Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 4
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
chối không cho chịu phép này.
Đến nhà một bệnh nhân để làm phép này, câu đầu tiên của linh mục là cầu bình an cho nhà và hết mọi người trong nhà.
Sau đó, linh mục dùng nước thánh rảy cho bệnh nhân và các người trợ tá đang quỳ ở đó, phế bỏ quyền hành của ma quỷ và xin chúa hỗ trợ cho bệnh nhân.
Mê tín dị đoan
Vương cung
Thánh đường
đêm Giáng sinh.
Đêm Giáng sinh trong Thánh đường.
Tín ngưỡng Việt Nam
Xức dầu xong, linh mục đọc ba kinh nguyện xin chúa ban cho bệnh nhân:
- Được bình phục cả hồn lẫn xác;
- Được thêm nghị lực phấn khởi trước những thử thách thể
chất cũng như tâm hồn.
- Được qua cơn bệnh hoạn.
Lễ nghi được kết thúc bằng phép lành Tòa Thánh ban cho bệnh nhân để bệnh nhân được hưởng ơn đại xá trong giờ
phút lâm chung.
phép hôn phối. - phép hôn phối là một bí tích làm cho một người nam và một người nữ đã chịu phép Rửa tội liên kết với nhau trước mặt chúa như vợ chồng cho đến chết, nhận được ân sủng để thánh hóa lẫn nhau và để dưỡng dục các con cái họ về cùng chúa.
Hôn phối có từ ngày khởi thủy nhân loại, khi Thượng đế
dựng nên con người có nam và có nữ.
Theo tục lệ Thiên chúa giáo, việc hôn phối căn cứ trên mấy nguyên tắc: Đơn nhất tính và bất khả ly tính.
“con người không được quyền chia ly cái mà Thiên chúa đã phối hợp” và “kẻ nào ly dị vợ mình để cưới một người khác làm vợ phạm tội ngoại tình” (Math. XIX 6-9).
Luật về hôn phối của đạo minh xác rõ rệt: chỉ một người nam với một người nữ phối hợp với nhau cho đến khi một trong hai người chết đi.
Qua các điểm trên, ta thấy không có tục đa thê đối với tín đồ Thiên chúa giáo.
Muốn chịu phép hôn phối, cả đôi bên nam nữ đều phải đã chịu phép Rửa tội, phải có chủ tâm kết duyên với nhau, do đó sự ưng thuận của đôi bên phải tự do và chân thành. Đôi bên lại phải bày tỏ công khai sự ưng thuận trước sự hiện diện của vị
linh mục sở tại, hoặc vị thừa ủy và hai nhân chứng khác. ngoài ra cả đôi bên đều phải không bị gì ngăn trở làm phi hôn phối.
Mê tín dị đoan
Về mặt thiêng liêng, để hôn phối công hiệu đầy đủ, phải lãnh thụ trong tình trạng ân sủng vì ân sủng kết hiệp, tội lỗi chia ly.
có những ngăn trở làm phi hôn phối. ngăn trở có thể thuộc luật Thiên chúa hay luật tự nhiên: quan hệ huyết thống giữa anh chị em, thiếu ưng thuận, hay đã đính ước một hôn phối khác thành sự, v.v... ngăn trở cũng có thể thuộc phần giáo hội thiết định: Thiếu tuổi, anh chị em họ, đã chịu chức Thánh hoặc khẩn trọng trong dòng, dị giáo, v.v...
Giáo hội có thể chước miễn những ngăn trở do giáo luật thiết định chứ không có quyền chước miễn những ngăn trở
do luật Thiên chúa định.
Lễ nghi phép Hôn phối gồm việc trao đổi sự ưng thuận, trao nhẫn và phép lành cho tân hôn. Thường có Thánh lễ theo sau.
phép truyền chức. - Đây là bí tích ban cho thừa tác viên của giáo hội được quyền thừa hành các chức vụ tư tế và ân sủng cần thiết để chu toàn các nhiệm vụ đó một cách xứng đáng. Do phép truyền chức, các người lãnh thụ được phân biệt hẳn với các giáo dân thường. Họ được đặt vào một “chức”
bậc riêng biệt.
Không phải một vị linh mục được bổ nhiệm ngay linh mục. phải đi từ bước nhỏ lên. Đầu tiên phải chịu cắt tóc để
nhập hàng giáo sĩ.
