Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPhần 3
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
nói lên sự tận tâm và hoạt động hữu hiệu của dòng: Trường Thiên phước Tân Định, trường câm Điếc Lái Thiêu, trường Vũng Tàu...; Bệnh viện Saint paul, Bệnh viện Định Tường, Bệnh viện Bạc Hà tại chợ Đũi...; Viện dưỡng lão Thị nghè, cô nhi viện Việt Hoa ở chợ Lớn, cô nhi viện ở Vĩnh Long, cô nhi viện ở Gò công...
Dòng nữ tu BáC ái tHánH vinH Sơn (FilleS De la CHarité)
Dòng Tòa Thánh, thành lập năm 1633 tại pháp bởi Thánh Vincent de paul và nữ Thánh Louise de Marillae với mục đích làm sáng danh chúa bằng đức Bác ái và lo thánh hóa Bản Thân.
Tại Việt nam, dòng xuất hiện năm 1928 và hiện nay có 18
nhà với 160 nữ tu sĩ rải rác khắp nơi. Trông số 18 nhà có:
- nhà dòng ở Đà Lạt với Domaine de Sainte Marie hoạt động trường học, lưu xá, vườn trẻ.
- Institut Régina pacis ở Sài Gòn hoạt động Trường Học, Viện mồ côi, Trung tâm chỉnh hình.
- Trung tâm caritas Sài Gòn hoạt động huấn luyện y tá, nữ cán bộ xã hội, vườn trẻ, chẩn Y Viện.
Tín ngưỡng Việt Nam
các nhà khác của dòng đều hoạt động các công tác bác ái: trại cùi ở Kala (Lâm Đồng), ở Daktia (Kontum), ở Bến Sắn (Sông Bé), v.v...
ngoài các dòng trên, còn các dòng sau đây cũng là những dòng và tu hội nữ sáng lập tại nước ngoài được truyền nhập vào Việt nam, với các hoạt động bác ái, xã hội, giáo dục, y tế ở bên ngoài và lo phụng sự chúa ở bên trong: Dòng Đức Bà Truyền Giáo (Filles de notre Dame des Missions).
Dòng nữ tu chúa Quan phòng (Les soeurs de la providence de poitreux).
Dòng nữ tu Salésien (Soeurs salésiennes de St.Jean Bosco).
Dòng Đấng chăn Lành (Soeurs du Bon pasteus d’Angers).
Hội nữ tá Quốc tế công giáo.
nhóm các Tiểu muội chúa Giê Su (Les petites Soeurs du père chardes de Foucauld).
Dòng Médical Mission Sisters.
Hội nữ tỳ chúa Jésus và Mẹ Maria (Institut Séculier des Ancelles de Jésus Maria).
cũng như các dòng và tu hội nam, nhiều dòng và tu hội nữ đã được thành lập ngay tại Việt nam.
Trong các dòng này có các dòng Mến Thánh giá (Les Soeurs Aimantes de la croix) có nhiều hoạt động đáng kể, nhiều dòng mang tên các địa danh miền Bắc nhưng hiện đang ở miền nam.
