Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 20
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.
lễ Bái TroNg Ngày ĐoaN Ngọ
có tiết lễ, phải có cúng bái. cũng như các Tết khác, ta cũng ăn Tết Đoan ngọ bằng sự cúng lễ.
Tại các làng xã có lễ thần tại đình, đền; tại các thôn xóm có cúng tại miếu. Ở nhà, các tư nhân sửa lễ cúng ông bà ông vải và cúng Thổ công. Trong lễ cúng tại miền Bắc về dịp này thế nào cũng có trái dưa hấu vì lúc này đang mùa. cỗ
cúng xong thì ta ăn, không ai mang đổ xuống sông như tục bên Tầu, và ta cũng không cúng Khuất nguyên tuy là ngày kỷ niệm Khuất nguyên.
Riêng tại gia đình các đông y sĩ có sửa lễ cúng Thánh sư, ngoài lễ cúng tổ tiên và Thổ công.
TụC lệ Ngày ĐoaN Ngọ
ngoài việc cúng lễ trong ngày Tết Đoan ngọ, xưa và cả
nay ở một vài địa phương, người Việt ta có nhiều tục lệ được mọi người cùng theo. những tục lệ có khi ta bắt chước theo người Trung Hoa, có khi chính là tục lệ riêng của nước ta: 357
Tín ngưỡng Việt Nam
Tục giết sâu bọ,
Tục nhuộm móng chân móng tay,
Tục đeo bùa tui, bùa túi,
Tục tắm nước lá mùi,
Tục khảo cây lấy quả,
Tục hái thuốc vào giờ ngọ,
Tục treo ngải cứu để trừ tà,
Tục đi sêu.
Giết sâu bọ.
Tết mồng 5 tháng năm, còn được ta gọi là Tết Giết sâu bọ, vì trong ngày hôm ấy ta có tục giết sâu bọ. Theo quan niệm của ta xưa, trong người, nhất là trong bộ phận tiêu hóa, thường có sâu bọ. Sâu bọ này nếu không trừ đi sẽ sinh sản ngày một nhiều và gây tai hại cho người, nhưng giết sâu bọ
không phải là một chuyện dễ dàng và không phải là bất cứ
lúc nào giết chúng cũng được. Quanh năm chúng ẩn sâu trong bụng, duy chỉ có ngày mồng 5 tháng năm là chúng ngoi lên.
nhân dịp chúng ngoi lên, người ta cần giết chúng.
Giết sâu bọ bằng gì?
chính bằng những thức ăn, nhất là bằng rượu nếp và hoa quả.
Sáng sớm ngày mồng 5 tháng năm, ngay sau khi thức dậy, súc miệng xong là phải giết sâu bọ ngay. Ở miền Bắc, trong dịp này mỗi người đều ăn ít nhất một bát rượu nếp, sau đó ăn một bát thạch, rồi đến ăn các trái cây như mận, muỗm, sấu, đào, roi (mận) v.v...
Đối với trẻ con, người ta bôi cho chúng một ít thần sa, chu sa vào hai bên thái dương và vào bụng. có khi người ta hòa với nước cho chúng uống. người ta cắt nghĩa sự giết sâu bọ như sau:
Sáng hôm mồng 5 tháng năm, bọn sâu bọ ở bụng dưới ngoi lên bụng trên. Ăn rượu nếp vào cho chúng say, sau đó những 358
Mê tín dị đoan
trái cây sẽ làm cho chúng chết. Mỗi trái cây đều là vị thuốc giết sâu bọ. Trong đông y, thuốc nam cũng như thuốc Bắc, các vị thuốc phần lớn đều lấy ở loài thảo mộc, các trái là kết tinh của loài thảo mộc cho nên có tính chất giết được sâu bọ.
ngoài trái cây, người ta còn cho con trẻ bôi hoặc uống thần sa, chu sa, vì người ta tin rằng, lúc sâu bọ bị các trái cây giết có phản ứng gây sự bất an cho con trẻ nên dùng thần sa, chu sa để trấn an trước. Đó là tục lệ và ý kiến người xưa!
ngày nay, hàng năm khi mồng 5 tháng năm tới, ngoài việc cúng bái, vẫn có người giết sâu bọ, vẫn ăn rượu nếp (cơm rượu) vào buổi sáng và vẫn dùng trái cây như xưa.
rượu nếP (Cơm rượu)
Tiếng gọi là rượu, nhưng rượu nếp không phải hoàn toàn chất nước như các rượu khác mà có cả chất cái nữa.
