Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPart 21
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Lúc đó có một ông già đầu bạc phơ trắng như tuyết chống gậy tới bên nhà vua.
Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị
thượng tiên giáng thế.
Ông già kính cẩn chào nhà vua rồi hỏi:
- Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?
nhà Vua liền trả lời có.
Vị tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hóa phép ra một chiếc cầu vòng, một đầu giáp cung trăng, còn một đầu ăn xuống đất.
Tiên ông đưa nhà vua trèo lên cầu vòng, chẳng bao lâu đã đến cung trăng. phong cảnh nơi đây thật đẹp, một vẻ đẹp khác xa nơi trần thế. có những nàng tiên nữ nhan sắc với những xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, đẹp như những bài thơ hay, nhảy múa theo những điệu vô cùng quyến rũ, đủ
muôn hồng ngàn tía.
nhà Vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện.
Về tới trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung Quảng và những giờ phút đầy thơ mộng nhà vua đã qua ở nơi đây.
Để kỷ niệm cái ngày du nguyệt điện, nhà vua đặt ra Tết Trung Thu.
Trong ngày Tết này, người ta uống rượu thưởng trăng, và vì vậy Tết này còn được gọi là tết trông trăng.
Mê tín dị đoan
TrăNg Với TruNg Thu
Tết Trung Thu sơ khởi là Tết Trông Trăng, vậy đã nói đến Tết Trung Thu không thể bỏ qua trăng được, Trăng đã được in hình trên mặt bánh Trung Thu, trăng đã được vẽ trên mặt đèn đêm rằm tháng Tám.
Trăng là gì? Qua những bài học trong lớp tiểu học, Trăng là một hộ tinh của trái đất và xoay quanh trái đất, mỗi vòng là một tháng theo âm lịch. Ta thấy được mặt trăng nhờ ánh sáng mặt trời chiếu vào. Tùy theo vị trí của trăng với mặt trời đối với quả đất, ta thấy trăng khuyết hay trăng tròn. Khi nào bóng quả đất che kín hết mặt trăng là có nguyệt thực, xưa ta gọi là gấu ăn trăng.
Trước khi mỗi lần có nguyệt thực, ta cho là có loài gấu trên trời ăn mất mặt Trăng, nên đem chậu thau, mâm đồng, thanh la, não bạt ra gõ tới khi hết nguyệt thực, tức là tới khi gấu sợ tiếng gõ ở trần gian phải nhả mặt trăng ra.
TrăNg Theo Tử Vi Đẩu Số
Theo tín ngưỡng của ta, trăng không phải như thế, Trăng là một vị sao tên gọi thái âm tinh. Theo Tử Vi thì sao Thái Âm chủ về Điền, chủ về Văn học. người nào có sao Thái Âm thủ mệnh thì thông minh, thanh kỳ, uy nghiêm. Thái Âm đắc địa phải ở hai cung Hợi và Tý.
Thái Âm cư Hợi là nguyệt tăng thiên môn, trăng ở cửa trời, thật là tốt, nhất là lại gặp sao Hóa Kỵ là mây, thực là trăng sáng lại thêm mây ngũ sắc vây quanh càng thêm rực rỡ.
Thái Âm cư Tý cũng tốt. Đây là nguyệt minh sương hải, tức là trăng ở cửa bể, đang sáng rõ. Ở đây trăng gặp mây cũng đẹp, nghĩa là Thái Âm ngộ Hóa Kỵ cũng tốt.
Đã có Thái Âm, lại có thêm Thiếu Âm, vị trăng non, trăng sáng càng sàng thêm, số càng tốt.
Tín ngưỡng Việt Nam
nhưng phải cẩn thận, nếu Thái Âm gặp lũ sát tinh gồm Kình Dương, Đà La, Kim Tinh, Thiên Không và Địa Kiếp thì phải coi chừng những tai nạn rủi ro.
Đấy là nói trăng theo Tử Vi đẩu số.
TrăNg Theo quaN Niệm ĐôNg PhươNg
ngoài Tử vi đẩu số, người phương Đông ta còn hiểu trăng theo nhiều lối khác.