Xin liệt kê dưới các dòng Mến Thánh giá đang hoạt động:
- Dòng Mến Thánh giá Hà nội, nhà chính ở couvent des Oiseaux, Đà Lạt;
- Dòng Mến Thánh giá Hải phòng, nhà chính ở xứ Bắc Hải, Hố nai, Biên Hòa;
- Dòng Mến Thánh giá Thái Bình, nhà chính ở xứ Tân Lập, xã Bình Trưng, Gia Định;
- Dòng Mến Thánh giá phát Diệm, nhà chính ở xã An nhơn, Gò Vấp, Gia Định;
Mê tín dị đoan
- Dòng Mến Thánh giá Thanh Hóa, nhà chính ở xã Tân Thanh, Lâm Đồng;
- Dòng Mến Thánh giá Vinh, nhà chính ở xã Tân Bình, Khánh Hòa;
- Dòng Mến Thánh giá (phục Hưng), Kim Đôi, Huế;
- Dòng Mến Thánh giá Quy nhơn;
- Dòng Mến Thánh giá chợ Quán;
- Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm;
- Dòng Mến Thánh giá cái nhum;
- Dòng Mến Thánh giá cái Mơn;
Dưới đây là danh sách các dòng và nữ tu hội khác:
- Dòng nữ tu Thừa Sai Đức Mẹ Trinh Vương, nhà chính tại Bùi Môn, Tân Thới Trung, Gia Định;
- Dòng con đức Mẹ Mân côi Bùi chu, nhà chính ở Ấp chí Hòa xã Tân Sơn Hòa, Gia Định;
- Dòng con đức Mẹ Vô nhiễm ở phú Xuân, Huế;
- Dòng nữ tu Đa Minh Bùi chu ở Tam Hiệp, Biên Hòa;
- Dòng nữ tu Đa Minh Hố nai;
- Dòng nữ tu Ảnh Váy, Kontum;
- Dòng nữ tu Đa Minh, Lạng Sơn, nhà chính ở Xóm Mới, Gò Vấp;
- Tu hội Tôi Tá Thánh Tâm ở Sài Gòn.
Nơi hàNh Đạo
cũng như bất cứ tôn giáo nào, việc hành đạo phải có nơi riêng để thờ phượng vị giáo chủ cũng như các vị Thánh thần liên hệ tới tôn giáo, đạo Thiên chúa để phụng sự chúa cũng có những nơi nhà riêng, gọi là Thánh đường.
Thánh đường có thể gọi được là trụ sở hành đạo của Thiên chúa giáo. nơi đây còn mang tên là nhà chúa.
Trước khi xét qua về phong tục của đồng bào Thiên chúa giáo, việc tìm hiểu các Thánh đường không thể bỏ qua được.
Tín ngưỡng Việt Nam
Đi ngược dòng lịch sử trở lại, các tín đồ sơ khai bị tróc nã không xây dựng được nhà thờ. Họ đã thờ chúa tại các tư
gia, tại các rừng rậm, có nhiều khi ở ngay trong lao tù, nhưng đặc biệt nhất là trong các hang toại đạo, các đường hầm ở
dưới đất dùng làm nghĩa trang cho các tín đồ sơ khởi. Tại các hang này, chỗ giáp giới các đường với nhau được sửa sang từng quãng để có thể chứa được một số người để cùng cử hành Thánh lễ. Ở giữa, trên mồ một vị tử đạo có đặt một chiếc bàn cẩm thạch dùng làm bàn thờ.
Về sau, đời vua constantin La Mã, nhà vua dâng cho Giáo hoàng Sylvestre tất cả công thự để sử dụng tùy nhu cầu. các pháp đình cũ đã được chọn làm những nơi hành đạo và được gọi là giáo đường.
Việc truyền giáo ngày càng rộng rãi, các tín đồ ngày một đông, các giáo đường pháp đình lẽ tất nhiên không đủ cung ứng cho nhu cầu, nhất là cho các tín đồ ở các quốc gia không thuộc La Mã, việc xây cất giáo đường đã là một việc bắt buộc để có nơi phụng sự chúa.
CáC TháNh ĐườNg
Khi xây các Thánh đường, người Thiên chúa giáo đã tìm ra một lối kiến trúc riêng đặc biệt gọi là kiểu thức. Theo “Đời Sống phụng Vụ và Bí Tích” của ch.Robin, các kiểu thức đã được sử dụng tuần tự là: La tinh, Gô tích và phục hưng.
a) Tiếp sau các pháp đình là kiểu Rô man đặc điểm ở các cuốn tròn hình bán viên.
b) Từ thế kỷ XII trở đi, đến kiểu Gô tích hay Tiêm cung (Ogival) là được ưu thắng. nó biểu thị đặc điểm ở chỗ các hình cung nhọn chụm lại để chống đỡ các khung vòm.
c) Kiểu phục hưng là kiểu làm sống lại nghệ thuật Hy Lạp và La Mã.