Rượu nếp làm bằng xôi. Dùng gạo nếp thổi xôi rồi rắc men lên trên, ủ một thời gian từ ba tới năm ngày, xôi đã thành rượu nếp.
Thúng xôi ủ được đặt trên một chiếc chậu để hứng lấy nước.
nước này là chất rượu, còn cái là xôi ủ men nổi màu ngà. Khi ăn, ăn cả cái trộn lẫn với nước rượu đã hứng được lúc ủ men.
Rượu nếp ăn ngọt ngọt cay cay, đem cho người ta một cảm giác say say dễ chịu.
Mỗi lần Tết Đoan ngọ các cô hàng rượu nếp xuất hiện len lỏi đi vào các xóm từ ngày mồng ba, mồng bốn để bán rượu.
Khách mua rượu có thể để dành một vài bữa không sợ hư.
các cô có treo vào gánh rượu nếp một chùm ớt cùng một ít lá cây có tính chất khử trùng để trừ sâu bọ không làm hư
gánh rượu của các cô.
các phụ nữ đồng quê ta xưa phần nhiều đều biết ngả rượu nếp.
ngày nay có người không dùng rượu nếp để giết sâu bọ. Họ
dùng rượu trắng tức là ba xị đế cho mạnh hơn, hoặc những người sang lại dùng rượu Tây như Martel, cognac v.v...
Tín ngưỡng Việt Nam
nHuộm móng CHân móng tay.
Mỗi khi muốn làm đẹp, các bà các cô ở tỉnh thường nhuộm móng chân móng tay. các bà các cô kén thuốc kén màu. Xưa ở nhà quê, mỗi khi ngày Tết Đoan ngọ tới, người ta vẫn nhuộm móng chân móng tay cho các trẻ em. người ta không cần phải mua thuốc kén màu gì cả, chỉ cần hái một nắm gọi là lá nhuộm móng tay đem giã nhỏ rồi lấy lá vông bọc lên đầu ngón chân ngón tay cho các em từ tối hôm trước, sáng hôm sau tháo ra, các móng chân, móng tay đều được nhuộm đỏ.
Lá móng tay là một thứ lá nhỏ và hơi dài của một thứ cây thuộc loại mộc nhỏ, mọc nhiều ở bờ ở bụi.
Hàng năm, gần đến ngày Tết mồng 5 tháng năm, có người đi hái rồi mang ra chợ bán. nhuộm bằng lá này, móng chân móng tay có màu đỏ tươi như son, màu đỏ ăn loang ra cả
đầu ngón tay.
Sở dĩ có tục nhuộm móng chân móng tay cho các trẻ em là cốt để trừ tà ma, cũng như cho các em đeo bùa, cùng một tác dụng như khi các em đeo bùa tui bùa túi. người xưa còn cho rằng tính chất của lá nhuộm móng tay, khi nhuộm vào, giúp các em không bị ảnh hưởng nếu sâu bọ quấy rối.
nhuộm móng chân móng tay, ngón tay trỏ được chừa ra, ngón này là thần chỉ không đem nhuộm được.
Bùa tui Bùa túi
Đây là một thứ bùa ngũ sắc đeo cho trẻ em trong ngày mồng năm tháng năm để diệt trừ ma quỷ và rắn rết.
Dùng vải và chỉ ngũ sắc để may bùa. Bùa khâu thành hình những trái cây rồi buộc túm với nhau bằng chỉ ngũ sắc cho các em đeo. Một túm bùa thường gồm:
- một cục hồng hoàng có tính chất kỵ rắn rết;
- một túi hạt mùi hình vuông, một góc buộc chỉ để đeo 360
Mê tín dị đoan
vào túm bùa còn ba góc kia có ba rua chỉ ngũ sắc và một hạt bóng màu. Hạt mùi rất thơm có tính chất kỵ gió;
- một quả ớt màu xanh, đỏ, vàng...
- một quả khế mỗi múi một màu;
- một quả na (mãng cầu)
- một quả hồng v.v...
có khi túm bùa được đeo vào một chiếc vòng cổ tết bằng chỉ ngũ sắc cùng với một chiếc khánh bằng giấy hoặc bằng chỉ ngũ sắc.
Theo sự tin tưởng, chỉ ngũ sắc kỵ được ma quỷ.