Trăng là cung Quảng Hàn của chư tiên, nơi Đường Minh Hoàng đã được lên du ngoạn và đã được thưởng thức ở đó hai điệu múa “nghê thường” và “vũ y” do các tiên nữ xiêm y lộng lẫy ca múa và là nguồn gốc của Tết Trung Thu.
Theo sách “Thiên văn chí” của Tầu thì mặt trăng là khí Thái âm kết tinh, ngược với mặt trời là khí Thái dương kết tinh, - Thái âm là hơi lạnh và Thái dương là hơi nóng.
Mặt trăng thuộc quyền của vị nữ thần Thái Âm vợ của thần Thái Dương tức là mặt trời.
Thái Âm thần nữ ngự ở quảng hàn cung, toàn bằng ngọc lưu ly, trong suốt như pha lê, hào quang chói lọi nhưng lúc nào cũng giá lạnh như băng. Thái âm thần nữ cai quản một số các tiên nữ và những linh vật.
NhữNg liNh VậT ở CuNg TrăNg
như trên đã nói, trên cung trăng có nhiều linh vật thuộc quyền cai quản của Thái Âm thần nữ. những linh vật này đều hiền từ ngoan ngoãn, và trong số đó đáng kể nhất là hai con thiềm thừ và ngọc thỏ.
COn tHiềm tHừ
- Thiềm thừ là một giống cóc, đầu có sừng bằng thịt, bụng có vệt chữ bát màu đỏ.
Mê tín dị đoan
Tiền thân Thiềm thừ là nàng Hằng nga, vợ chàng Hậu nghệ, vua xứ Hữu cung, có tài thiện xã bách phát bách trúng. Hậu nghệ có dịp lên vườn Lãng Uyển, xin đức Giao Trì Vương Mẫu ban cho thuốc trường sinh bất tử. Mang thuốc về, Hậu nghệ không uống ngay, phải mang quân đi đánh giặc nên cất thuốc vào lò.
Ở nhà Hằng nga đã ăn trộm thuốc trường sinh uống rồi nàng bay lên mặt trăng vào ra mắt Thái Âm thần nữ, kể rõ sự tình, cầu xin thần nữ che chở.
Thái Âm thần nữ biến Hằng nga thành con Thiềm thừ, đem giấu ở một nơi kín đáo trong cung Quảng Hàn.
Hậu nghệ đi trận về, thấy mất cả vợ lẫn thuốc trường sinh tức giận lắm. chàng cho là vợ đã lên trời, chàng quyết tìm nàng cho bằng được.
Thời ấy, trên trời có mười mặt trời. ngờ vợ ẩn trong những mặt trời này, Hậu nghệ đã bắn chín mặt trời nhưng không thấy vợ. Hậu nghệ bớt lại mặt trời thứ mười để lấy ánh sáng ban ngày, cũng như chàng không bắn rơi mặt trăng vì ban đêm chỉ có một mặt trăng. chàng cần có ánh sáng ban đêm để soi đường cho chàng đi tìm vợ. chàng không tìm thấy Hằng nga, nàng vẫn biến hình ẩn núp trong cung Quảng cho tới ngày nay.
COn ngọC tHỏ.
con ngọc Thỏ có sự tích như sau:
nguyên ngày xưa có thời mất mùa, người vật đều nhịn đói.
các loài vật khó kiếm thức ăn, tàn sát lẫn nhau.
Loài thỏ yếu đuối, không khí giới tự vệ, không dám thò ra ngoài kiếm ăn. chúng đành nằm một chỗ kín đáo cùng nhau nhịn đói. Đã đói lại rét, chúng rủ nhau tới một đống lửa, không biết có ai đốt sẵn, nằm quanh đống lửa nhìn nhau, con nào cũng ươn ướt hoen lệ.
Tín ngưỡng Việt Nam
Trước tình trạng não nề ấy, một con thỏ vì thương đồng loại, nhảy mình vào đống lửa tự thui để những con khác có cái ăn cho đỡ đói.
Vừa lúc ấy, đức phật đi qua. ngài thầm khen nghĩa khí của con vật. ngài nhặt nắm xương của nó, hóa phép cho nó thành hình toàn bằng ngọc thơm tho và trong sáng, đưa nó lên cung Quảng Hàn, xin cho nó một viên thuốc trường sinh và nói với Thái Âm thần nữ cho nó được lưu lại ở đây.