Sau đó giáo sĩ được cử vào bốn chức nhỏ: giữ cửa, đọc sách, giữ quỹ và hầu lễ.
Rồi đến các chức bậc thượng: phụ phó tế, phó tế. Kể từ khi sung chức phụ phó tế, giáo sĩ có thể được cử phục vụ một địa phận. Khi được lên chức phó tế, lễ được ban hành bởi vị Giám mục địa phận. phó tế được công khai đọc phúc Âm, giảng thuyết, rửa tội trọng thể và phục vụ sát gần bàn thờ.
phó tế có thể được thụ phong linh mục. Trong lễ này, vị
Giám mục địa phận đặt lên đầu đương sự và hát kinh tiền 59
Tín ngưỡng Việt Nam
tụng. Sau đó vị Giám mục xức dầu hai bàn tay sẽ chạm đến Thánh Thể chúa. Với sự xức dầu này, vị tân chức đã nhận được quyền làm lễ và quyền tha tội.
Sau hết, một số ít linh mục được thụ lãnh chức bậc tối cao nhất của tư tế: chức Giám mục. Giám mục là linh mục hoàn toàn, là người kế vị các tông đồ có quyền thông ban chức linh mục. Giám mục lại có trách vụ cai trị địa phận, có quyền phong chức, ban hành phép Thêm sức, tấn phong các vị tân Giám mục, cúng hiến nhà thờ, bình thánh và làm phép dầu thánh.
Lễ tấn phong Giám mục cũng được cử hành với nghi lễ
đặt tay.
lễ TiẾT
Bất cứ tôn giáo nào, trong năm thường có những ngày lễ
để kỷ niệm những sự việc xảy ra cho vị giáo chủ hoặc liên quan tới đạo giáo, hay tới các nhân vật lịch sử của đạo.
Đạo Thiên chúa cũng có những ngày lễ riêng để nhắc nhở
lại cuộc đời của chúa, của Đức Mẹ qua mọi biến cố các người đã phải chịu. Lại có những ngày kỷ niệm các Thánh hoặc kỷ
niệm các sự liên quan tới đạo.
Lễ Tiết quanh năm có nhiều, nhưng có nhiều lễ chỉ riêng các tín đồ lưu ý tới, trái lại có nhiều lễ khác, không những chỉ tín đồ mà đến nhiều người không đồng tôn giáo cũng lưu ý tới.
Tìm hiểu Thiên chúa giáo, dù sơ lược cũng cần phải hiểu qua một số các lễ tiết, nhất là các lễ trọng được các tín đồ
ngoan đạo đặc biệt quan tâm đến.
Kể ra, nếu có thể, ai cũng nên tìm hiểu hết các lễ của đạo để nghiên cứu kỹ đạo, rất tiếc phạm vi một quyển sách chung về nếp cũ, đề cập tới hầu hết các tôn giáo chính đã có từ lâu 60
Mê tín dị đoan
tại Việt nam, không cho phép được trình bày nhiều hơn những điều được trình bày nơi đây, trong giới hạn một số các lễ trọng: Lễ Sinh nhật
Lễ phục Sinh
Lễ Thăng Thiên
Lễ Hiện Xuống
Lễ Mình Thánh
Lễ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội
Lễ Đức Mẹ lên trời
Lễ chư Thánh
Lễ các linh hồn
lễ SinH nHật
Lễ Sinh nhật vào ngày 25 tháng 12 mỗi năm kỷ niệm ngày chúa ra đời.
Sách phúc Âm thánh Luca đã kể câu chuyện đó được linh mục J.Trần công Hoán lược dịch như sau:
“auguto, vua nước roma, ra sắc kiểm tra dân số trong khắp nước. Cuộc kiểm tra đầu tiên do ông Cyrino, tổng đốc xứ Sria đứng điều khiển. theo lệnh, mọi người phải trở về
quê cha đất tổ để khai tên.
“lúc đó ông Siuse đang ở thành nazareth, trong xứ galilêa, bèn xuống thành Belem thuộc xứ giuđêa, vì ngài là dòng dõi và thuộc chi tộc vua David, để khai tên mình và tên bạn là bà maria, lúc đó đang có thai. Đang khi ở Belem, bà maria đến ngày sinh: ngài lấy khăn bọc và đặt nằm trong máng cỏ
con vật ăn, vì nhà quán không còn nơi nào để trọ.