Bùa được khâu thành hình trái cây, vì trái cây được dùng để giết sâu bọ trong dịp tết Đoan ngọ.
tắm nướC lá mùi.
cây mùi (ngò) là một loại cây nhỏ lá lăn tăn có hạt và lá có mùi thơm.
Trong ngày tết Đoan ngọ người ta lấy cây mùi đun nước tắm để trừ độc. người ta cho rằng, tắm nước lá mùi trong ngày mồng 5 tháng năm sẽ tránh được gió máy, cảm mạo và sẽ được khỏe mạnh.
Sự thực tắm nước nóng giữa mùa nóng, mồ hôi toát ra, người được nhẹ nhàng thư thái, như khi bị cảm xông nước lá đun lên, gia dĩ má mùi cũng lại là một vị thuốc nam dùng để trị cảm, nên tắm nước lá mùi thấy dễ chịu.
Tết mồng 5 tháng năm mỗi nhà đều nấu một nồi nước lá mùi. Ông già bà cả trong dịp này khi tắm xong đều tự lấy làm khoan khoái.
ngày nay, tục tắm nước lá mùi ngày tết Đoan ngọ không còn ở nơi thành thị, nhưng ở vùng quê nhiều nơi người ta vẫn chưa bỏ tục xưa.
Tục này xét ra có điều hay là các trẻ em nơi bùn lầy nước 361
Tín ngưỡng Việt Nam
đọng thường bẩn thỉu, quanh năm thiếu nước sạch, nước ao thiếu vệ sinh, nhân dịp tết Đoan ngọ tắm bằng nước đun lá mùi, người chúng trở nên sạch sẽ thơm tho, và cũng nhờ sự
sạch sẽ này chúng đỡ đau yếu.
KHảO Cây lấy quả.
có nhiều cây trồng đã được nhiều năm vẫn không có quả, tuy đúng ra những cây đó phải có quả từ một đôi năm rồi.
người ta cho rằng đó là những cây bướng bỉnh, mỗi cây đều coi như có một linh hồn, cần phải khảo mới chịu có quả.
Khảo cây lấy quả là một tục cử hành vào dịp tết Đoan ngọ: một người leo lên cây, một người đứng dưới gốc.
người đứng dưới gốc hỏi cây tại sao không có quả và dọa nếu mùa tới không có quả sẽ chặt cây đi. người trên cây van lạy xin đừng chặt và hứa đến mùa tới sẽ có quả.
người đứng dưới gốc lại hỏi mùa tới sẽ cho bao nhiêu quả, người trên cây trả lời số quả là mấy thúng tùy theo sức vóc của cây. Sau đó người trên cây đi xuống.
người ta bảo rằng sau kỳ khảo cây này, cây thường có quả!
Không biết có phải cây sợ bị chặt đi mà có quả, hay tại năm đó cây mới đủ sức bói để ra quả!
Hái tHuốC mồng năm.
Theo thuốc nam, mỗi cây đều là một vị thuốc, và trong các vị thuốc nam người ta dùng lá rất nhiều.
người Việt ta bắt chước người Trung Hoa tin rằng những củ, cành, lá hái và đào được trong ngày mồng 5 tháng năm đều là những vị thuốc tốt chữa được rất nhiều bệnh, nhưng phải hái vào khoảng giờ ngọ nghĩa là từ 11 giờ đến 13 giờ ngày nay.
Y học Đông phương giải thích rằng vào một ngày nắng nhất của mùa hạ, vào một giờ nóng nhất, tức là giờ ngọ, của ngày 362
Mê tín dị đoan
nóng nhất ấy, khí nóng đã cô đọng nhựa cây lên lá, khiến cho lá có một dược tính chữa được một số các bệnh như nhức đầu, đau xương, sổ mũi, choáng váng v.v...
Bí quyết của sự hái là vào ngày Đoan ngọ là đấy!
những lá người ta thường hái lá ngãi cứu, đinh lăng, lá mùi, lá mua v.v... những lá này được đem phơi khô, rồi khi bị các chứng bệnh trên người ta đem sắc lên mà dùng.
Tục hái lá mồng 5 là do sự tích Lưu Thần, nguyễn Triệu truyền lại và được thi vị hóa cho rằng chư tiên đã truyền phép cho cây lá vào giờ ngọ ngày Đoan Dương.
có nhiều làng ở ven rừng núi, ngày Đoan ngọ dân làng rủ
nhau đi hái lá rất vui, vui như một ngày hội hàng năm vậy.
treO ngải Cứu trừ tà.
cây ngải cứu có dược tính khu phong giải độc, người bị nhức đầu lấy lá ngải cứu đắp lên hai bên thái dương có thể khỏi.
ngày tết Đoan ngọ, người ta lấy lá ngải cứu buộc treo ở
trước cửa nhà để trừ tà, tránh sự đau ốm.