Mê tín dị đoan
các Thánh đường xây cất xong trước khi dùng vào việc cử hành Thánh lễ phải có lễ cúng Tiến, trong lễ này một vị
Giám mục hay một vị linh mục được ủy quyền của vị Giám mục làm phép xức dầu.
Vào một nhà thờ, có thể nhận biết lễ cúng tiến đã thực hiện khi thấy trên các cột hay thạch trụ ở lòng chính nhà thờ
có vẽ hình Thánh giá đánh dấu cho việc vị Giám mục đã xức dầu Thánh.
Về các nơi hành đạo, cần phân biệt các nhà nguyện, nhà thờ và Vương cung.
nhà nguyện là nơi hàng ngày tín đồ đến cầu nguyện chúa.
Ta thấy nhà nguyện ở các ký túc xá, các bệnh viện, các nghĩa trang, v.v...
nhà Thờ tức là giáo đường, nơi cử hành thánh lễ.
Vương cung là một nhà thờ đã có nhiều kỷ niệm với đạo được Tòa Thánh chiếu chỉ nâng lên: Vương cung Thánh đường ở Sài Gòn trước đây là một nhà Thờ.
BàN Thờ Và Đồ TraNg Trí
Đã có nơi hành lễ, tất nhiên phải có bàn thờ, tôn giáo nào cũng vậy. Trong các nhà thờ Thiên chúa giáo, bàn thờ gồm một mặt bằng tức là mặt bàn thờ. có thể có chân đỡ hoặc có tảng xây.
Mặt bằng có chân chống đỡ nhắc lại cái bàn thuở xưa trước khi thụ hình trên Thập tự giá, chúa Jésus đã có một bữa tiệc sau cùng, bữa tiệc Ly thết các tông đồ. Bàn có tảng xây là để nhắc tới mồ các thánh tử đạo.
Mặt bàn thờ bao giờ cũng là một viên đá lát hay cẩm thạch, trên có tạc năm hình Thánh giá, chỉ năm dấu thánh của chúa.
Bàn thờ phải bằng đá để tượng trưng chúa Jésus là “viên đá góc tường” của giáo hội.
Tín ngưỡng Việt Nam
Tại các xứ truyền giáo, có những Thánh đường nghèo nàn, bàn thờ thường bằng gỗ. Trong trường hợp này có một viên đá lát nhỏ, có ghi năm hình Thánh giá và có chứa di hài một đấng thánh trong một tiểu huyệt. người theo đạo gọi đó là bàn thờ lưu động hoặc đá bàn thờ.
Bàn thờ không kê liền ngay trên sàn, nhưng đặt trên ba cấp bệ, tượng trưng ba đức: Tin, cậy và Mến để linh hồn tiến lên với chúa. Thường cấp trên cùng có trải thảm.
Trên bàn thờ có một tủ nhỏ hình chữ nhật gọi là nhà Tạm để lưu trữ Thánh Thể - nhà Tạm có áo hay khăn che.
các bàn thờ trước khi sử dụng phải chịu qua lễ Thánh hiện do một vị Giám mục cử hành.
Bàn thờ được gọi là Đặc Ân khi được Giáo hoàng ban ơn đại xá để hễ dâng lễ trên bàn thờ ấy cầu cho linh hồn người quá cố nào, người đó sẽ được hưởng. ngày 2-11 hàng năm, mọi bàn thờ trên thế giới đều là Đặc Ân cả. các bàn thờ tại các Thánh đường đều được trang trí như nhau. Sự trang trí gồm:
- Ba tấm khăn bằng vải sợi hay gai. Một trong ba tấm dài hai đầu trùm hết bàn thõng xuống đất. Hai tấm kia phủ hết mặt bàn.
