Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 7

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Để thực hiện sách Sunna, người ta đã dò hỏi thân bằng quyến thuộc Giáo chủ từ lúc nhỏ đến khi chết về những chi tiết trong cách ăn ở của Giáo chủ. Sau đó, mọi điều được đem xếp loại và ghi chú.

nếu Kinh coran ghi những điều Giáo chủ đã nói thì sách Sunna ghi những việc Giáo chủ đã làm SáCH HaDitH

Sách Hadith sưu tập các lời nói, cử chỉ, hành động của Giáo chủ mà Kinh coran và Sunna chưa nói tới cùng với những lời nói, cử chỉ, hành động hoặc của các bạn của người, hoặc của các Giáo trưởng kế tiếp ngài với mục đích dùng làm mẫu mực cho hậu thế. Sách Hadith đã được các nhà truyền giáo Hồi giáo coi là những nguyên tắc căn bản cho luật Giáo hội với những phong tục luật khẩu truyền, bao trùm lên cả

những luật thành văn đã tìm thấy trong Kinh coran, họ cho rằng những điều luật trong kinh chỉ có giá trị lý thuyết chứ

không có giá trị thực hành, còn Hadith mới là những điều luật của các nhà lãnh đạo tôn giáo đã thực hành qua nên có tính cách thực tế hơn.

Việc sưu tầm sách Hadith rất lâu và đã hoàn thành vào thế kỷ thứ IX.

Sách Hadith trước có nhiều bản khác nhau, nhưng về sau được tập trung đúc kết thành hai bản chính gọi là cahih.

Về kinh cũng như sách Hồi giáo, tuy đã có sự nhiệt tâm thống nhất, nhưng việc giải thích kinh sách vẫn có nhiều sự khác biệt, do đó trong Hồi giáo đã nẩy sinh ra nhiều chi phái khác nhau.

giáo lý hồi giáo

Giáo lý Hồi giáo được ghi trong Kinh coran, và được các tín đồ tuân theo.

Mê tín dị đoan

Kinh dạy các tín đồ tin theo đức Allah, vào Giáo đồ của ngài gửi xuống và vào những chữ mà ông đọc thấy. Kinh cũng dạy những kẻ nào không tin đức Allah, không tin các vị thần linh của người, không tin vào Giáo chủ của người thì đến ngày tận số sẽ hoàn toàn lạc lõng.

Vậy muốn tìm hiểu giáo lý của đạo, người ta căn cứ vào Kinh coran.

vũ trụ quan Hồi giáo - Quan niệm của Hồi giáo về chúa, về Vũ Trụ, về người, về Thiên Thần và về ma quỷ như sau: chúa. - chúa là ngôi độc nhất vĩnh cửu, không dính dáng đến loài người và không có cái gì sánh kịp.

chương II Kinh coran có ghi:

“Không có một đấng thiêng liêng nào khác ngoài Allah.

chỉ có một đấng Allah và Mohamed là người của ngài sai xuống.

Chúa allah bất diệt.”

Vũ trụ. - Hồi giáo cho là có tất cả bảy trời và bảy đất. Bảy lớp trời lồng lớp nọ lên lớp kia thành bảy tầng và ở trên là một đại dương ánh sáng, rồi đến nhiều miền khí nhẹ trước khi đến Thiên đường. Thiên đường có bảy khu riêng biệt.

Dưới đất ta ở là địa ngục và có tất cả sáu địa ngục. Trời đất đã được đấng Allah cấu tạo trong sáu ngày.

Hai ngày đầu sinh các trái đất.

Hai ngày giữa sinh muôn loài sống trên trái đất.

Hai ngày cuối sinh ra các trời.

người. - cũng giống như Gia tô giáo, Hồi giáo cũng nhận Adam là thủy tổ loài người và do đấng Allah nặn thành bằng đất sét rồi thổi sinh khí vào, kế đó, cũng như trong kinh Thánh Gia tô giáo, đấng Allah lấy mảnh xương sườn của Adam để

tạo ra Eva. Lúc đầu hai người ở trên Thượng giới nhưng sau 109

Tín ngưỡng Việt Nam

mắc tội phải đầy xuống trần gian. Ông Adam xuống đỉnh núi ở

Tích Lan(1) Xơ ri lan ca, bà Eva xuống miền Mecca. Hai trăm năm sau họ gặp nhau ở Arafât. Ông Adam cảm động phát khóc, nước mắt ông nhuộm đen viên đá hiện còn thờ ở đền Kaba.