Trừ tà là một điều huyền bí, không chắc có hay không, nhưng lá ngải cứu treo ở trước cửa nhà quả đúng có công dụng vì dược tính của lá này:
- ngày đó mọi người giết sâu bọ, ăn nhiều trái cây có thể bị ấm ách khó chịu, mùi lá ngải cứu treo ở cửa nhà bốc xông vào có thể làm cho người ta dễ chịu như khi xông bằng lá này.
- ngày mồng năm tháng năm là một ngày nắng nhất, hơi nóng bốc gay gắt. Lá ngải cứu treo ở cửa nhà tỏa mùi thơm làm dịu bớt sức nóng của trời đất.
Treo lá ngải cứu ở trước cửa nhà không chỉ tốt riêng cho ngày mồng 5 tháng 5 mà còn có ích trong các ngày khác với công dụng trình bày trên. chính vì vậy, tại nhiều nhà, 363
Tín ngưỡng Việt Nam
bó ngải cứu được treo ở trước cửa cho đến khi khô héo sau ngày Đoan ngọ.
Đi Sêu.
những chàng trai đã dạm vợ hoặc hỏi vợ nhưng chưa cưới có bổn phận phải sêu tết trong những dịp lễ tiết.
ngoài Tết nguyên Đán, một năm có hai lần sêu vào dịp cơm mới tháng năm và tháng mười, nghĩa là vào dịp vụ gặt xong có lúa mới của hai vụ chiêm và mùa.
Về vụ chiêm, những chàng rể chưa cưới đi sêu bố mẹ vợ
nhân dịp Tết Đoan ngọ.
Lễ sêu trong dịp này bao giờ cũng gồm có đậu xanh mới hái vào tháng tư, gạo nếp của vụ chiêm. ngoài ra tháng năm cũng là mùa ngỗng và mùa chim ngói, cùng với gạo đậu bao giờ cũng có một đôi ngỗng và vài chục ngói. Kèm thêm vào có vài cân đường cát và mấy trái dưa hấu, nghĩa là toàn những sản phẩm trong mùa. chàng rể đi sêu, lẽ tất nhiên bố
mẹ vợ nhận đồ lễ, nhưng bao giờ cũng hoàn lại một phần, thường chỉ lấy một nửa.
“lễ quý hồ thành, bất quý hồ đa” , lễ trọng ở lòng thành chứ không trọng ở chỗ nhiều.
Bố mẹ vợ không nhận cả, phần sợ mang tiếng tham, phần theo tập quán ít ai nhận đồ biếu Tết mà không lại quả, phần là để lại cho người biếu một phần.
có những trường hợp các chàng rể nài nỉ để bố mẹ vợ
nhận hết, bố mẹ vợ sẽ nói:
- Thầy đẻ (cha, mẹ) đã nhận cả, nhưng đây là thầy để biếu lại ông bà đằng nhà.
Thật là lịch sự vậy thay!
chỉ những chàng rể chưa cưới vợ mới phải đi sêu, còn những chàng rể đã cưới vợ rồi thì hết lệ sêu, nhưng trong các dịp lễ tết thường có lễ biếu ông nhạc bà nhạc. Dịp mồng 5
Mê tín dị đoan
tháng năm cũng vậy, các chàng rể dù nghèo cũng cố kiếm chút lễ mọn để biếu cha mẹ vợ, lễ biếu này nhiều ít tùy tâm và không quan trọng bằng lễ sêu.
tết tHầy HọC.
các ông đồ xưa dạy học thường không lấy học phí. Hàng năm vào dịp mồng 5 tháng năm, mồng 9 tháng chín và dịp Tết, các học trò đều có đồ lễ tết thầy. Thúng gạo, đôi ngỗng, đường bánh hoặc hoa quả tùy sự giàu nghèo và tùy tâm bố mẹ học trò.
những gia đình khá giả thưởng phong bao kèm một số tiền.