Cây Đan quế.
ngoài các linh vật tại cung Quảng Hàn còn có bóng một cây mà ở trần gian ta nhìn lên thấy hình đen trên mặt trăng.
Đó là cây Đan quế tức là cây quế đỏ.
Theo sách Trung Hoa, cây này cao một trăm linh năm thước, gốc lớn vô cùng, đường kính ước vài ba trượng. cây sống hàng ngàn vạn năm. Gỗ và vỏ rắn như thép. Gốc cây có nhiều vết băm đỏ vì quanh năm lúc nào cũng có người suốt đời cầm búa bổ vào gốc cây. Ở mặt đất nhìn lên ta thấy bóng đen của người đó ở gốc cây.
người đó, ta gọi là thằng cuội, nhưng theo người Tầu thì hắn là ngô cương. Xưa kia ngô cương đã tu tiên đắc đạo, nhưng sau vì làm nhiều điều càn bậy trong chốn tiên cung, bị đức ngọc Hoàng nổi giận bắt đày xuống cung trăng, giao cho việc chặt và bóc vỏ cây Đan quế. cây Đan quế cũng như
thép, đâu có như cây quế thường, ngô cương chặt làm sao cho nổi và bóc làm sao được vỏ. Bởi vậy cho tới ngày nay, ngô cương vẫn cố chặt cây này và bóc vỏ để người trần chúng ta, mỗi đêm trông lên lại thấy bóng chàng đang lúi húi ở gốc cây.
truyện tHằng Cuội.
Đã nói đến ngô cương của người Tàu, lẽ đâu ta lại quên mất thằng cuội của chúng ta. ca dao có câu: 380
Mê tín dị đoan
thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Bỏ trâu ăn lúa, gọi cha ời ời!
Cha còn cắt cỏ trên trời
mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.
Thằng cuội là ai? chính là cái bóng người trên cung trăng mà người Tầu gọi là ngô cương và cây Đan quế của người Tầu, đối với chúng ta chỉ là cây Đa thần.
Sự tích thằng cuội ắt hẳn chúng ta ai cũng biết. Đó là một kẻ đi nói dối cha, về nhà nói dối chú. Suốt đời chỉ nói dối đánh lừa người.
Sau cùng nó đã đánh lừa được một lão trượng hiền lành, và lão trượng này đã cho nó một cây đa thần có thể dùng lá chữa được người chết sống lại. Lão trượng dặn nó mang về
phải luôn luôn tưới cho cây tươi tốt.
cuội nghe lời lão trượng mang cây về trồng ở mé Đông và dặn vợ hàng ngày tưới nước cho cây.
Lão trượng cũng lại dặn cuội là cây Đa thần kỵ nước tiểu, trồng cây ở hướng Đông thì mọi người phải đi tiểu về hướng Tây, bằng không cây sẽ dông lên trời mất.
Về nhà cuội cũng dặn vợ và người nhà:
- có tiểu thì tiểu đằng Tây, chớ tiểu đằng Đông cây dông lên trời.
Hàng ngày cuội vào rừng đốn củi, ở nhà vợ cuội vẫn tưới cây rất chăm chỉ. cho đến một hôm vì vợ cuội mải mê công việc khác quên không tưới cây, chợt cuội về đến ngõ, vợ cuội mới nhớ ra nhiệm vụ tưới cây của mình. Sợ đi múc nước tưới cây, chồng trông thấy sẽ mắng là mình sơ khoáng, nàng vội vàng chạy tới gốc cây, ôm váy lên... tiểu vào đó!
nàng đã phạm điều kiêng.
nàng vừa tiểu vào gốc cây, cây bỗng từ từ nhổ gốc và bay lên trời. cuội vừa về tới nơi, thấy cây dông lên trời, sẵn tay có chiếc cuốc, liền móc ngay vào gốc cây, mong giữ được cây lại.
