi đền lớn, mỗi ngôi đền có chín cạnh, tượng trưng cho chín tôn giáo lớn trên thế giới hợp nhất.
Tại mỗi địa phương có một giảng đường. Ở đây không thờ
hình tượng nào mà chỉ thờ một thánh danh của Thượng đế
viết bằng cổ tự Ba Tư và Ả Rập, thánh danh này có ý nghĩa là “Vinh quang trên mọi sự vinh quang”.
Tín ngưỡng Việt Nam
hồi giáo
Hồi giáo tuy là một tôn giáo cổ, nhưng tại Việt nam chỉ có một số người Việt gốc chàm theo đạo này, nhất là người chàm ở xã châu Giang tỉnh châu Đốc (An Giang).
nói về đạo giáo trên thế giới, Hồi giáo là tôn giáo đứng vào hàng quan trọng thứ ba về số tín đồ sau phật giáo và Thiên chúa giáo và chiếm giữ một vùng ảnh hưởng rộng lớn ở Trung Đông, các nước Ả Rập, giữa hai vùng ảnh hưởng của phật giáo và Thiên chúa giáo.
NguồN gốC
người sáng lập ra Hồi giáo là Giáo chủ Mohamed.
Bấy giờ vào khoảng 610, 611 sau Thiên chúa kỷ nguyên dân chúng vùng Ả Rập, để chỉ chung các nước Ả Rập, theo Đa thần giáo, với sự biến thể tùy từng địa phương, tùy từng bộ lạc, biến thể có khi đi đến các sắc thái khác nhau, tỷ dụ
như bộ lạc Quais ở Mecca thờ hai vị nữ thần Manât và Allât, vị thứ nhất tượng trưng cho hạnh phúc của loài người và vị
thứ hai đại diện cho Trời. Trên hai vị này là đấng Allah, vị
Mê tín dị đoan
chúa tể, cai trị cả các thần và muôn loài. các bộ lạc du mục ở khu vực Syria cũng thờ Allah, nhưng ở đây Allah chỉ là một vị thần nhỏ và ở trên còn các vị thần khác nữa. ngoài ra còn có nhiều bộ lạc lại thờ các vật như cây cỏ, đá, cát...
Tại đền Kaba ở Mecca, có thờ tất cả 360 vị thần.
Tình trạng đa thần này đã gặp sự chia rẽ trong các bộ lạc, và với sự thờ nhiều vị thần vô nghĩa lý, tín ngưỡng đã biến thành mê tín, dị đoan. Lại chưa kể đến ảnh hưởng của Gia Tô giáo và Do Thái giáo đối với một số dân chúng ở vùng Ả Rập.
Trước sự kiện trên, Giáo chủ Mohamed thấy cần phải khai sinh một tôn giáo mới và bác bỏ Đa thần giáo cũng như Thiên chúa giáo và Do Thái giáo: Hồi giáo ra đời.
Tiểu Sử giáo Chủ mohamed
Mohamed, còn viết là Mahammed hoặc Mahomed, sinh ở thành Mecca vào ngày thứ hai ngày 12 tháng Rabi, tức là tháng ba năm 580, nhưng cũng có thuyết cho là ông sinh vào năm 570. Ông thuộc họ Hachim, bộ lạc Quoraich, bộ lạc đã xây đền ở Mecca, con ông Abd-Allah và bà Amina.
Ông mồ côi cha, khi mới được hai tháng, và khi lên sáu tuổi lại mồ côi nốt mẹ. Ông sống với ông nội là Abd-El-Motalib và chú là Abon-Talib. Lớn lên ông làm nghề buôn bán, và nhờ đi buôn bán qua Syria và Mésopotamie, ông có dịp tiếp xúc với các linh mục Thiên chúa giáo, và đã đọc qua các cuốn kinh cựu ước và Tân ước. chính nhờ sự tiếp xúc cũng như việc đọc các cuốn kinh Thiên chúa giáo ông bắt đầu có ý niệm về độc thần giáo.
năm 610, khi ông 30 tuổi, ông quyết định đem độc thần giáo ra truyền ở Mecca lấy sự tôn thờ đấng Allah làm Thượng đế với quyền năng vô biên.