Học trò cũ đã làm nên danh vọng cũng không quên thầy về dịp này.
tết ông lang.
các con bệnh được các ông lang chữa bệnh khỏi, mặc dầu đã trả tiền thuốc, nhưng cũng không quên ơn cứu bệnh cho mình, nên trong dịp tết Đoan ngọ, còn gọi là tết hái thuốc cũng mang tết ông lang. Đồ lễ cùng gồm đậu, gạo, ngỗng, chim v.v... như đồ lễ học trò tết thầy.
tết lẫn nHau.
những người chịu ơn người khác, những kẻ dưới trong làng, để tỏ lòng biết ơn và kính trọng, trong dịp này cũng có quà biếu người trên và những người đã giúp mình.
Qua những điều biếu tết trên, ta thấy rằng dân Việt nam ta rất biết ơn cho nên sự giao thiệp giữa mọi người bao giờ
cũng tốt đẹp.
mộT Vài Câu ChuyệN Về TẾT mồNg Năm
Đã viết về Tết Mồng năm tưởng không nên bỏ qua một vài câu chuyện thường được kể truyền khẩu trong dân chúng về Tết này.
Tín ngưỡng Việt Nam
len lét nHư rắn mồng năm.
Ta hằng để ý, ngày mồng 5 tháng năm không ai gặp rắn, và trong ngày hôm đó loài rắn như sợ sệt len lét chỉ tìm cách đi trốn. Bởi vậy ta có câu len lét như rắn mồng năm.
ngày mồng 5 loài rắn sợ hãi là đúng, vì ngày hôm đó các em đều đeo bùa tui bùa túi, và những túm bùa này đều có viên hồng hoàng. chất hồng hoàng kỵ rắn, nên rắn tìm đường ẩn trốn.
Rùa ẩn trốn không phải riêng gì ngày mồng 5 tháng năm mà từ trước bữa đó và cả sau bữa đó mấy ngày nữa, suốt trong thời gian trẻ em còn đeo bùa hồng hoàng. Rắn chỉ xuất hiện khi không ngửi thấy mùi vị hồng hoàng.
Sự tíCH COn tHằn lằn (rắn mối).
Thằn lằn cũng là một loại rắn, thường bò ở các bờ dậu, bờ
tường. Thằn lằn hiền lành, thấy người thường sợ. Thằn lằn cũng sợ hồng hoàng như các loại rắn khác, ngày mồng năm tháng năm cũng đi ẩn trốn.
Sự tích con thằn lằn như sau:
Xưa có một người con nhà giàu, tính tình hào phóng. Khi cha mẹ mất, sẵn tiền của để lại, anh ta ăn tiêu thái quá đến nỗi khánh kiệt cả gia sản, phải vay mượn nhiều người nên mang công mắc nợ rất lắm, không lấy tiền đâu trả cho được.
các chủ nợ đòi, anh ta cứ hẹn lần khất lượt, cho đến một ngày bị các chủ nợ thúc bách quá, anh ta đành khất liều đến ngày mồng 5 tháng năm anh sẽ trang trải trả hết cho mọi người.
ngày hẹn tới, các chủ nợ kéo đến chật nhà. Không có tiền trả, anh đành phải đi trốn. Anh ta rúc vào một bụi cây để ẩn, nhưng các chủ nợ vẫn nháo nhác đi tìm. Sợ hãi quá, anh ta không dám thò mặt ra, rồi chết luôn trong bụi cây, hóa thành con thằn lằn.
Mê tín dị đoan
con thằn lằn xuất hiện quanh năm, nhưng đến ngày mồng 5 tháng năm, chợt nhớ tới các chủ nợ, lại vội vàng lẩn trốn nên không ai bắt gặp con vật này trong ngày hôm đó.
Thực ra con thằn lằn trốn vì sợ hồng hoàng. Tục ngữ ta có câu: trốn như thằn lằn mồng năm.
một Câu CHuyện về KHuất nguyên.
người ta lấy ngày Tết Đoan ngọ làm ngày kỷ niệm Khuất nguyên để ghi nhớ sự trung thành của một vị đại thần chỉ
nghĩ đến việc nước.
nhắc lại Tết Đoan ngọ tưởng không nên bỏ qua một câu chuyện lý thú về Khuất nguyên.
Truyện này theo các cụ Trần Lê nhân và nguyễn Văn ngọc trong “cổ Học Tinh Hoa” thì do chính Khuất nguyên viết ra để mượng lời một ông lão đánh cá tỏ bày tâm sự của mình.