Sau bà Eva chết ở Jidda gần Mecca.

Đấng Allah đã ban phép cho Adam sinh ra ở đằng lưng để

sinh ra loài người, và mọi người lúc sơ khai đều có đức tin và đều là tín đồ Hồi giáo.

Hồi giáo công nhận con người có linh hồn và thể xác, trong suốt đời người hai phần kết hợp chặt chẽ với nhau. Hồn chỉ

tách rời khỏi xác khi chết để sau này trong ngày Thánh quyết lại nhập vào xác để tái sinh, con người Hồi giáo có ba kiếp sống: đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai. Ba đời sống này liên quan với nhau bằng ngày Thánh quyết. có đức tin sẽ

được lên Thiên đường, trái lại sẽ phải sa địa ngục.

thiên thần. - Thiên thần Hồi giáo không phân biệt nam nữ.

Thiên thần không cần ăn uống vẫn sống.

Thiên thần có kẻ tốt người xấu và mỗi người đảm nhiệm mỗi việc: làm mưa gió, thổi kèn báo hiệu ngày Thánh quyết, gác cửa địa ngục, giữ cửa thiên đường, phụ trách cái chết của loài người v.v...

Về các thần xấu có hai vị là Haret và Maru đã phạm tội gái đồng trinh và đã dạy loài người phép thuật để ám hại nhau.

Lại có thần Shaitan cũng xúi giục Adam và Eva làm điều trái.

ma quỷ - Ma quỷ do thần lửa Sâmun tạo ra.

Ma quỷ có sống, có chết và có ăn uống như loài người. Ma quỷ cũng có kẻ tốt kẻ xấu, kẻ tin đấng Allah, kẻ không tin, và do đó khi chết có kẻ lên thiên đường và có kẻ xuống địa ngục.

1. Theo Phật giáo, nơi này là vết tích của Thích Ca, theo Ấn Độ giáo thì nơi đây là vết tích của thần Vishnou.

Mê tín dị đoan

Ma quỷ có trước loài người và sống khắp thế gian, và về

sau khi có loài người, chúng bị thiên thần xua đuổi vào trong núi, sống ngoài ranh giới của trái đất.

NhâN SiNh quaN hồi giáo

Tín đồ Hồi giáo là những tín đồ có lòng tin mãnh liệt, vì vậy nên về phương diện nhân sinh học là những người theo đúng quy giáo hơn bất cứ tín đồ tôn giáo nào.

Hôn nhân. - Hồi giáo cho sự thành lập gia đình là cần thiết để bảo tồn nòi giống và duy trì xã hội, không chấp nhận sự

độc thân. Kinh coran cho phép mỗi người đàn ông được lấy bốn vợ chính và một số nàng hầu vô hạn định. chính Giáo chủ Mohamed đã rất dè dặt trong vấn đề đa thê. người có khuyên tín đồ trong chương IV, Kinh coran, để tránh bất công chỉ nên lấy một người đàn bà hay mua một nữ nô lệ mà thôi.

người Hồi giáo tránh lấy người trong họ trực hệ, không lấy người cùng nuôi bằng một thứ sữa, - con người vú nuôi

- không lấy chị em nhà vợ, và sau hết không được lấy con gái nuôi của mình hoặc của vợ mình.

có thể lấy vợ ngoại đạo, nhưng không thể lấy chồng khác tôn giáo được.

Đàn ông có quyền ly dị, nhưng sau hai lần thì không thể bỏ

người vợ thứ ba, nếu người vợ ly dị thứ hai chưa lấy chồng.

có thể lấy lại người vợ đã ly dị nhưng với điều kiện người này đã lấy qua một đời chồng khác và đã bỏ người ấy rồi.

chồng chết, đàn bà có thể tái giá sau bốn tháng mười ngày; những người bị chồng bỏ, có thể lấy chồng sau ba tháng.

Trong gia đình người đàn ông có toàn quyền.

Đàn bà và thiếu nữ trưởng thành phải tránh xa đàn ông lạ; họ phải đeo mạng để tránh người ngoài nhìn thấy.