Tín ngưỡng Việt Nam
nào ngờ, cuội đã không giữ được cây Đa thần lại, mà chính cuội lại bay theo cây Đa lên trên cung Quảng cho tới ngày nay.
chẳng biết ở trên cung Trăng, cuội có nhìn xuống trần gian để
ngắm chúng ta không, nhưng trần giới chúng ta, hàng năm, rằm tháng Tám, chúng ta vẫn uống rượu trông trăng nhìn lên cuội.
NhữNg TụC lệ TroNg Ngày TẾT TruNg Thu Trong ngày tết Trung Thu để thưởng trăng có nhiều cuộc vui được bày ra, có cuộc vui riêng trong gia đình, có cuộc vui công cộng. người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em.
tHi Cỗ và tHi Đèn.
Trong tết Trung Thu người ta bày cỗ bánh trái hình mặt trăng, trưng đèn kết hoa, có nhảy múa ca hát và nhiều nơi có những cuộc rước đèn múa lân rất tưng bừng náo nhiệt.
Trăng hôm rằm tháng tám thường trong và đẹp.
Để thưởng thức trăng trong gió mát, các văn nhân thi sĩ
bày ra ngâm vịnh trước những mâm cỗ, dưới ánh trăng với bánh trung thu hình mặt trăng.
nhiều nơi có những cuộc thi đỗ, thi làm bánh trung thu.
Đây là dịp để khuyến khích các bà nội trợ và các cô gái trong việc nữ công.
Lại có treo đèn kết hoa để mâm cỗ thêm màu sắc, bánh mứt thêm hoa mỹ, cuộc thi do đó thêm tưng bừng.
các trẻ em có những cuộc rước đèn và nhiều nơi có mở
cuộc thi đèn: đèn làm hình mặt trăng, làm hình các linh vật trong cung trăng.
Trong trăng chơi đèn đêm rằm tháng tám để nhớ lại sự tích Đường Minh Hoàng du nguyệt điện.
Mê tín dị đoan
nhiều gia đình bày cỗ riêng cho trẻ em, và trong mâm cỗ
xưa kia thường có ông tiến sĩ giấy đặt ở nơi cao đẹp nhất, chung quanh là bánh trái hoa quả.
Sau khi chơi cỗ trông trăng, các em cùng nhau phá cỗ vào lúc đã khuya khuya, nghĩa là cùng nhau ăn mâm cỗ này.
Hát trống quân.
Về tháng Tám có tục hát trống quân, nam nữ đối đáp cùng nhau.
Sách chép rằng tục hát trống quân bắt đầu từ đời nhà Tống, dưới triều vua Tống nhân Tôn.
nguyên thời đó thường có giặc, quân lính phải luôn đi trận, khi Tết Trung Thu đến nhớ nhà, trễ nãi việc binh nên ông Bao chuẩn mới đặt ra lời hát trống quân với những câu hát cho quân lính ganh đua nhau đối đáp, quên bớt nỗi hồi luyến quê hương.
Dân chúng thấy lối hay hay hay, hàng năm tới Tết Trung Thu cũng hát trống quân để thưởng trăng nam nữ đối đáp cùng nhau.
Trống quân lập ra ở các thôn xóm bằng những vật liệu rất rẻ tiền. Trước hết là một chiếc thùng gỗ hoặc thùng sắt tây rỗng. Trên mặt thùng có căng một giây thừng hoặc một giây thép hai đầu buộc chặt vào hai chiếc cọc đóng xuống đất ở
hai bên chiếc thùng, cách xa chiếc thùng mỗi bên chừng hơn một thước. Muốn cho dây thừng hoặc dây thép được thật căng, dùng một hoặc hai que nhỏ chụm vào nhau, chống đỡ
sợi dây trên mặt thùng. Đánh trống quân, có những chiếc dùi nhỏ bằng cỡ chiếc thước kẻ. Dùi đánh vào chiếc dây căng bật ra những tiếng thình thùng thình là nhịp cho câu hát.
trống quân, trống quýt, trống còi, ta chẳng lấy nó, nó đòi lấy ta.
thình thùng thình
trống quân anh đánh nhịp ba,
lúc vào nhịp bảy, lúc ra nhịp mười, thình thùng thình.