Tín ngưỡng Việt Nam
Ông đã gặp nhiều khó khăn vì sự chống đối của những người giàu có, thế lực và quý phái trong dòng Quoraich. chỉ
có một số ít thanh niên và những người nghèo khó theo ông.
Ông rời Mecca đi truyền đạo ở Taif, một bộ lạc ở phía nam Mecca nhưng kết quả thu lượm được chẳng bao nhiêu.
Ông lại đi đến thành phố Yathrib ở phía Bắc và ông đã thu được những kết quả đáng kể. Ông có ý định chọn thành phố
này làm kinh đô của Hồi giáo và ông đổi tên thành phố này thành tên Médinat-El-nabi, nghĩa là thành phố của nhà tiên tri, sau được gọi tắt là Médina. ngày 16 tháng 7 năm 622 ông cho di dân tất cả những người Hồi giáo ở Mecca tới Médina, ngày này người Hồi giáo gọi là ngày Hidjra, nghĩa là ngày Thánh di. Hồi giáo ngày càng phát triển từ đó với một Thánh đường được xây cất lên. Giáo chủ tận lực giảng đạo. Dân Médina theo đạo rất đông, và đạo của ông ngày càng mạnh, mặc sự phá hoại của bọn quý tộc dòng Quoraich ở Mecca, họ đã phái quân tới đánh thành Médina, nhưng chiến thắng cuối cùng cũng vẫn về giáo quân chiếm thành Mecca, và với chiến thắng này Hồi giáo đã vững mạnh. các Hoàng đế xứ
Abyssainia và Ai cập xin theo đạo.
Ông mất năm 632 ở Mecca, thọ 52 tuổi.
KiNh SáCh hồi giáo
Hồi giáo có cuốn kinh căn bản là kinh coran, và có nhiều loại sách gọi là Sunna và Hadith trình bày đủ giáo lý, giáo luật, tôn chỉ, tổ chức giáo hội và các hành động của các Giáo chủ và các giáo đồ tiếng tăm dùng làm gương cho tín đồ.
KinH COran
coran có nghĩa là đọc, đọc đi, đọc lại.
Mê tín dị đoan
Kinh coran không phải là tác phẩm của Giáo chủ Mohamed, mà chính là công trình sưu tập của các nhà truyền giáo Hồi đã thu thập và xếp đặt cho có hệ thống những lời Thánh dạy do Giáo chủ nghe được và nói lại.
những lời của Giáo chủ nói ra, lúc đầu tuy các có ghi chép, nhưng không ai nghĩ tới việc sưu tầm toàn bộ.
Mãi tới năm 633, nghĩa là sau khi Giáo chủ qua đời một năm, Giáo trưởng AbouBakr mới khuyên các bạn đồng đạo là các ông Omar và Daidb Thabit thu thập tất cả những lời Giáo chủ nói thành một tập. Tập này sau hợp với các tập khác của các giáo đồ thành một bộ kinh đầy đủ nhất. công việc hợp nhất các tập kinh này mãi tới năm 776 mới được hoàn thành.
Tập kinh này gồm 114 chương, tổng số 323.015 chữ.
Vì trong lúc truyền đạo, luôn luôn Giáo chủ Mohamed chỉ
nhận mình là người được thánh truyền, và ông chỉ nhân danh thần thánh mà nói, nên mỗi đầu chương, trừ chương thứ 9, đều có ghi câu:
“nhân danh đức thánh tột bực mến yêu...”
Trong các chương, ngoại trừ chương đầu chỉ là một bài cầu nguyện tôn thờ đấng Allah xin người giúp đỡ tín đồ theo con đường chính, Giáo chủ nói đến mục đích cao cả của đạo, quyền này của Thượng đế Allah; Giáo chủ khi giảng đạo ở Médina nói nhiều đến tổ chức của đạo, việc lựa chọn và địa vị Giáo trưởng, các nghi lễ tỉ mỉ. những lời nói của Giáo chủ sau này đã đương nhiên trở thành những điều luật căn bản của luật Ả Rập.
SáCH Sunna
Đây là sách dạy phép xử thế, căn cứ theo cách xử thế của Giáo chủ mà viết ra. Tín đồ Hồi giáo lấy Giáo chủ làm gương mẫu nên bắt buộc các tín đồ phải theo các đức tính và cách xử thế của Giáo chủ.
Tín ngưỡng Việt Nam