“trong miền ấy có một số kẻ chăn chiên đang thức canh, bỗng thấy sứ thần thiên chúa hiện đến, đứng gần, ánh sáng bao trùm chung quanh thì sợ lắm. nhưng thiên thần an ủi rằng: Đừng sợ, tôi đến đưa tin vui mừng cho anh em và cho 61
Tín ngưỡng Việt Nam
tất cả dân nữa, là đêm nay Chúa Cứu thế đã sinh ra trong thành Belem. anh em cứ theo dấu này để nhận biết, là thấy một con trẻ bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ”.
“nói đoạn, tức thì có nhiều thiên thần trên trời xuống, hợp với thiên thần đó mà hát rằng: Sáng danh thiên chúa trên các tầng trời, và bình an dưới đất cho những ai có lòng ngay”.
“Bấy giờ tụi chăn chiên nói với nhau rằng: “ta hãy đi Belem xem những sự lạ thiên thần đã nói”. vội vã đi tới nơi thì thấy bà marie, ông giuse và con trẻ nằm trong máng.
Bọn chăn chiên cũng kể lại cho nhiều người khác những điều thiên thần đã nói và những sự mình đã được xem. những ai được nghe thì đều lấy làm lạ. Còn bà maria thì ân cần nhớ
lấy và suy đi ngẫm lại trong lòng.
“Xong rồi, những kẻ chăn chiên trở về và cảm tạ Chúa vì những điều mắt thấy tai nghe”.
Trên là sự tích chúa Jésus ra đời. chúa đã cứu nhân loại và ngày nay các tín đồ hàng năm kỷ niệm ngày chúa sinh với lòng thành kính.
Từ một tháng trước ngày lễ, tín đồ đã sửa soạn làm đèn ngôi sao, hang đá, in thiếp tổ chức diễn kịch để ăn mừng lễ
Giáng sinh. Trẻ con người lớn, đàn bà đàn ông đều lo xưng lễ. có lễ nửa đêm, lễ ban sáng, lễ buổi chiều để tín đồ tới dự.
Đêm hôm 24 rạng ngày 25 tháng 12, người ta tấp nập rủ
nhau đi lễ rồi về nhà ăn tiệc nửa đêm (Réveillon).
Đêm hôm đó các trẻ em đợi ông Già noel, nhưng đợi không được, các em đi ngủ, và sớm hôm sau các em thức dậy đã có quà của ông Già noel mang cho. Quà thường giấu trong chiếc giầy. các em tin là ông Già noel xuống bằng lối ống khói, mang quà cho các em.
Về lễ nửa đêm, tuy là lễ của Thiên chúa giáo, nhưng tại Việt nam nhiều đồng bào không theo đạo cũng đi dự lễ và cũng về ăn tiệc nửa đêm. nhiều đồng bào Thiên chúa giáo thường mời các bạn không cùng đạo tới ăn bữa tiệc này với mình.
Mê tín dị đoan
lễ PHụC SinH
Lễ cử hành vào ngày chủ nhật để kỷ niệm việc chúa sống lại sau ba ngày bị bọn cai pha giết. chúa bị giết vào ngày thứ
sáu đã sống lại vào ngày chủ nhật. Trước khi bị giết, chúa đã bảo bọn sát nhân:
- Bay cứ phá đền thờ này đi, nội trong ba ngày ta sẽ làm lại. (Đền thờ nói đây chỉ xác chúa).
Ý chúa bảo bọn giết chúa là chúng có giết chúa thì ba ngày sau xác chúa sẽ sống lại, và chúa cũng đã nói thẳng:
- Ta chết đoạn, ba ngày sẽ sống lại.
Lời nói của chúa đã làm yên lòng các Tông Đồ để họ tin chúa sẽ thoát tay kẻ ác. Bọn cai pha, khi giết chúa rồi sợ chúa sống lại đã cắt lính gác và chặn hòn đá lớn trước cửa mồ chúa.
chúa đã sống lại sau ba ngày, theo sách đạo kể lại. Khi ấy có mấy bà đem thuốc thơm đến xức xác chúa, ngó vào mộ đã biến mất. các bà đã được thiên thần cho biết chúa đã sống lại và đã đến xứ Galilêa.
Lễ phục Sinh hàng năm được cử hành để kỷ niệm ngày chúa tái sinh.
lễ tHăng tHiên
Sau khi phục Sinh, chúa Jésus chỉ sống ở thế gian 40 ngày.
Trong thời gian này, chúa thường hiện ra với các tông đồ và tín đồ để dạy bảo.
chúa đã cho biết trước là sau 40 ngày chúa sẽ lên trời.