- Một tượng chịu nạn và hai cây nến sáp.
Tượng chịu nạn nhắc nhở cho tín đồ biết Thánh lễ Misa họ tham dự, tiếp tục cho lễ Hy sinh Thánh giá.
Hai cây nến nhắc nhở đạo chúa soi sáng thế gian nguyên thủy, nên dùng soi sáng nơi cử hành Thiên lễ.
Số nến có thể là bốn hoặc sáu. Khi nào có lễ trọng do một vị Giám mục cử lễ, số nến sẽ là bảy. ngọn nến thứ bảy đặt sau tượng chịu nạn trên bàn thờ.
lễ mi Sa
phong tục của đồng bào Thiên chúa giáo tại Việt nam, chính là những phong tục từ ngàn xưa của đạo đã từng ban truyền khắp thế giới.
Mê tín dị đoan
Trong việc thờ kính chúa, lễ Misa là Thánh lễ và là một lễ
dâng hàng ngày trên bàn thờ, là lễ Hy sinh của chúa Jésus, có toàn thể cộng đồng tín hữu tham dự.
Việc cử hành lễ Misa chỉ là một hành vi thờ tự có tính cách xã hội, nhờ đó con người và xã hội truy nhận Thiên chúa là chủ tể vạn vật.(1)
như trên đã nói, lễ Misa nhắc nhở cho tín đồ lễ Hy sinh của chúa trước ngày chúa lâm nạn trên Thập tự giá. Do đó, việc cử hành lễ Misa là cần thiết. Không có lễ Misa đạo sẽ là một đạo không bàn thờ và chúa Jésus sớm muộn sẽ bị quên lãng.
Theo Album Liturgique đã được dịch lại trong “Đời sống phụng vụ và Bí tích” thì lễ Misa liên kết tín đồ không những với cuộc tử nạn của chúa mà còn cả với cuộc phục sinh của chúa. Mỗi lễ Misa là lễ phục sinh nhỏ. Bằng lòng tiến thân và chết đi với chúa đã là sống lại với người rồi vậy. Lễ Misa áp dụng cho tín đồ chúa hiệu quả cuộc tử nạn của chúa, mà hiệu quả đầu tiên là sự phục sinh. Trong khi rước lễ các tín đồ đã ăn bánh phục sinh và bất tử: Ấy là bánh Trời vậy!
Lễ Misa là tột đỉnh của Thiên chúa giáo. nhờ lễ này, con người được lên với chúa, và nhờ việc rước lễ, chúa thực sự
xuống với thụ tạo của người. Đây là giờ phút thiêng liêng, Thượng đế đã gặp gỡ con người.
cũng như các dân tộc khác theo đạo Thiên chúa, ngày chủ
nhật, các giáo dân ở Việt nam đi dự lễ Misa tại các Thánh đường. ngoài ra, trong những ngày lễ tiết của đạo, các tín đồ
cũng đến Thánh đường dự lễ Misa. Đặc biệt tại Việt nam, ngày nay, đêm giao thừa Tết nguyên Đán, tại các nhà thờ
cũng tổ chức một lễ Misa để nhân dịp năm mới tín đồ được gần chúa và được chúa ban cho những điều may mắn.
1. Ch.Robin - Đời sống Phụng sự và Bí tích.
Tín ngưỡng Việt Nam
Trong khi dự lễ Misa, để tỏ ra sự dốc lòng với chúa, các tín đồ phải:
- Dâng Hy lễ chúa Jésus lên cha người;
- Tự hiến dâng cùng với chúa Jésus (hồi dâng lễ);
- Tiếp rước chúa Jésus (hiệp lễ).