Tín ngưỡng Việt Nam

ngoài những cuộc hôn nhân chính thức, người đàn ông có quyền mua những con gái về chung sống ít lâu rồi đuổi đi khi họ chán.

người Hồi giáo, qua các điểm trên theo chế độ phụ quyền, không có nam nữ bình đẳng.

con cái. - con cái để bảo tồn nòi giống.

Trẻ con sinh ra được bảy ngày được đặt tên.

Khi con trai được 7 tuổi hoặc 15 tuổi có lễ cắt quy đầu.

nô lệ. - Xã hội Hồi giáo chấp nhận sự nô lệ, tuy chính Giáo chủ Mohamed khuyên các tín đồ phải tìm mọi cách để

cứu vớt người nô lệ. người hằng nói: Việc trả tự do cho các nô lệ là một điều thiện và người cũng nhấn mạnh:

nếu một nô lệ có đơn xin trả tự do thì phải trả cho nó nếu ta xét xứng đáng.

các nô lệ đàn bà nếu có con, đương nhiên phải trả tự do.

Thâm tâm của Giáo chủ Mohamed, muốn chế độ nô lệ

được bãi bỏ.

chính trị. - chính trị của Hồi giáo dính liền với tôn giáo.

Điều 57, chương IV Kinh coran có ghi quyền tư pháp dành cho mọi tín đồ có một tâm hiểu biết đầy đủ, quyền hành pháp chỉ đấng Allah mới có và do người đại diện người sử dụng.

các tổ chức chính trị trong xã hội Hồi giáo đều do Giáo hội chi phối, mà đứng đầu là Giáo chủ và các Giáo trưởng kế vị người.

hồi giáo Tại ViệT Nam

Tại Việt nam, Hồi giáo là tôn giáo của một số các đồng bào người Việt gốc chàm ở các tỉnh miền Trung và của toàn thể các đồng bào người Việt gốc chàm tại tỉnh châu Đốc, 112

Mê tín dị đoan

tập trung xung quanh xã châu Giang, bên kia bờ Hậu Giang, đối diện với thị xã châu Đốc.

Hiện nay Hồi giáo trên thế giới có bốn môn phái chính.

Málekite ở Bắc phi châu.

Hánefite ở Thổ nhĩ Kỳ, một phần Algerie và Tunisie.

Lanbalite ở Arabie Séoudite.

chafeite ở Á châu, trong đó có Việt nam.

Hàng năm đồng bào chàm ở đây, nhất là đồng bào chàm ở châu Đốc, gởi người đi hành hương tại Mecca hiện nay nằm trên lãnh vực nước Arabie Séoudite. Mecca là thánh địa của người Hồi giáo Việt nam cũng như tín đồ Hồi giáo các nơi khác.

những người chàm đi hành hương trở về được mang danh vị Hadji, và được đón tiếp rất nồng hậu.

Đi hành hương rất tốn kém, chỉ những người giàu có mới đi được. Hiện tại ở châu Đốc có lối chừng 20 Hadji. những Hadji này được vấn khăn sãi. ngày nay có nhiều người chưa đi hành hương cũng vấn khăn này, nên sự nhận diện các Hadji qua y phục không đúng hẳn như xưa. Ở Việt nam, Hồi giáo không lan rộng, nhưng những tín đồ người việt gốc chàm luôn luôn là những tín đồ trung kiên.

Tín ngưỡng Việt Nam

CáC ôNg Đạo

ông Đạo tức là một người tu hành hoặc theo pháp môn này hoặc theo pháp môn khác để trước là tự giải thoát mình, sau là giúp đỡ cho người, với một thành khẩn đáng kính.

Tuy nhiên, trong số các ông Đạo, có nhiều người lợi dụng sự quá tin của quần chúng đã bày đặt ra những điều huyễn hoặc để cầu thu lợi trong đám đồng bào chất phác chân thật.

các ông đạo được xưng danh theo cách hành đạo của mình, hoặc theo hình dáng hoặc theo một vài sự kiện đặc biệt gì đã xảy ra.