Đúng ngày hẹn, tông đồ và tín đồ đưa chúa lên núi Oliveti.
Từ biệt mọi người, chúa lên trời: xác ngài từ từ lên cao khỏi mặt đất xê xế về phía Đông.
Trước hiện trạng lạ lùng các tông đồ và tín đồ theo dõi nhìn chúa lên thật cao cho đến khi có một đám mây che khuất.
Mọi người mong chờ đám mây tan ra để lại thấy chúa. có hai người ăn vận trắng toát hiện đến và bảo: 63
Tín ngưỡng Việt Nam
- Hỡi các người xứ Galilêa, sao còn đứng trông làm chi nữa. chúa đã lên trời.
Theo kinh sách, trước khi về trời, chúa Jésus đã nói mấy lời rất quan trọng:
a) Ta đã được mọi quyền trên trời dưới đất.
Ý câu này muốn nói quyền chúa bao la khắp mọi nơi, đối với tất cả.
b) Hãy đi khắp thế gian giảng cho mọi loài.
Ý chúa muốn đạo được quảng bá khắp mọi nơi, ở đâu có loài người, không phân biệt màu da hay tầng lớp xã hội.
c) Ai tin và chịu phép Rửa tội thì sẽ được cứu rỗi; ai không tin và không chịu phép Rửa tội, thì sẽ bị phạt.
Ý chúa muốn cho con người cũng được lên Trời như chúa, nhưng con người phải sạch hết mọi tội lỗi.
ngày chúa lên trời đã như khắc ghi trong tâm khảm các tín đồ. chúa đã nói những điều thiêng liêng, mong mỏi loài người sẽ sạch tội lỗi để cũng được lên Thiên Đường với chúa.
Lễ chúa lên trời chính là để kỷ niệm ngày chúa từ biệt thế gian, từ biệt các tông đồ và các tín đồ.
lễ Hiện Xuống
Lễ Hiện Xuống cử hành vào một chủ nhật, mười ngày sau Lễ chúa lên Trời.
nguyên trước khi từ giã tông đồ và tín đồ về trời, sợ mọi người buồn hoặc đâm ra ngã lòng. chúa nói không để họ mồ
côi. chúa cần về trời để chúa Thánh Linh hiện xuống dạy mọi người mọi sự.
Mọi người ở núi Oliveti trở về ngôi nhà Tiệc ly, nơi chúa đã ăn bữa tối sau hết. Ở đây họ cấm phòng cầu nguyện đợi chúa Thánh Linh hiện xuống.
ngày thứ 10, vào lúc 9 giờ sáng, đang lúc mọi người im lặng, đột ngột từ trời thổi xuống một làn gió mạnh rung chuyển cả nhà, rồi thấy trêm đầu mỗi người sáng lên một tia lửa to 64
Mê tín dị đoan
bằng hai ngón tay. chính trong lúc đó, tông đồ cũng như tín đồ cảm thấy vui sướng. chúa Thánh Linh đã hiện xuống.
Tin này không mấy chốc đồn đại đi khắp nơi. người ta kéo đến vây lấy các tông đồ, người ta gồm đủ sắc dân đủ
ngôn ngữ, vậy mà các tông đồ nói được đủ thứ tiếng của đủ
người. Đó là phép thiêng liêng của chúa Thánh Linh. nhiều sự lạ xảy ra khiến mọi người có tín nhiệm ở chúa. Trong dịp này ông Thánh phêrô đã giảng một bài giảng rất được hoan nghênh. Sau bài giảng 3000 người xin trở lại đạo. con số ngày càng tăng, từ nước Do Thái lan dần tới năm châu.
Lễ Hiện Xuống kỷ niệm sự việc chúa Thánh Linh hiện xuống với gió và lửa, gió làm cho mát mẻ và đun đẩy lôi cuốn. ngọn gió thiêng liêng này đã làm nhẹ nhàng mát mẻ linh hồn, làm tiêu tan hết mọi sự nặng nề khó thở. còn lửa để soi sáng và hun ấm. ngọn lửa chúa Thánh Linh đặt trên đầu óc và đem sự sáng láng trong linh hồn. ngoài ra với ngọn lửa, chúa có ý làm nóng lên những tâm hồn nguội lạnh để những tâm hồn này sốt sắng tha thiết với tất cả những gì về linh hồn, về chúa, về sự cứu rỗi đồng bào. Gió và lửa đã làm cho các tông đồ trở
nên mạnh bạo, thông minh để làm việc chúa.