Tín ngưỡng Việt Nam
Hát trống quân đôi bên nam nữ đối đáp với nhau bằng những câu hát vận, nghĩa là hát theo vần, theo ý, hoặc bằng những câu hát đố, nghĩa là hát để đố nhau. có khi những câu hát đã có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra.
cuộc đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui và nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc.
Về nguồn gốc hát trống quân, có người cho rằng lối hát này thuần túy Việt nam, bắt đầu từ đời nhà Trần. Từ đó, khi quân Việt phải chống quân nguyên, đức Trần Hưng Đạo đặt ra lối hát trống quân để quân lính mua vui với nhau.
Ông Văn Thôn, trong “Văn Hóa nguyệt San” số 23, tháng 7 năm 1957, lại cho là tục hát trống quân mới có từ đời vua Quang Trung, ông đã viết:
Riêng về nước ta, vị anh hùng dân tộc Quang Trung cũng đánh dấu ngày rằm tháng Tám bằng một cử chỉ không nhuộm vẻ hoang đường, đài các nhưng vô cùng thiết thực mà nên thơ, muốn cho binh sĩ theo ngài đi đánh Đông dẹp Bắc quên nỗi nhớ
nhung cố quận, vua Quang Trung đã cho họ trong các giờ nhàn rỗi, nhất là các đêm có gió mát trăng thanh, cùng nhau hội họp, để vừa hát đối, một bên nam, một bên giả nữ, vừa đánh nhịp vào một đường dây thép, căng trên một chiếc thùng rỗng ruột.
nhân dân thấy hay và lạ, đã bắt chước rồi áp dụng cuộc tiêu khiển vào ngày rằm tháng Tám, mà gọi đó là tục hát trống quân...
múa Sư tử.
Vào dịp Tết Trung Thu lại có tục múa sư tử, còn gọi là múa lân. cứ bắt đầu từ mồng bảy mồng tám trở ra, xưa kia, tại các đô thị cũng như ở vùng quê, những đám múa lân được tổ chức, có đám hoàn toàn của người lớn, có đám riêng của trẻ em. người lớn thường chỉ họp đoàn múa lân vào hai đêm mười bốn và rằm, và trong những ngày này, các tư gia 384
Mê tín dị đoan
thường có treo giải để các con lân lấy. Giải thưởng bằng tiền treo trên cao, đám múa lân phải bắc thang mới chiếm được.
các trẻ em múa lân sớm hơn, các trẻ em tổ chức múa lân để cùng nhau mua vui, không có mục đích đi lấy giải, tuy nhiên nếu có ai yêu mến các em, gọi các em lại treo giải các em cũng xin lĩnh.
Đám múa lân thường gồm có một người đội một chiếc đầu sư tử bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này, khi chồm lên, khi bò xuống. Đầu sư tử có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo điệu bộ của người múa lân và theo nhịp trống của đám múa.
có trống, có thanh la, có não bạt, có đèn sặc sỡ, có cờ ngũ
sắc. có những người cầm côn đi hộ vệ đầu lân. Lại có người vác chiếc thang đi theo để khi cần lĩnh giải thì người múa Lân sử dụng. Đám múa lân đi trước, người lớn trẻ em đi theo sau.
Tới trước mỗi nhà có treo giải, đám rước ngừng lại. Trong lúc Lân múa để lĩnh giải có đốt pháo.
Sự tíCH múa Sư tử.
Theo sách cổ truyền lại, sự tích múa lân như sau: Về đời nhà Đường, có một bà lão, tuổi đã cao, nhưng không có con cái họ hàng, quanh năm chỉ lấy nghề may vá áo quần đem ra chợ bán để nuôi thân. Một hôm vào ngày rằm tháng Tám, bà đến một làng kia để nhận quần áo về may. Khi trở
về vào lúc tối trời, bà thấy dân làng đều thi nhau thắp đèn bày cỗ, ăn uống vui vẻ. Hỏi thì dân làng cho biết là họ ăn Tết Trung Thu.
Bà nghĩ rằng dù bà có một mình bà cũng thưởng trăng được, bà bèn mua ít bánh trái hoa quả về để thưởng trăng dối già. Trên đường về, khi đi qua khu rừng vắng vẻ thì có con sư tử xông ra, đây là con sư tử dữ tợn vẫn thường bắt người ăn thịt.