Qua ba điểm trên, lễ Misa không phải là việc riêng của linh mục mà chính là công việc của tất cả các tín đồ dự lễ.
như vậy, trên bàn thờ, trong buổi lễ có thể nói là có ba linh mục tư tế:
a) Tư Tế tối cao: chúa Jésus
b) Tư Tế thừa tác: linh mục
c) Tư Tế tham dự: tín đồ
Dự lễ, tín đồ không phải chỉ là khán giả, nhưng là diễn viên, là các động tác viên.
Trong buổi lễ cùng cầu nguyện với linh mục.
Đám rướC
Trong nhiều tôn giáo, ngoài các lễ cử hành tại nơi thờ tự, thường có những đám rước dân chúng tham dự.
cũng như các tôn giáo khác, các đám rước Thiên chúa giáo được tổ chức với mục đích phát triển mạnh mẽ tinh thần đạo.
Đám rước xưa đã có với người Do Thái ở Jérusalem. nhà Điển và La Mã trong thời thượng cổ cũng có tổ chức rước xách.
Giáo Hội Thiên chúa giáo, sau thời bị ngăn cản, đã từng tổ chức những đám rước ở Tây phương. Trong nhiều trường hợp, đám rước Thiên chúa được tổ chức để thay các đám rước cổ và cốt để cho mọi người quên đi những đám rước thời xưa, không phải của đạo: Đám rước cử hành hàng năm vào ngày 25 tháng 4 tại La Mã, thay thế cho đám rước cổ
thời của người ngoại đạo gọi là Robigalia. nhiều đám rước trước đây tổ chức để kỷ niệm những ngày lễ đạo: Đám rước 48
Mê tín dị đoan
Lễ Lá đã có ở Jérusalem từ thế kỷ IV được tổ chức theo lộ
trình của chúa Jésus đã đi trong thành phố này, với sự hiện diện của vị Giám mục trong đám tín đồ.
có thể nói được rằng đám rước là một hình thức hành lễ
công khai. Tôn giáo không phải là một tư vụ: chúa là của cả
mọi người và của cả mọi đoàn thể. các đoàn thể cũng như
mọi cá nhân có nhiệm vụ công khai phụng sự chúa bằng rước xách. Sự công khai phụng sự này xác nhận đức Tin của tín đồ, do đó rước xách có một tầm quan trọng với mục đích hiến cho các tín đồ dịp để bày tỏ mình là con chúa. Hơn nữa, rước xách cũng là một cách phát hiểu tinh thần đoàn thể của các con chúa và chứng tỏ quyền hạn tối cao của chúa với mọi người.
có những đám rước dành để tôn kính chúa, có đám rước dành cho một bí tích trong đời chúa và cũng có đám rước dành cho Đức Mẹ để tỏ lòng kính mến của con chiên đối với Đức Mẹ. Lại có những đám rước, thời Trung cổ gọi là bí tích để diễn lại một đoạn đời của chúa, những đoạn đời được tín đồ mến ngưỡng: Rước Lễ Lá, Rước trong Tuần Thánh để hồi tưởng lại sự Yêu thương của chúa.
những đám rước chính trong năm: rước Lễ nến, rước Lễ Lá, rước ngày chủ nhật kỷ niệm khi chúa vào Jérusalem, rước Tuần Thánh, rước lễ phục Sinh, và rước lễ Mình Thánh, v.v...
có nhiều đám rước được cử hành tại từng địa phương tùy tục lệ.
dấu TháNh giá
Lễ Misa cũng như những đám rước là những hình thức để
tín đồ phụng vụ chúa. Tin theo chúa, người con chiên phải dự lễ Misa và các đám rước, nhưng ngoài ra còn phải luôn luôn tỏ rằng tin kính chúa. Do đó có việc làm dấu Thánh 49
Tín ngưỡng Việt Nam
giá. Dấu Thánh giá chính là sự tóm tắt của “Tôi kính tin”.
Dấu thể hiện qua hành động và lời cầu.