lễ mìnH tHánH
Tìm hiểu lễ Mình Thánh, phải trở lại năm 1208. Hồi đó tại thành Liège nước Bỉ có một chị phụ nữ tu tên là Juliana thường cứ thấy hiện ra trước mặt mình hình một mặt trăng tròn và sáng sủa lắm, nhưng lại sứt mất một chỗ. Hình mặt trăng này luôn luôn theo dõi chị, khiến chị tưởng là ma quỷ
trêu chọc. chị phải đến nhà chầu cầu nguyện xin chúa soi sáng cho biết. chúa cho chị hiểu: Mặt trăng là Hội thánh.
Hội thánh đã đẹp đẽ nhưng thiếu lễ Mình Thánh. chị phải vận động để có lễ đó.
Trong 20 năm Juliana không dám nói ra chỉ suy nghĩ một mình. Đến khi được làm bề trên mới bàn với hai linh mục về
Tín ngưỡng Việt Nam
việc này là hai linh mục Jean de Lausanneur ở Liège và linh mục Jacob pantaléon ở pháp, linh mục này sau chính là Giáo hoàng Urbanô IV. Hai cha tán thành cùng với một số các nhà thần học, nhưng phần đông các linh mục và tín đồ phản đối cho rằng lễ nào cũng là lễ Mình Thánh và trong mọi lễ, tín đồ đều nhận Mình Thánh. Họ cho rằng không có chúa nào dạy và Juliana đã tưởng tượng ra.
Rồi họ buộc cho Juliana nhiều tội khiến vị Giám mục địa phận phải can thiệp và viết thư luân lưu tán thành việc vận động của Juliana. Vị Giám mục lại lập trong địa phận lễ kính Mình Thánh vào ngày thứ năm sau tuần lễ Hiện Xuống. chẳng may năm đó vị Giám mục qua đời. Juliana lại bị khủng bố
bởi những người không đồng ý với bà và bà phải rời nhà dòng đi nơi khác.
Khi bà Juliana tạ thế, bà bề trên kế vị là bà Eva cũng đồng ý với bà Juliana. Bà viết thư tâu Giáo hoàng, tức là linh mục Jacob pantaléon trước, về việc vận động của bà Juliana.
cùng trong thời gian đó, ở thành Bolsena nước Ý, có xẩy ra một sự lạ: có một linh mục từ lâu vẫn nghi ngờ và bối rối, không biết sau khi đã truyền, hình bánh có thật trở nên Mình Thánh chúa chăng, thì một hôm sau khi đã đọc lời truyền phép, người trông thấy trên khăn thánh máu đổ lai láng, làm ướt cả khăn.
Việc này đến tai Giáo hoàng Urbanô. Giáo hoàng ra lệnh kiệu chiếc khăn đó vào một nhà thờ để tín đồ kính viếng.
Theo giáo dân thì khăn thánh đó nay vẫn còn và hàng năm sau lễ Mình Thánh được rước đi qua các phố rồi trưng bày cho tín đồ tới kính viếng.
Kể từ năm 1264, lễ Mình Thánh được chính thức lập.
Mục đích lễ Mình Thánh là để tôn trọng chúa Jésus và để
tạ ơn chúa đã đem thịt và máu mình chuộc tội cho thiên hạ.
Mê tín dị đoan
lễ ĐứC mẹ vô nHiễm nguyên tội
Theo Giáo hội đã tuyên bố thì Đức Mẹ Vô nhiễm là Đức Mẹ không mắc tội.
Hễ ai là người đều liên đới trách nhiệm với ông bà thủy tổ, Adam và Êva, chỉ trừ có Đức Mẹ không vướng vào tội này.
Lễ này có mục đích nhắc lại sự tin nhận Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên Tội.
Về phần lịch sử lễ này, các sách đạo có nhắc lại hai niên hiệu chói lọi đáng ghi nhớ: 1854 và 1858.
năm 1854, vào đúng ngày lễ, đức Giáo hoàng pio IX, tại nhà thờ ông Thánh phêrô ở La Mã. Trước mặt nhiều Hồng y Giám mục, thần học và đoàn sứ thần các nước đã long trọng tuyên bố trong một đạo sắc buộc toàn thể giáo hữu phái tin nhận Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên Tội. Lời tuyên bố đã được hoan nghênh.