Về các ông đạo, nhà văn nguyễn Hiến Lê trong cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười” đã viết:

Không một tổng nào trong năm, mười năm mà không nảy ra một ông “đạo”. Hễ khác người một chút - như cao quá, thấp quá, mập quá, gầy quá, - hoặc có những hành vi lạ

lùng là thành ông đạo rồi. Chẳng hạn có ông đạo cao, cao trên hai thước, đi đến đâu trẻ cũng bu lại ngó; có ông “đạo nằm”, tiếp khách cũng nằm; có ông “đạo câm”, ông không câm thật đâu mà không bao giờ mở miệng nói, cha mẹ hỏi cũng không đáp, ai trêu tức cũng làm thinh, lại có ông đạo đi rất chậm, khoan thai bước từng bước một và cứ đúng ba 114

Mê tín dị đoan

bước lại ngừng một chút, nhưng hình như có lần bị một ông chủ quận sai lính quất, đạo ta chạy le te và mất chức đạo từ

đó; rồi có “đạo ớt” chỉ ăn cơm với ớt, có “đạo rắn” luôn luôn có một con rắn quấn cánh tay, sau chết vì rắn...

Kỳ dị nhất là “đạo chó” ở miền Đốc vàng. anh em bà con không còn ai, đạo ta sống nhờ trong một chiếc ghe nhỏ mục nát đã kéo lên bờ, ngày ngày đi làm mướn, hoặc chèo ghe, hoặc lợp nhà. tính tình siêng năng và thuần phác, chỉ có mỗi một tật là thờ chó. Đạo ta nuôi một con chó đốm, mua thịt cho nó ăn, may áo cho nó bận, mỗi ngày hai lần thắp hương cúng nó, nhưng không phải dùng nó vào việc tìm vàng đâu, mà chỉ được cái vui là thờ nó thôi. Khi con chó chết. Đạo ta đóng một cái hòm áo quan nhỏ và táng nó long trọng như

táng cha mẹ, cũng để tang, cũng khóc lóc thảm thiết.

Không sao kể hết những hành vi điên khùng của bọn “đạo”

ấy, hầu hết họ đều vô học, ngu xuẩn mà được nhiều người nghe và phục chỉ vì họ được cái thuật nói úp mở, ai muốn hiểu cách nào cũng được. tín đồ của họ có khi hàng trăm, hàng ngàn, cung phụng họ rất trọng hậu, may quần áo rất sang cho họ bận, nấu những món rất quý cho họ ăn, đem tiền bạc cúng cho họ tiêu, lái xe hơi lại rước họ về nhà, hầu hạ họ như hầu hạ vua chúa, chăm chú ghi chép lời nói của họ như những lời trong thánh kinh; họ nhăn mặt là cả nhà sợ sệt van lạy; họ mỉm cười là vợ chồng hoan hỷ như được trời ban phước lớn.

................

Bọn “đạo” ấy thường chỉ được sung sướng trong năm sáu tháng, nhiều lắm là một hai năm rồi bỗng nhiên không ai nhắc tới họ nữa; họ đi đâu, sống hay còn, tại sao mà đi, tuyệt nhiên không ai biết, hoặc biết mà không nói ra. ít lâu sau lại xuất hiện những ông “đạo” khác, cũng chỉ thịnh trong một thời gian ngắn.

Tín ngưỡng Việt Nam

Qua mấy dòng trên, nhà văn nguyễn Hiến Lê chỉ nói tới những ông đạo đã bày đặt những điều huyền hoặc hoặc lợi dụng sự quá tin của đồng bào nông thôn. Kể về những ông đạo này, mấy dòng trên thật không là quá đáng. Tuy nhiên, song song với các ông đạo ấy, nhiều ông đạo khác đã tu hành đứng đắn cầu mong sự giải thoát tội lỗi của bản thân cũng như của đồng bào, và những ông đạo này lại là những người có học vấn, chứ không phải chỉ là những kẻ vô học. các ông đạo này, có ông có những đặc điểm khác thường khiến người đời phải chú ý như ông đạo Dừa.

Dưới đây, xin nhắc lại đôi ba ông đạo chúng tôi được biết qua các tài liệu bạn hữu thu thập giúp. Và xin bắt đầu bằng ông đạo Dừa.

ôNg Đạo dừa

Ông tên thật là nguyễn Thành nam, sinh năm Kỷ Dậu (1909) tại xã phước Thạnh, tổng An Hòa, quận Trúc Giang, tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), con ông nguyễn Thành Thúc, và bà Lê Thị Sen.