Tín ngưỡng Việt Nam
Biết mình không tránh nổi con sư tử, bà lão van xin nó cho bà về thưởng trăng để bỏ công bà đã đi mua bánh trái hoa quả, sau đó bà sẽ đến nộp mình cho nó ăn thịt.
Sư tử ưng thuận quay đi nơi khác để bà lão về đến nhà bình yên vô sự.
Bà lão bày cỗ thưởng trăng, nhưng khi trăng bắt đầu mờ
dần trong bóng mây, bà chạnh tới giờ phút cuối cùng của mình liền khóc lóc thảm thiết.
Tiếng khóc của bà kinh động tới quỷ thần. Quỷ thần liền sai một con rết tới trước mặt bà, ra hiệu cho bà yên tâm và nó sẽ
giúp bà để trừ con sư tử độc ác! Dù không hiểu hết ý muốn của con rết, nhưng bà cũng yên lòng trước cử chỉ của nó.
Vừa lúc ấy, con sư tử tới để đòi ăn thịt bà. con rít liền nhảy ra cắn chết nó.
ngày hôm sau bà loan tin nói rõ với dân làng việc thần linh đã sai con rết giết con sư tử.
Tin đến tai vua, vua ban thưởng cho bà lão. Từ đó hàng năm nhắc lại sự tích con sư tử hay ăn thịt người bị giết chết vào Tết Trung Thu, người ta có tục múa sư tử.
*
* *
Qua các điều trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng Tết Trung Thu trước kia là Tết của người lớn, nhưng đã dần biến thành Tết của nhi đồng với những cuộc vui trong ngày Tết, và trong dịp này, người lớn đặc biệt săn sóc tới các trò vui của trẻ em.
ngoài ý nghĩa ngày Tết của trẻ em Việt nam, ngày Trung Thu, các trẻ em côi cút, tàn tật, bệnh hoạn được các cơ quan từ thiện Việt nam và ngoại quốc đến tận nơi phân phát cho đồ chơi và quà bánh, nhất là đèn giấy và bánh Trung Thu để
các em kém may mắn này cũng có một Tết Trung Thu như
các em khác.
Mê tín dị đoan
xuâN TẾ Và Thu TẾ
Trong hai dịp xuân, thu vào ngày Đinh đầu tháng Hai, và ngày Đinh đầu tháng Tám dân làng có hai tuần đại tế để cầu cho dân làng được bình yên.
Hai kỳ tế này còn gọi là tế kỳ phúc (Xin xem Tế Kỳ
phúc, phần thứ nhất mục Sự Thần trong tín ngưỡng việt nam quyển thượng).
Tín ngưỡng Việt Nam
TẾT TrùNg Cửu
Tết trùng Cửu nhằm ngày mồng chín tháng chín.
Tháng chín là tháng cuối cùng của mùa thu, và tháng chín là mùa thu sắp hết. các văn nhân, thi sĩ luyến tiếc mùa thu lên núi cao ngắm cảnh, do đó người xưa có câu trùng cửu đăng cao.
Thực ra dân Việt nam ít người ăn Tết Trùng cửu, nếu có cũng chỉ là một số rất ít ăn theo người Trung Hoa.
Về nguồn gốc Tết Trùng cửu, trong “Việt nam phong Tục”
của ông phan Kế Bính viết:
nguyên về đời nhà Hán, có người Hoàn Cảnh theo học người Phí tràng Phòng. tràng Phòng một bữa bảo Hoàn Cảnh rằng: mồng chín tháng chín nhà anh có nạn to, nên cho người nhà mỗi người may một cái túi lụa đựng hoa thù du, buộc lên cánh tay rồi lên chỗ nào cao mà uống rượu, thì mới tiêu được nạn ấy. Hoàn Cảnh theo lời thầy, quả nhiên bữa đó người không việc gì cả mà gà chó ở nhà thì chết.
Sự tích trên đây của Hoàn cảnh là nguồn gốc tục ăn Tết Trùng cửu.
Tết này còn được gọi là Tết Trùng Dương. người Trung Hoa, bắt chước gia đình Hoàn cảnh xưa, cứ đến ngày này, hái hoa thù du, lên núi uống rượu.