Trước đó toàn thể giáo dân khắp nơi đã ăn chay cầu nguyện, và sau đó bao nhiêu sách báo không phù hợp với đạo sắc phải đốt xé đi, và bao nhiêu tư tưởng lệch lạc phải uốn nắn lại.
Đến năm 1858, Đức Mẹ đã hiện ra tại bang Massabielle, khu này ở Lộ Đức và đã cho một em bé gái là Bernadette trông thấy nhiều lần, và trong lần thứ 16 Đức Mẹ đã xưng với em bé mình là Đấng Vô nhiễm nguyên Tội.
lễ ĐứC mẹ lên trời
Lễ kỷ niệm ngày Đức Mẹ rời bỏ thế gian để lên thiên đàng, cử hành hàng năm, vào ngày 15 tháng 8.
Từ trước, giáo dân vẫn tin Đức Mẹ, cả phần hồn lẫn phần xác đã lên trời, nhưng mãi cho tới năm 1950, Giáo hoàng pio XII mới long trọng tuyên bố và buộc hết mọi giáo hữu phải tin điều này.
chung quanh việc Đức Mẹ lên trời, được kể lại rằng, sau khi chúa Jésus không còn ở thế gian, Đức Mẹ còn lưu lại 23
năm nữa để an ủi và giúp đỡ các Thánh tông đồ.
Tín ngưỡng Việt Nam
Khi biết được mình sắp được về trời, Đức Mẹ nhắc các tông đồ trở về Jérusalem. các tông đồ, trừ Thánh Thomas, đã được gặp Đức Mẹ lúc lâm chung.
Đức Mẹ tắt thở, phòng xác sáng lên và có mùi thơm tho.
Sau ba ngày kính viếng của tông đồ và giáo hữu, đám tang được cử hành và xác Đức Mẹ đã chôn trong một ngôi mộ
cách Jérusalem 300 bước.
Khi ở mộ ra về, mọi người gặp ông Thomas vừa ở xa về
đến. Ông Thomas xin trở lại mộ và xin mở mồ để thấy mặt Đức Mẹ lần chót. Mở mồ ra: mọi người đã sửng sốt vì xác Đức Mẹ không còn nữa. Ở nơi mồ bốc ra một mùi thơm bát ngát. Mọi người nhìn nhau và ai nấy đều tin Đức Mẹ
đã lên trời.
Đối với Giáo hội, trên Thiên đàng cũng như ở trần gian, Đức Mẹ được nâng lên cao trên các Thiên Thần, các Thánh tông đồ và hết mọi Thánh. Vào bất cứ nhà thờ nào cũng đều có ảnh tượng Đức Mẹ. nhiều bài kinh bài hát đã có để thờ
kính Đức Mẹ.
lễ CáC tHánH
Lễ cử hành ngày 1 tháng 11 mỗi năm với mục đích làm lễ
kính chung tất cả các Thánh, đấng đã được phong và đấng không được phong như các trẻ nhỏ chết sau khi chịu phép Rửa tội, những người lớn tử vì đạo và hết thảy những ai đã sống trong thánh thiện.
Vì đạo, biết bao nhiêu người xứng đáng bậc thánh nhưng không được phong chức Thánh, và con số có lẽ còn nhiều hơn con số các Thánh đã được Hội thánh phong chức.
Thực ra Hội thánh muốn phong chức cho tất cả những người xứng đáng, nhưng vốn là người ở cõi trần, Hội thánh không sao biết hết được.
Mê tín dị đoan
Bởi vậy với lễ các Thánh, Hội thánh làm lễ kính chung mọi vị đã xứng đáng bậc Thánh đối với đạo, dù đã được phong chức hay không. các Thánh nay đã lên thiên đàng sung sướng, phúc đó rất đáng cho tín đồ ao ước trông mong.
Lễ các Thánh ngoài việc kính lễ chư Thánh còn có ý nghĩa khuyên nhủ tín đồ sống trong thánh thiện để mở đường lên với chúa.
lễ CáC linH Hồn
Lễ cử hành hàng năm vào ngày 2 tháng 11, sau ngày lễ
các Thánh một hôm. Trong lễ này các tín đồ cầu nguyện cho linh hồn những người đã quá cố. Và cũng trong ngày hôm nay người ta rủ nhau đi thăm mộ, đặt bó hoa, sửa lại nấm mộ.