Ông nguyễn Thành Thúc, xưa làm chánh tổng, trong nhà sung túc nên đã cho con sang du học pháp quốc theo ngành kỹ sư hóa học tại Rouen ba năm và tại các trường khác, từ

năm 1928 đến năm 1935.

Ở pháp trở về, ông lập gia đình với cô Lộ Thị nga ái nữ

ông bà nghiệp chủ Lộ công Huân và bà nguyễn Thị cúc. Ở

cuộc nhân duyên này, một cô con gái ra đời, ông đặt tên là nguyễn Thị Khiêm tự Loan Anh.

Đang sống yên vui với gia đình bỗng nhiên ông tính tình thay đổi, chán đường trần tục với vợ đẹp con khôn hướng về sự tu hành.

Mê tín dị đoan

năm 1945, ông rời bỏ gia đình vào vùng Thất Sơn xin quy y cầu đạo với hòa thượng chùa An Sơn, núi Tượng, tu theo hạnh đầu đà, ngồi tại bệ đá trước cột phướn chùa ba năm, đêm ngày tịnh khẩu, chịu đựng gió sương ruồi muỗi, thân hình chỉ còn da bọc xương, đến bữa ăn ôm bình bát hóa trai rồi lại trở về chỗ cũ.

năm 1948, hạn tu đã mãn, ông trở về Định Tường Tiền Giang ngồi tựa mé sông cửu Long trên cầu Bắc, hành đạo hai năm, trước kẻ qua người lại. năm 1950, ông trở lại xã phước Thạnh dựng đài bát quái cao 14 thước, ban đêm lên ngồi hành đạo trên đài cao, choàng một manh áo, chịu đựng nắng mưa. Về ăn uống rất đơn sơ với trái cây thổ sản một lần một ngày vào đúng ngọ. Mỗi năm ông chỉ tắm một lần vào ngày phật Đản, nhưng trong thời gian sau, ba năm ông mới tắm một lần.

Ông thờ cả nho, Thích, Đạo. Ông không tụng kinh gõ mõ, chỉ tham thiền.

Kể từ ngày ông lập lò bát quái, dân chúng thường lui tới viếng thăm, nhưng ông vẫn tịnh khẩu, chỉ dùng bút viết câu trả lời khi có ai hỏi. Ông khuyên mọi người tu tại gia, ăn chay trường.

năm 1958, ông viết giấy gửi cho ngô Đình Diệm, rồi ông bị bắt bỏ tù hai ba lần.

Đời tu hành của ông thật là chìm nổi.

năm 1964, ông tới cồn phụng, giữa sông cửu Long gần cầu Rạch Miễn, dựng đài bát quái cao 18 thước để tu hành.

Tại đây, ông lập ra thuyền Bát nhã, ghe chài, đài cầu nguyện lộ thiên, luôn luôn có các ông đạo rung chuông; lại thêm có trái đất, chữ Vạn, Thập tự giá và nhiều dấu hiệu khác. Ông giải thích việc ông làm nơi đây là việc thiên cơ, một ngày kia sẽ ứng nghiệm, còn việc rung chuông, ông cắt nghĩa đó là chuông cầu nguyện cho phong vũ điều hòa, dân an quốc 117

Tín ngưỡng Việt Nam

thái, người bớt chết, biết thương yêu và đoàn kết để cùng cầu Tiên, phật, Thánh sớm ra đời mới mong chấm dứt cảnh nồi da xáo thịt.

năm 1967, ông có qua nam Vang và đã bị bắt giữ một thời gian mới được thả về.

Thật ra việc làm của ông rất khó hiểu. phải chăng, ông chịu tu hành khổ hạnh để trước giải thoát mình, sau là cứu đồng bào chúng sinh?

nhưng việc làm của ông là hay hay dở, liệu có ích lợi cho nhân quần xã hội chăng?

Thời gian sẽ trả lời chúng ta.

ôNg Đạo KiẾNg

Không ai biết tên thật của ông, có mấy người thân thuộc gọi ông là ông Mười phé.

Ông được gọi là ông đạo Kiếng vì lúc ngồi tham thiền ông có để tấm gương to ở trước mặt.