Mê tín dị đoan
Văn nhân Việt nam, ngày Trùng cửu cũng rủ nhau lên núi uống rượu, nhưng không hái hoa thù du. Uống rượu ngắm cảnh rồi cùng nhau ngâm vịnh.
Thực ra ở bên Tàu, trong dịp này, thiên hạ nô nức vui chơi, rủ nhau lên non, lội suối, hái hoa. Họ tin tưởng những hoa hái trong ngày này, mang về nhà thờ sẽ trừ được những tai họa bất ngờ.
Tín ngưỡng Việt Nam
lễ Cơm mới
lễ ngày chữ gọi là thường tân, nghĩa là lễ lấy phẩm vật đầu mùa mà tế thần hoặc biếu người trên.
Mùa thu qua, tháng mười tới, vụ gặt lúa mùa bắt đầu.
người Việt nam nhân dịp này, dùng lúa mới làm xôi thổi cơm dâng cúng thần linh ở đình đền, và ở trong nhà cũng làm lễ cúng gia tiên.
Sự cúng lễ này để bày tỏ sự tri ân và lòng kính trọng đối với thần linh đã bảo vệ dân làng, cũng như ở trong nhà, con cháu có lúa mới nhớ đến tổ tiên, làm lễ cúng tổ tiên.
Tháng mười cũng là mùa chim ngói, mùa đậu mới. người ta cũng nhân lễ Thường Tân mua quà biếu các bậc trên cũng như các bậc đã thi ân cho mình: con cái biếu bố mẹ, chàng rể chưa cưới sêu bố mẹ vợ, học trò tết thầy, con bệnh biếu ông lang v.v...
Tất cả những sự biếu tết đều có như trường hợp tết Đoan ngọ vậy.
Mê tín dị đoan
TẾT TrùNg ThậP
Mồng mười tháng mười là Tết Trùng Thập.
Tết này, theo tục lệ nhà phật là lễ Hạ nguyên để đối lại với lễ Thượng nguyên vào ngày rằm tháng giêng.
ngoài ra đây là Tết của các ông Thầy, bà cốt, và của các ông Lang. Trong tết này các ông đồng, bà bóng và các ông Lang ăn Tết rất linh đình.
Trong dân gian cũng có ăn Tết, nhưng người ta thường chỉ
sửa lễ cúng gia tiên, và ở các nơi thờ tự công cộng thì cũng chỉ có cúng lễ với nghi thức đơn giản.
ngày xưa, về vùng Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, người ta có ăn Tết này to lắm. người ta làm bánh dầy, nấu chè kho, cúng thần, cúng gia tiên rồi đem biếu những người quen.
nhiều nơi, người ta gộp lễ Thường Tân vào Tết này, và mọi sự biếu xén của con bệnh đối với ông Lang, của con hương đệ tử đối với ông Đồng, bà Bóng trong dịp lễ Thường Tân, thường chính là để biếu xén trong Tết Trùng Thập.
Trong dịp này ông Đồng, bà cốt cũng như các ông Lang thu được rất nhiều lễ lạc, thường là khi tiền mặt đối với ông Đồng bà cốt, bởi thế cho nên những người này thường có cỗ bàn linh đình, trước là để cúng cấp, sau là để khoản đãi các đệ tử và các bạn hàng.
Tín ngưỡng Việt Nam
Dân chúng vùng Thanh Trì, đặc biệt không ăn Tết Trùng Thập vào ngày mồng mười tháng mười lại để dành đến ngày 21 tháng Mười mới ăn Tết. Mồng mười tháng mười công việc gặt hái dang dở, ngày 21, công việc này đã hoàn thành, mọi người mới rảnh rang ăn Tết.
Mê tín dị đoan
lạP TiẾT
Đây là buổi cúng lễ cuối cùng của năm vào ngày mồng 2 tháng chạp.
năm cũ sắp hết, chỉ còn non một tháng nữa bước sang năm mới. Dân làng cáo yết thần linh với buổi cúng lễ cuối cùng này. Thường sự cúng lễ theo nghi thức đơn giản, trừ những trường hợp đặc biệt mới có tế lễ.