Xét qua các tiết lễ Thiên chúa giáo, nhiều lễ thật có ý nghĩa không những đối với tín đồ mà đối với tất cả mọi người. Mặc dầu trong mọi lễ, chỉ nêu lên một kỷ niệm về đạo, nhưng thực tế cũng đã bao hàm biết bao nhiêu ý nghĩa khuyến thiện.
những điều viết trên về các tiết lễ chỉ là những điều sơ lược, nhưng cũng đủ nói lên ý nghĩa của mỗi lễ.
Tìm hiểu một tôn giáo không phải chỉ tìm hiểu qua mấy chục trang giấy, cũng như tìm hiểu một tiết lễ không phải chỉ
tìm hiểu qua mươi dòng in.
nếu thấy quá sơ sài, chỉ nên coi đây như những điều chỉ
dẫn sơ lược, và các sách khác sẽ giúp các bạn tìm biết kỹ
lưỡng hơn.
KẾT luậN
cũng như các tôn giáo khác ở Việt nam, Thiên chúa giáo đã được người Việt nam đón nhận một cách nhiệt thành vì giáo lý của đạo, vì đức hạnh của các tu sĩ và vì sự tổ chức quy mô đã đem lại lòng tin cho con người.
Tín ngưỡng Việt Nam
người Việt nam theo Thiên chúa giáo, lẽ tất nhiên phải, như tín đồ ở bất cứ nơi nào, tuân theo những giáo điều và buộc mình theo những tục lệ của đạo. có nhiều tín đồ Việt nam là những người rất ngoan đạo, nhưng trong khi tuân theo tục đạo vẫn không bỏ tục của đất nước, họ đã khéo hòa hợp những cái hay của dân tộc với những cái hay của đạo giáo.
ngày nay chúng ta có thể thấy rằng việc thờ phụng gia tiên đã được Thiên chúa giáo chấp thuận. những ngày giỗ, tết nguyên Đán các đồng bào Thiên chúa giáo cũng sống theo nếp cũ, tuy có một điều dị biệt nhỏ không đáng kể.
Trong Thiên chúa giáo, chúng ta cũng thấy có những điều so với các tôn giáo khác không kém phần huyền hoặc, nhưng đối với tín đồ đây chỉ là những phép lạ thiêng liêng. chúng ta hãy chấp nhận những điều đó, cũng như những điều mà chúng ta cho là huyền hoặc ở các tôn giáo khác. Về tôn giáo, chớ
nên bàn cãi tới phần thiêng liêng, chỉ nên căn cứ vào giáo lý.
cứ kể ra tìm hiểu một tôn giáo, mấy chục trang trong sách này đâu đã nói được nhiều. Mới chỉ đủ nêu lên những điều sơ lược nhất, tuy nhiên chắc chắn những điều sơ lược cũng giúp ích được bạn đọc phần nào để hiểu biết một tôn giáo đứng vào hàng quan trọng tại Việt nam.
mười Điều răn Của ĐứC CHúa trời
1. Thờ phượng một đức chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự;
2. chớ kêu tên đức chúa Trời vô cớ;
3. Giữ ngày chủ nhật;
4. Thảo kính cha mẹ;
5. chớ giết người;
6. chớ làm sự dâm dục;
7. chớ lấy của người;
Mê tín dị đoan
8. chớ làm chứng dối;
9. chớ muốn vợ chồng người;
10. chớ tham của người.
Sáu Điều răn Của Hội tHánH
1. Xem lễ ngày chủ nhật cùng các ngày lễ buộc; 2. chớ làm việc xác ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc; 3. Xưng tội trong một năm ít là một lần; 4. chịu Mình Thánh Đức chúa Trời trong mùa phục sinh; 5. Giữ chay những ngày Hội thánh buộc; 6. Kiêng thịt ngày thứ sáu cùng những ngày khác Hội thánh dạy.
amen ngHĩa là gì?
Amen đôi khi có nghĩa là “mong thay”, “ước chi được như
vậy”, chẳng hạn cuối một lời cầu xin. nhưng Amen ở cuối dấu Thánh giá hay cuối kinh Tín Kính thì có nghĩa gì?
Không cần phải dịch tiếng Amen, gốc tiếng là do tiếng Hy Bá Lai, nhưng đã được đưa vào hết các ngôn ngữ. Tổ tiên ta cũng khởi sự các việc phụng vụ như thế này: “nhân danh cha và con và Thánh thần - Amen”.