Trước ông lập am ở núi cấm, sau ông lập am ở xã Long Điền, quận chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Tín đồ theo ông khá đông.

có lúc ông ở chợ Thủ, và ở nơi đây ông cho làm một chiếc thuyền Bát nhã rất đẹp, với sức chở được 7 tấn.

các tín đồ cho rằng, với thuyền Bát nhã ấy, ông sẽ cứu vớt được các đệ tử trong ngày tận thế.

năm 1945, ông bị quân pháp bắn chết ở vùng Thất Sơn, và thi thể ông được các đệ tử đưa về mai táng tại Long Xuyên.

ôNg Đạo Cậy

Ông tên thật là nguyễn Văn cậy quê ở xã Bình Hòa (Mạc cần Dưng) tỉnh Long Xuyên.

Thuở nhỏ, ông mắc một chứng bệnh rất lạ lùng. Hàng năm cứ đến mùa đông đến, thì từ đầu gối trở xuống bàn chân có 118

Mê tín dị đoan

nổi những vòng tròn như vảy cá hô. Đầu mùa thu thì vảy cá lặn, rồi khi đông đến vảy cá lại nổi lên,.

các tín đồ của ông cho đó là vảy rồng và tin rằng ông có mạng lớn, nên theo và sùng bái ông rất tận tình.

Ông có lập am tại xã Bình Hòa gọi là Thất bửu tự. Ông có phù phép và hốt thuốc nam chữa bệnh. Tín đồ ông rất đông.

Ông cao vào khoảng 1 thước 45, và tuy ông là ông Đạo, nhưng ông để tóc.

chữa bệnh, ông chuyên dùng cây gáo vàng, cưa ra từng miếng nhỏ, đốt thành than rồi tán ra thành thuốc chữa hết mọi bệnh.

Ông chết năm 1966, thọ vào khoảng 54 tuổi, ở ngay xã Bình Hòa.

ôNg Đạo Thứ

Gọi là ông đạo, nhưng chính ra phải kể ông là một nhà ái quốc, vì ông muốn dựa vào việc tu hành để mưu cầu việc diệt xâm lăng.

Ông tên thật là nguyễn phước Thứ quê ở Thất Sơn. Ông tu theo lối luyện phù phép, - mà người ta gọi là gian đạo sĩ.

Ông muốn dùng bùa phép trong đại sự.

Ông hạ sơn, lập am tại xã phú Lâm, quận Tân châu, tỉnh châu Đốc. Ông vẫn tu hành, trị bệnh, nhưng đồng thời ông vẫn kết nạp đồng chí để mưu việc đánh đuổi giặc pháp.

Việc của ông bị bại lộ, hương chức xã mật báo với quận.

Quân pháp đã được điều động từ châu Đốc đến xã phú Lâm bao vây am của ông. chúng bắt ông và đem giết rồi bêu đầu.

Truyện này xảy ra cuối thế kỷ trước, vào năm 1895.

Tín đồ ông rất thương tiếc, dân chúng rất uất hận, nhưng trước bạo lực của giặc pháp, mọi người đành phải chờ thời...

Tín ngưỡng Việt Nam

Mê tín dị đoan

PhầN Thứ haI

Mê tín

dị đoan

Tín ngưỡng Việt Nam

Mê tín dị đoan

mê TíN dị ĐoaN

Mê tín là tin một cách mê muội bất cứ một điều gì, còn dị đoan là tin theo những việc dị kỳ, những việc không thể có được.

người có óc mê tín thì bạ đâu tin đấy, tin cả điều hay tin cả điều dở, tin điều phải mà cũng tin điều trái, không suy xét, còn người có óc dị đoan thì ưa tin những điều huyền hoặc, càng dị kỳ lại càng tin.

Xét ra khắp trên thế giới ở đâu cũng có người mê tín dị

đoan, nhưng sự mê tín và dị đoan cũng thay đổi tùy theo không gian và thời gian, và cũng tùy theo tôn giáo nữa. có khi một điều đối với tôn giáo này là phép lạ, nhưng đối với tôn giáo khác lại là một điều mê tín dị đoan.

Xưa kia, dân ta sợ sấm sét mưa bão, tin tưởng đó là những vị thần có uy quyền và có thể giết hại con người được. ngày nay với khoa học tiến bộ, dân ta không còn hoàn toàn tin như

vậy, nhưng lại có những điều mê tín mới, thí dụ như kiêng con số 13, lựa số xe 9 nút và sợ những con số bù, v.v...