Theo sách phần thì khi làm dấu đặt bàn tay phải lên trán, rồi xuống ngực, kế đến vai bên trái và sau cùng là vai bên phải, đồng thời miệng đọc: nhân danh cha và con và Thánh thần.
Ở I pha nho (Tây Ban nha), từ thời thượng cổ, trước khi làm dấu như trên, các tín đồ đã làm ba dấu nhỏ ở trán, ở môi và ở ngực và miệng đọc:
Bởi dấu Thánh ciá, xin chúa cứu vớt chúng con khỏi tay kẻ độc và sau đó cũng đọc thêm như tín đồ mọi nơi: nhân danh cha và con và Thánh thần. ngày xưa, trong thời các vị sứ đồ, người ta làm dấu trên trán những người theo chúa và trên các đồ vật để tỏ rằng đó là những người của chúa và những vật dùng để phụng sự chúa.
Việc làm dấu bắt đầu có từ thế kỷ thứ VI với sự làm dấu trên trán và ngực. Sau đó ít lâu là ba dấu ở trán, môi và ngực. Mãi tới thế kỷ thứ VIII sự làm dấu mới hoàn toàn như ngày nay, và thể
hiện bởi các tín đồ từ Đông sang Tây. người Hy Lạp làm dấu bằng ba ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay phải, và dấu làm từ phải sang trái để tượng trưng cho Ba ngôi Tam Vị nhất Thể.
Ba dấu nhỏ trên trán, môi và ngực đã cắt nghĩa như sau: Dấu trên trán chỉ đức Tin ở chúa, dấu trên môi và ngực biểu lộ sự tuân hành lời phán và việc làm chúa dạy.
Dấu thường làm vào lúc nào? Trước và sau khi cầu kinh, khi tín đồ bắt đầu một việc gì: ăn uống, làm việc hoặc ra đi.
các tín đồ trung thực khi đi qua một Thánh đường hoặc một Thánh giá đều làm dấu, cũng như khi mới dậy và khi đi ngủ.
Sự làm dấu chính là sự chứng tỏ lòng Tin chúa, và đã tin chúa thì tín đồ phải luôn kính cẩn làm dấu trong tất cả những trường hợp cần thiết.
Mê tín dị đoan
Cầu NguyệN
người Thiên chúa giáo luôn luôn đọc kinh cầu nguyện, đọc kinh trong đám rước, đọc kinh lúc ở nhà, đọc kinh khi làm việc, đúng theo lời chúa đã phán dạy.
Hàng ngày, lúc ngủ dậy, lúc đi nằm đều có đọc kinh, tuy rằng đây không phải là một điều bắt buộc, chỉ là một hành động tỏ ra biết vâng lời chúa. cầu nguyện để xin ban ơn cho đời sống lành mạnh để tuân hành lệnh chúa. Sáng ngày dậy, một ngày bắt đầu. Trong ngày, tín đồ có thể gặp nhiều sự khó khăn, cầu nguyện để chúa trông tới giúp vượt qua những khó khăn đó và cũng là để dâng hoàn toàn ngày đó lên chúa. Buổi tối trước khi đi nằm, tín đồ lại cầu nguyện để cám ơn chúa đã ban ơn lành cho ban ngày. những tín đồ
tốt thường nhân lúc này có một phút vấn lương tâm để nhờ
ánh sáng của chúa xét lại những hành động của mình ban ngày có theo đường ngay của chúa không và để ăn năn nếu đã phạm những lỗi nhỏ, đồng thời cương quyết giữ ý định noi gương và tuân lệnh chúa.