Truyện như sau, theo “cổ Học Tinh Hoa”: Sau khi Khuất nguyên vì lời sàm báng của kẻ nịnh thần bị phóng khí, nghĩa là bị đuổi đi không dùng nữa, ngày ngày đi lang thang trên bờ đầm, mặt mũi tiều tụy, hình dung khô héo, vừa đi vừa hát.
có ông lão đánh cá trông thấy hỏi rằng:
- Ông có phải là Tam Lư đại phu đó không? Sao mà đến nỗi khốn khổ như vậy?
Tam Lư chính là họ của Khuất nguyên.
nghe ông lão nói, Khuất nguyên nói:
- cả đời đục, một mình ta trong; mọi người say cả, một mình ta tỉnh, bởi vậy cho nên ta phải phóng khí.
Ông lão đánh cá nói;
- Thánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tùy thời. có phải cả đời đục cả, sao ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục một thể; loài người say cả, sao ông không ăn 367
Tín ngưỡng Việt Nam
cả men, húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải lo xa nghĩ sâu để đến nỗi phải phóng khí?
Khuất nguyên nói:
- Tôi nghe: mới gội đầu tất phải chải mũ, mới tắm ra tất phải thay áo; có đâu lại đem cái thân trong sạch cho vật dơ
bẩn vào mình được? chẳng thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác vào trong bụng cá, chớ sao trắng lôm lốp, lại chịu để
dây phải bụi dơ.
Ông lão đánh cá nghe nói tủm tỉm cười, quay bơi chèo đi rồi hát rằng: Sông thương nước chảy trong veo, thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.
Sông thương nước đục phù sa
thì ta lội xuống để mà rửa chân.
Hát xong đi thẳng không nói gì nữa.
Bàn về truyện trên, hai cụ Trần Lê nhân và nguyễn Văn ngọc đã viết:
mấy câu hát của lão đánh cá thì có ý khuyên Khuất nguyên hòa quang đồng trần với đời, mấy câu Khuất nguyên nói thì lại phản đối lại; chết thời thôi chứ không chịu theo thời, không chịu dày dạn, sống đục không bằng thác trong! ôi! Không nỡ bỏ nước nhà mà lẩn lút bỏ đi ở nơi khác, lại cũng không chịu cùng tiểu nhân mà cẩu thả sống cho qua đời, sau quả
nhiên vùi xác vào bụng cá trong sông mịch la lấy nước sông mịch mà tẩy uế sự nhơ bẩn, thật là nghìn thu trung nghĩa, dòng nước sông xanh, khiến cho ai xem truyện Khuất nguyên, cũng ngậm ngùi nhớ và sinh lòng phấn khởi.
nhắc lại chuyện xưa, thử hỏi ai là người không đồng ý xót thương cho một bậc trung nghĩa cam chịu thác để cảnh tỉnh nhà vua.
*
* *
Mê tín dị đoan
cũng như phần nhiều các lễ tiết, tết mồng 5 tháng năm cũng từ Trung Quốc truyền sang Việt nam, nhưng sang đến nước ta, tết này cũng chịu sự biến đổi hình thức như các lễ tiết khác.
Dân Việt nam ta ăn tết Đoan ngọ để không quên lòng trung nghĩa của Khuất nguyên và cả sự tích nên thơ của Lưu Thần, nguyễn Triệu, nhưng cũng lại để mừng lúa chiêm mới, ăn mừng cái công lao kết quả của vụ này, công Lưu Thần, nguyễn Triệu, nhưng cũng lại để mừng mùa lúa mùa đông giá lạnh, cho đến khi gặt lúa giữa mùa nắng oi bức, nóng trên nóng dưới.
Ta có nhiều tục lệ cổ truyền về Tết, những tục lệ này đã bảo tồn được tính chất đặc biệt Việt nam của nền văn hóa ta xây dựng trên căn bản nhân nghĩa và đạo đức.
những tục Tết thầy đồ, tết thầy thuốc, biếu tặng những người đã thi ân cho mình chứng tỏ rằng lễ giáo của ta rất được tôn trọng, và những ân sâu nghĩa trọng ở Việt nam không bao giờ chúng ta quên.
Đến như tục đi sêu lại nêu ra tinh thần biết ơn nhạc phụ
nhạc mẫu đã sinh ra vị hôn thê của mình và cũng là một dịp để chàng trai tỏ lòng thương mến với cô gái qua lễ nghi phong tục.
Tết Đoan ngọ ngày nay, qua mọi biến đổi của thời cuộc vẫn tồn tại trong dân chúng với ý nghĩa thiêng liêng của nó.