Tín ngưỡng Việt Nam
Tài liệu Tham Khảo
ngoài các sách đã ghi trong mục tài liệu tham khảo, quyển thượng, dưới đây là một số các tài liệu khác, soạn giả đã tham khảo thêm về quyển Hạ này:
Đào Duy Anh - Việt nam Văn Hóa Sử cương - nhà xuất bản Bốn Phương Sài gòn, 1961.
Marel caratini et philippe Grandjean - Le Statut des Missions en Indochine - Études Indochinoises et Extrême Orientales -
Ideo, Hanoi.
christiane Fournier. - En parcourant L’Indochine. - Ed. les Flots bleus, monte carlo, 1954.
Gerald c.Hickley, với sự cộng tác của Bùi Quang Đa. -
nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt nam, xã hội học.
- Võ Hồng phúc dịch. - Phái đoàn cố vấn đại học đường tiểu bang michigan tại v.n. .
nguyễn Văn Huyền. - La civilisation annamite. - Collection de la Directiol de l’instruction publique de l’indochine, 1944.
L.m. nguyên Hồng. - Lịch sử truyền giáo ở Việt nam, Sài Gòn, 1959.
Mê tín dị đoan
Hội thánh Tin Lành Việt nam. - Tìm hiểu Hội thánh Tin Lành Việt nam.
Hội Đồng Tinh Thần Baha’i Saigon. - Baha’i là gì?
- Tất cả các tôn giáo đều là một.
- Đời sống Baha’i.
- Baha’i, tiến tới Thế giới duy nhất.
Thái Văn Kiêm. - Đất việt trời nam. - nhà xuất bản nguồn Sống Sài gòn.
nguyễn Hiến Lê. - Bảy ngày trong Đồng Tháp. - nhà xuất bản nguyễn Hiến lê, Sài gòn, 1954.
André Masson. - Histoire du Viêt nam. - Collection que sais - gie?
René p.Millot. - Missions d’Aujourd’hui, paris, 1960.
nguyễn Văn ngọc và Trần Lê nhân. - cổ học tinh hoa.
nguyễn Văn ngọc. - Tục ngữ phong dao.
ch.Rollin. - Đời sống phụng vụ và Bí tích.
Lê Văn Siêu. - Văn minh Việt nam - nam Chi tùng thư, Sài gòn.
Linh Việt. - Đố ai nằm ngủ không mơ. - nhà xuất bản quang minh Phú nhuận, 1964.
Việt nam công Giáo niên giám, 1964.
lp.Varet. - Au pays d’Annam, les Dieux qui meurent. - Ed.
Eugéne Figuiére, paris.
ngoài các tài liệu này còn một số báo và tạp chí đã được nhắc đến qua các trang sách.
Tín ngưỡng Việt Nam
TôN giáo
ThiêN Chúa giáo
Đạo TiN làNh
Đạo Baha’i
hồi giáo
CáC ôNg Đạo
mê TíN dị ĐoaN
mê TíN dị ĐoaN
Chiêm ĐoáN
Chiêm Nghiệm
xem TướNg
loài VậT Với mê TíN dị ĐoaN
Cây Cối Với mê TíN dị ĐoaN
lễ TiẾT
TẾT NguyêN ĐáN
Ngày TẾT Của ĐồNg Bào ThượNg miềN Nam 305
NhữNg CuộC Vui xuâN Của ĐồNg Bào
ThượNg du miềN BắC
mấy lễ Đầu xuâN
TẾT hàN ThựC
Mê tín dị đoan
TẾT ThaNh miNh
TẾT ĐoaN Ngọ
lễ ThấT TịCh
TẾT TruNg NguyêN
TẾT TruNg Thu
xuâN TẾ Và Thu TẾ
TẾT TrùNg Cửu
lễ Cơm mới
TẾT TrùNg ThậP
lạP TiẾT
Tài liệu Tham Khảo
Tín ngưỡng Việt Nam
NếP Cũ
Tín ngưỡng Việt Nam (Quyển hạ)
chịu trách nhiệm xuất bản:
tS. quáCH tHu nguyệt
biên tập:
nguyễn lụC
vẽ bìa:
trần minH Dũng
sửa bản in:
tHủy tú
kỹ thuật vi tính:
tHu Hà