Ở phi châu, nhiều bộ lạc tin rằng, mỗi khi giết người đàn ông lấy bộ phận sinh dục của người đó nấu ăn sẽ được khỏe mạnh. người Trung Hoa tin rằng, mỗi khi ân ái cùng một trinh nữ sẽ được may mắn.

Tín ngưỡng Việt Nam

Sự mê tín muôn hình nhiều sắc, thay đổi qua từng dân tộc cũng như qua từng thời đại.

người Việt nam chúng ta xưa nay cũng có những điều mê tín dị đoan riêng, thường được biểu lộ trong nếp ăn ở, trong đời sống hàng ngày, và trong tín ngưỡng.

Sự mê tín đị đoan tuy ngày nay nhờ ánh sáng văn minh đã bớt, nhưng không phải là không còn nhiều.

Trong nếp sống hàng ngày qua quan, hôn, tang, tế, có rất nhiều sự dị đoan mê tín, nhất là ở vùng quê. người thành thị

nhiều khi nghe thuật lại một vài sự dị đoan mê tín thì cho làm lạ, nhưng đối với người dân quê, những điều đó chỉ là những điều rất thường.

Trong tập nếp Cũ - Con người việt nam qua các giai đoạn từ lòng mẹ tới lòng đất, mỗi giai đoạn khi có những điều mê tín dị đoan, hoặc những điều mà ngày nay bị coi là như vậy, cũng đều đã có trình bày qua, cũng như qua phần trên về tôn giáo, những điều bị coi là mê tín dị đoan của mỗi tôn giáo cũng đã lược qua. Ở đây, chỉ xin nói những điều chưa đề cập tới ở tập “nếp Cũ - Con người việt nam” và ở phần trên.

những điều mê tín sẽ nói trong phần này, sở dĩ được dành riêng là vì có nhiều điều người viết không dám gán cho tôn giáo nào, vì gán như vậy sẽ làm giảm uy tín của tôn giáo đó, và cũng có nhiều điều gán cho tôn giáo nào cũng được mà chính ra không phải chính xác của tôn giáo nào cả. Đây chỉ

là những điều mà môn đồ lưu phái các tôn giáo, dựa vào các điều chính yếu của tôn giáo này bày đặt ra để trục lợi trong đám dân chúng hiền lành chất phác. Tỷ như Dịch của nho giáo không phải là sự bói toán ngày nay, nhưng các bốc sư

đã nhất định bảo rằng việc xem bói chính xuất phát ở nho giáo mà ra. Lại cũng như đã trình bày trong phần thứ nhất những biến thể của đạo Lão do các môn đồ lưu phái hành đạo sai lạc gây ra và đã tạo nên rất nhiều điều huyền hoặc.

Mê tín dị đoan

những điều này đã ăn sâu vào đầu óc của dân ta và nhiều người cho là đã có sự ứng nghiệm.

Ở phần này, còn rất nhiều điều tương tự như những điều đã nói ở trên, và những điều này, cũng như những điều đã được trình bày chúng ta cần phải biết nhiều trước hết để hiểu kỹ phong tục của ta, và sau là tìm cách hoán cải những điều mê tín có hại tới đời sống cũng như tới bước tiến của dân tộc. có những điều mê tín vô hại, những điều dị đoan ngộ

nghĩnh có thể được chấp nhận cho tồn tại cũng như tại các nước tiên tiến vẫn còn những điều mê tín dị đoan không ai cần sửa đổi ngăn cấm. Lại có những điều hình thức như mê tín dị đoan, mà chính nguyên căn có thể lại là những điều dùng khoa học mà giải thích được.

TụC Đi Thề

Hai người nợ nần nhau, hoặc hai người muốn gắn bó cùng nhau điều gì thường rủ nhau tới một ngôi đền có tiếng là linh thiêng để thề nguyền.

Lễ cử hành trước thần linh. người thề cầm dao cắt cổ một con gà và thề nếu mình gian giảo hoặc bội ước sẽ bị thần linh vật chết như con gà.

Thề xong hai người đều lễ trước bàn thờ.

NhữNg Điều KiêNg Kỵ

Bất cứ dân tộc nào trên thế giới và theo tín ngưỡng nào đều có những điều kiêng kỵ nhiều khi rất vô nghĩa.

người phương Tây sợ con số 13, họ kiêng ba người hút thuốc lá châm cùng một que diêm..., những điều kiêng kỵ của họ cũng rất nhiều, thay đổi tùy theo từng quốc gia và có khi còn có sự thay đổi tùy theo từng địa phương nữa.