Tín ngưỡng Việt Nam
lễ ThấT TịCh
Ngày lễ thất tịch nhằm ngày mồng 7 tháng Bảy. lễ
này còn gọi là lễ ngâu, vì lễ này để kỷ niệm sự tích vợ chồng ngâu, tức là ngưu lang và Chức nữ.
Tháng 7 âm lịch là tháng mưa nhiều, mưa rỉ rả suốt ngày nọ qua ngày kia, nhất là miền Bắc. Mưa này gọi là mưa ngâu, vì người ta cho đây là những giọt lệ của vợ chồng ngâu.
Sự tích vợ chồng ngâu đã được thi sĩ Tản Đà nhắc lại trong mấy vần thơ đầy nhạc điệu:
tục truyền tháng Bảy mưa ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.
một là duyên, hai là nợ,
mối xích thằng, ai gỡ cho ra.
vụng về cũng thể cung nga,
trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng!
Mấy vần thơ trên đã nhắc lại một cách rất cảm động cổ
tích thần thoại của chàng ngâu, với mối tình dang dở giữa chàng và ả chức. Ôi! Buồn đâu là buồn!
chức nữ, ái nữ của ngọc Đế có nhan sắc có tài nữ công khéo léo. ngưu Lang, chỉ là một chàng chăn trâu nhưng có tâm hồn thi sĩ, biết yêu đương tha thiết lại có tài thi phú. Trai 370
Mê tín dị đoan
tài, gái sắc, đôi bên nặng một lòng yêu. Trước mối tình đằm thắm ấy, ngọc Đế tác thành cho đôi lứa.
Đôi uyên ương được cùng nhau chung sống, hưởng hạnh phúc của tình yêu, nhưng mải mê say mối duyên vàng lụa, chàng và nàng đều xao lãng phận sự của mình. nàng thoi biếng dệt, kim chỉ biếng khâu; chàng văn biếng luyện, sách đèn biếng ngó, và cả đàn trâu cũng không buồn săn sóc đến.
Trước sự trạng ấy, ngọc Đế nổi giận, đày hai người ở hai bờ sông ngân và một năm nhờ đàn quạ đen bắc cầu, gọi là cầu Ô Thước, đôi bên chỉ được gặp nhau một lần.
Ở hai bên bờ sông ngân, chàng ngưu chăn trâu đợi ngày gặp gỡ với người yêu, còn nàng chức phải dệt lụa vá may để đền lỗi cũ.
Hàng năm tháng Bảy tới, đôi bên gặp nhau. Gặp nhau nước mắt tràn lời nói, và những dòng nước mắt của đôi bên rơi xuống cõi trần gây nên những ngày mưa liên tiếp: ấy là mưa ngâu.
Hai bên gặp nhau ngày mồng 7 tháng Bảy, ngày Thất Tịch.
Tục nói rằng, ngày hôm đó ở trần gian không có quạ, quạ
đã lên sông ngân Hà bắc cầu cho ngưu Lang và chức nữ
gặp nhau.
Tín ngưỡng Việt Nam
TẾT TruNg NguyêN
Tết Trung nguyên nhằm ngày rằm tháng Bảy âm lịch.
Về Tết này, còn có tên là Lễ Vu Lan, một lễ của nhà phật, đã được trình bày rõ ràng khi nói tới phật giáo. Ở đây chỉ nói thêm về phần xá tội vong nhân.
Theo tín ngưỡng, ta thường cho ngày rằm tháng Bảy là ngày vong nhân xá tội, nghĩa là bao nhiêu tội nhân ở dưới âm phủ, ngày hôm đó đều được tha tội. Bởi vậy, trên dương thế
mọi gia đình đều làm cỗ bàn cúng gia tiên, và đồng thời có đốt vàng mã. những gia đình có người mới mất, cũng nhân dịp này mời tăng ni tới làm chay tụng kinh và đốt vàng mã.
CúNg Cháo
Tại các cầu quán, đình chùa, đều có tổ chức cúng cháo, tức là cúng các cô hồn không ai cúng giỗ.
Họ bày cúng ở trước cửa nhà. Đồ lễ đặt trên một cái mẹ, hoặc cái nong tùy theo nhiều ít và thường gồm có cháo hoa, thứ cháo nấu bằng gạo, cơm nắm thành những nắm nhỏ, hoa quả, bánh bỏng, kẹo, trầu cau và cũng có khi có xôi chè. có nhiều đồ mã, vàng hương. Đồ mã thường là những quần áo 372
Mê tín dị đoan
cắt nhỏ, thành từng xấp. Quần áo tuy cắt nhỏ, nhưng tục tin rằng, xuống cõi âm, sẽ biến để các âm hồn vừa mặc.