Trước bữa ăn, người Thiên chúa giáo cũng cầu kinh. Đây cũng chỉ là để chứng tỏ tín đồ phải luôn luôn cầu nguyện, nhất là trong những lúc đáng kể nhất trong ngày. Vả lại chúa đã truyền phải đọc kinh để xin chúa ban cho “miếng bánh hàng ngày” (le pain de chaque jour). nhận bữa ăn, tín đồ
phải nhớ ơn chúa đã chăm sóc tới mình. ngoài ra, đây cũng là một cách để dâng hiến một cái gì hoàn toàn vật chất lên chúa cao cả; ăn uống người ta dễ phạm điều ích kỷ, tự vật chất hóa khi chỉ nghĩ đến thích khẩu; lúc này cầu kinh cầu nguyện nhắc lại tín đồ mọi vật đều xuất từ chúa, và tất cả đều phải cần tới chúa. Thánh kinh khuyên rằng: “Dù con làm gì, dù con ăn gì, dù con uống gì, con phải làm vinh danh chúa”.
Tín ngưỡng Việt Nam
CáC Bí TíCh
Tất cả bí tích đều có thể coi là những phong tục của đồng bào Thiên chúa giáo, có mục đích làm phát sinh trong tín đồ
cuộc sống của chúa và kết hợp tín đồ với nhiệm thể, nghĩa là thân thể nhiệm mầu của chúa, mỗi ngày mỗi hơn. Bí tích là những dấu hiệu biểu thị và sản xuất ra ân sủng bí nhiệm.
những phương tiện vật chất giản dị với ý nghĩa tượng trưng làm cho tín đồ chắc chắn về hiệu lực ân sủng của chúa và như thế có thể nói được rằng các bí tích chính là nguồn bình an cho tâm hồn tín hữu.
Định nghĩa bí tích, ch.Robin đã nói Bí tích là một dấu hiệu hữu hình của chúa Jésus christ đã thiết lập, để làm phát sinh hoặc gia tăng ân sủng trong linh hồn những người lãnh tụ một cách xứng đáng.
có tất cả bảy bí tích: Rửa tội, Thêm sức, Thánh thể, Giải tội, Xức dầu, Truyền chức và Hôn phối.
Rửa tội. - phép Rửa tội chính là cửa ngõ mọi tín đồ phải qua để thành người có đạo. Mục đích Rửa tội là để tẩy xóa mọi tội lỗi, ban đời sống ân sủng và khiến người chịu phép trở nên con Thiên chúa và Giáo Hội và được ràng buộc với Giáo Hội bởi một sợi giây thiêng liêng vô hình.
Khi chịu phép Rửa tội, đương nhân được đổ nước lên đầu.
Ý nghĩa của tác động này là Tẩy rửa, nước đã làm con người tội lỗi cũ biến đi để nhường chỗ cho con người mới phát xuất từ nước ra, con người này kể từ nay là con của chúa.
Trong lúc đổ nước lên đầu kẻ chịu phép, thừa tác viên, vị linh mục đọc “Ta rửa tội X, nhân danh cha và con và Thánh thần”.
Muốn được Rửa tội, chính các thụ lãnh viên cần phải muốn chịu phép Rửa để chứng tỏ đương nhân đã có lòng Tin ở
chúa. Bí tích Rửa tội là Bí tích Đức Tin.
Mê tín dị đoan
Về phần các trẻ em, việc Rửa tội phải có sự ưng thuận của cha mẹ, trừ trong những khi nguy tử hay trường hợp con trẻ bị bỏ rơi.
Thêm sức. - Thêm sức là một bí tích bổ sung phép Rửa tội. Với phép Thêm sức này chúa đổ ơn xuống để tín đồ mới Rửa tội biến thành giáo hữu hoàn toàn.
phép Thêm sức đã thực hiện trong Giáo Hội ngay từ buổi sơ khai. phép thể hiện qua sự xức dầu của một vị Giám mục.
Ban đầu việc xức dầu cử hành ngay sau lúc Rửa tội, ngày nay lễ nghi Thêm sức tách rời khỏi phép Rửa tội, và dành riêng cho hàng Giám mục.
Lễ Thêm sức gồm hai điểm chính: nghi lễ đặt tay và xức dầu Thánh hiến.