Tín ngưỡng Việt Nam

Dân Việt nam ta cũng rất nhiều kiều kiêng kỵ, mà dưới đây xin kể ra một số những điều kiêng kỵ thông thường nhất.

những điều kiêng đầu năm. - Với năm mới, mọi việc người ta đều thận trọng vì sợ bị giông, (rủi ro, xui xẻo) và do đó người ta đã có những điều kiêng kỵ rất kỹ lưỡng.

Kiêng nói những tiếng có thể đem sự không may lại như

những tiếng: khỉ, chết.

Kiêng gắt gỏng, e nhăn nhó quanh năm.

Kiêng mặc màu trắng, màu trắng là màu tang tóc, đầu năm mặc màu trắng sợ là một điềm gở.

những người có đại tang, ngày Tết không tới nhà bạn hữu, sợ các bạn hữu kiêng mang sự tang tóc lại.

các chủ nợ không dám đòi nợ đầu năm, và cả đầu tháng nữa vì các con nợ kiêng, e cả năm hoặc cả tháng sẽ có người đòi nợ. Do tục kiêng này, tối hôm 30 Tết, chủ nợ phải đòi cho hết nợ, và những con nợ không có tiền trả nợ cũng phải đi trốn cho đến lúc giao thừa mới dám trở về nhà. Đêm hôm đó các chủ nợ hết sức thằng thúc các con nợ,. Ta có câu “Giàu có ba mươi Tết mới hay”, là vì người sung túc không mắc nợ, ba mươi Tết không có chủ nợ tới đòi.

Kiêng mặc màu chàm cũng như kiêng mặc màu trắng.

Kiêng quét nhà sợ cả năm làm ăn không lợi.

Làng chưa làm lễ động thổ, kiêng đào đất hoặc giã chầy cối sợ động.

Kiêng nói tục, sợ giông, nói tục quanh năm.

những điều kiêng kỵ đầu tháng. - những điều kiêng kỵ đầu năm thường cũng được kiêng vào ngày đầu tháng, trừ một vài điều như động thổ, quét nhà.

Kiêng nói những tiếng không hay và kiêng nói tục.

Kiêng gắt gỏng.

Kiêng mặc màu trắng và màu chàm.

* những người buôn bán, đầu tháng còn kiêng: 126

Mê tín dị đoan

- người nặng vía tới mua hàng,

- Đánh đổ điếu, đánh đổ nước mắm, đánh đổ bình vôi,

- Xuất tiền,

- Bán chịu.

* những điều kiêng kỵ lúc bắt đầu làm một việc gì.

Đi chợ kiêng gặp người xấu vía hoặc gặp gái.

Mở cửa hàng kiêng ngày xấu và kiêng bán chịu.

* những điều kiêng kỵ khác.

Tháng ngâu kiêng cưới xin sợ vợ chồng chia rẽ như vợ

chồng ngâu.

năm cùng tháng tận kiêng làm nhà cửa và các việc vui mừng, e không gặp may.

Trong việc vui mừng và tế tự, trừ tế đám tang, kiêng mặc đồ trắng e thất kính và có sự rủi ro.

Hiếu chủ kiêng ăn trầu, kiêng việc vui mừng, kiêng mặc đồ tơ lụa, e thất hiếu.

nhà có tang, kiêng dùng đồ đỏ e trái lễ.

Đàn bà chửa kiêng gần tử thi và kiêng đưa ma, trừ trường hợp đại tang, e độc.

Mẹ chồng chửa kiêng cưới con dâu, e độc.

Vợ chửa, chồng kiêng sát sinh và kiêng đóng cọc.

Đàn bà chửa kiêng cắt tiết gà, tiết vịt.

người mới đẻ kiêng không cho người ngoài giắt tiền vào phòng, sợ trẻ giật mình.

người mới đẻ, người ngoài kiêng vào nhà, sợ cung long, làm ăn lẩn quẩn và động đâu đổ đó.

Kiêng không cho người có chửa ở nơi khác tới đẻ ở nhà mình vì tục cho rằng sinh dữ, tử lành.