Amen theo tiếng Hy Bá Lai có nghĩa là: bền vững, lâu dài, chắc chắn.
Khi hô lên tiếng Amen lại có nghĩa là; Được! Hoan hô!
Đồng ý! Đúng rồi! Thật vậy! A ha!
Amen tỏ lòng tin tưởng, quả quyết, nhiệt hứng.
chúng ta thưa Amen biểu đồng tình với vị linh mục. chúng ta tán đồng, lời thỉnh cầu của ngài, chúng ta nhấn mạnh lời ngài quả quyết. chúng ta biểu quyết theo như cuộc vận động của ngài.
“Xin vâng” “Xin hợp ý” là một lời nhẫn nhục, tuân phục.
Amen là tiếng hoan hô của những con người dũng cảm vững chí.
Tín ngưỡng Việt Nam
“Mong thay” có thể nói nhỏ thì thầm.
Amen phải hô cho lớn tiếng, ca cho đẫy giọng.
Amen là lời hợp nhất tín hữu với linh mục.
Amen là tiếng hợp nhất các tín hữu với nhau.
Amen không khó hát gì cả: chỉ một hay vài cung thôi.
Hát Amen đối với tín hữu là điều tối thiểu và thiết yếu trong việc tham dự lễ Misa.
Thánh Âu cu Tinh nói: Trong Thiên đàng, chúng ta sẽ ca Amen và Alleluia.
QUốc GIA VATIcAn
thành phần lãnh thổ.
nước Vatican là một quốc gia đặt dưới quyền lãnh đạo tối cao của đức Giáo hoàng. Đó là một nước quân chủ nhỏ nhất trên thế giới. Vatican nằm gọn trong thành Roma, trên một diện tích 440.000 thước vuông.
Lãnh thổ Vatican gồm có điện Vatican, viện bảo tàng, viện mỹ thuật, các công viên, thư viện, đài phát thanh, bưu điện, ngân hàng, đài thiên văn, các công sở, công thự, đại Thánh đường phêrô và những tòa nhà kế cận Thánh đường cho đến đường Viale Vaticano.
Tại Roma, ngoài thành Vatican, còn có 13 cơ sở khác thuộc quyền tư hữu của Tòa Thánh, như các đại Thánh đường Đức Bà, đại Thánh đường Thánh Gioan ở Laterano và đại Thánh đường phalô ngoài thành. ngoài ra một số công thự dùng làm trụ sở
cho nhiều Thánh Bộ như Thánh Bộ Truyền Giáo ở công trường Tây Ban nha. Và sau hết, biệt thự castel Gaudlofo, nơi đức Giáo hoàng thường qua mùa hè, cách Roma chừng 30 cây số
về phía Bắc, cũng thuộc thành phần lãnh thổ của nước Vatican.
tổ chức chính quyền
Đức Giáo hoàng chính là quốc vương nước Vatican. Trong tay ngài có trọn cả quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp. Thường 72
Mê tín dị đoan
ngài trao quyền ấy cho một Ủy ban Quốc hội chỉ huy và điều khiển. Hiến pháp Vatican dựa trên bộ Giáo luật. Trường hợp nào Giáo luật không đề cập tới, sẽ được bộ dân luật Roma bổ túc.
Vatican là một quốc gia trung lập hoàn toàn, nơi đây thể
hiện đầy đủ mọi quyền hành và đặc ân của nước độc lập, tự
do và hạnh phúc. Đức Hồng Y Quốc vụ khanh thay mặt đức Giáo hoàng, đứng phụ trách ngành ngoại giao với các quốc gia trên thế giới. các Đức Hồng y thuộc giáo triều mà ở ngoài thành Vatican đều được hưởng đặc ân như công dân Vatican.
chỉ những công dân Vatican mới phải tùng phục đức Giáo hoàng như là một thủ lãnh một quốc gia.
Dân số và chức dịch.
Dân số chính thức của nước Vatican không được 1.000
người. Đại đa số là linh mục và tu sĩ, còn người ngoài ra là nhân viên chức dịch thư ký, v.v...
Binh sĩ và đoàn tháp tùng đức Giáo hoàng gồm có hai đội chuyên nghiệp và ba đội danh dự. Từ năm 1506, vệ binh Thụy Sĩ nhận trọng trách bảo vệ an ninh cho đức Giáo hoàng. Hiến binh tòa Thánh kiêm cả ngành cảnh sát của đô thành Vatican.