Mọi người khi cúng cháo tin rằng các cô hồn những cô nhi yểu vong, những chiến sĩ chết trận, những người chết đường chết chợ, những người chết không ai biết, không ai cúng giỗ sẽ tới phối hưởng lễ cúng làm phúc trong ngày xá tội vong nhân này.
Lễ cúng, tại đình, chùa, cầu, quán tổ chức có quy mô hơn, có khi cúng đặt bàn làm chay như lễ Kỳ An lúc cuối xuân đầu hạ. Ở những nơi này, cháo được múc ra những bồ đài lá mít cắm ở hai bên đường trước lễ đài. Đồ mã cùng trái cây và đồ lễ cũng nhiều hơn. Riêng về cháo, ngoài những bồ đài lá mít, còn cả một nồi cháo đại. Khi cúng lễ xong, những người nghèo vác liễn tới xin cháo, các mục đồng và trẻ con xô nhau vào cướp những hoa quả bánh trái, tục gọi là “cướp cháo”.
những vàng mã được đem hóa, và có khi sự tụng kinh để
cầu siêu độ cho những vong hồn vô thừa tự.
ngày nay tại các công sở miền nam, mỗi năm Tết Trung nguyên tới, công chức thường góp nhau chung tiền làm lễ
cúng cô hồn...
TụC ĐốT mã
Tục đốt mã tự bên Trung Hoa truyền sang ta. nguyên đời xưa dùng đồ bạch ngọc để cúng tế. Đời sau, vì bạch ngọc đắt và hiếm, người dùng tiền để thế cho bạch ngọc. những tiền này mỗi khi cúng xong đều bỏ đi, rất phí tổn.
Trước sự phí phạm này, vua Huyền Tôn nhà Đường, ra lệnh dùng tiền giấy thay cho tiền thật, những thoi vàng, thoi bạc giấy được cúng thế cho vàng bạc thật, và những hình đồng tiền vẽ trên giấy được cúng thay cho tiền quan.
Tín ngưỡng Việt Nam
Đến đời vua Đường Thế Tôn, quan Từ tế sứ, lo việc Tế tự
là Vương Dữ, đã cho cúng toàn tiền giấy rồi đốt đi.
Về sau, thêm tục cúng quần áo mũ và đồ dùng bằng giấy, từ đời ngũ Đại.
người Trung Hoa xưa còn có tục dùng chiếc giường Vu Lan bằng tre, ba chân, có treo đồ mã, tiền mã cúng trong dịp Trung nguyên rồi đốt đi.
Ta theo người Trung Hoa, bắt chước tục đốt mã và truyền tới ngày nay.
Mê tín dị đoan
TẾT TruNg Thu
Hàng năm tết trung thu đến với chúng ta vào rằm tháng tám.
ngay từ đầu tháng, Tết đã được sửa soạn với những cỗ đèn muôn màu sắc, muôn hình thù, với những bánh dẻo, bánh nướng mà ta gọi gồm là bánh trung thu, với những đồ chơi của trẻ em muôn hình vạn trạng, trong số đó đáng kể nhất của thời xưa là ông tiến sĩ giấy.
các trẻ em đón Tết có những đèn xếp, đèn lồng sặc sỡ thắp sáng kéo nhau thành từng đoàn vui reo ca hát, tối tối cùng nhau nhởn nhơ, cùng đi đường này ngõ khác.
Và khi ngày rằm tới, có những đám múa lân rầm rộ, ngoài Bắc gọi là múa sư tử, với tiếng trống, tiếng thanh la kèm thêm tiếng pháo.
Vậy Tết Trung Thu Tết gì?
Trung Thu là giữa mùa thu, Tết Trung Thu như tên gọi, đến với chúng ta đúng giữa mùa Thu, mùa mát mẻ đẹp đẽ
nhất trong năm với trăng trong, gió mát.
Tín ngưỡng Việt Nam
NguồN gốC TẾT TruNg Thu
Theo sách cổ thì Tết Trung Thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh.
nguyên năm đó, vào đêm rằm tháng Tám, trời thật là đẹp, trăng tròn sáng tỏ, gió mát hây hây. Say cảnh đẹp của đất trời, nhà vua ngự chơi ngoài thành tới mãi trời khuya.