Thoạt đầu bước vào Thánh đường, tín đồ quỳ gối trước mặt vị Giám mục. Vị này giơ hai tay trên họ và cầu nguyện để chúa ban ơn cho họ.
Sau đó vị Giám mục xức dầu hiến thánh và nói: Ta ghi cho con dấu Thánh giá và kiện cường cho con với dấu cứu rỗi, nhân danh cha và con và Thánh thần.
Dầu được xức lên trán tín đồ. Đó là dấu hiệu của tích ấn không thể xóa nhòa đã in vào linh hồn người chịu phép vậy.
ngoài hai nghi lễ đặt tay và xức dầu trên, sau khi xức dầu, vị
Giám mục lấy tay khẽ tát vào má trái người chịu phép, để chứng tỏ rằng từ đây người sẽ sẵn sàng chịu đựng mọi thứ vì chúa.
Lúc lễ tất vị Giám mục còn đọc một lời nguyện cuối cùng để cầu xin chúa luôn luôn gần gũi người tân tín hữu.
Tất cả mọi người chịu phép sẽ cùng với vị Giám mục hoặc vị linh mục hầu cận đọc kinh Tinh Kính, kinh Lạy cha và kinh Kính Mừng.
phép Thêm sức tuy chỉ bổ khuyết cho phép Rửa tội, nhưng rất quan trọng, vì phép này người tân tòng biến thành tín hữu dốc lòng với chúa.
các Thụ lãnh nhân phải chọn cha mẹ đỡ đầu.
Tín ngưỡng Việt Nam
Thánh Thể và việc rước lễ. - Thánh Thể là trung tâm đời sống bí tích của tín đồ khi đã chịu phép Rửa tội và được kiện cường do phép Thêm sức.
Linh hồn cần một món ăn thiêng liêng, cũng như cơ thể
cần món ăn vật chất.
chúa đã tạo cho con người món ăn vật chất, chúa cũng không quên món ăn thiêng liêng cần thiết cho các tín đồ, do đó dưới hình thức Thánh Thể, chúa đã nối tiếp công cuộc nhập Thể và cứu chuộc giữa tín đồ.
Bí tích Thánh Thể đã khiến chúa có thể:
- Dâng mình làm Hy Tế cho đến tận thế: lễ Misa
- Hiến thân làm của nuôi mọi người đã nhập hiệp nhiệm Thể người do phép Rửa: Việc rước lễ.
- Tồn tại sự hiện diện của chúa giữa tín đồ cho đến hết đời.
phép Thánh Thể thực hiện do việc Rước lễ. Việc Rước lễ
có hiệu lực phát sinh ân sủng trong linh hồn tín đồ tham dự.
chúa đã nói: Ai ăn thịt và uống máu ta sẽ được sống đời đời và ta sẽ hoàn sinh cho trong ngày sau hết.
Việc Rước lễ chính là một ơn nuôi dưỡng, vì vậy đã phục hồi sức mạnh cho linh hồn, và đồng thời phát triển lòng quảng đại thi ân.
Việc Rước lễ cũng tẩy rửa mọi vẩn đục của tội làm mờ ám và suy yếu linh hồn. Thánh Lễ Rước, Thánh Thể chúa đã ngự vào mình tín đồ, tín đồ đã ăn Thịt và uống Máu chúa.
Muốn dự việc Rước lễ, phải là tín đồ đã Rửa tội, lại phải sống trong tình trạng chịu ơn chúa.
phải kiêng ăn uống trong luật chay thánh thể trong thời gian là ba giờ đối với đồ ăn đặc hay đồ uống có chất rượu và một giờ đối với các đồ uống khác: sữa, nước chè, cà phê, v.v...
nước lã không phá chay.
Luật trên có thể linh động đối với người đau yếu.
các tín đồ sùng mộ thường luôn luôn Rước lễ và coi việc Rước lễ như là sự tiếp diễn chính đáng của lễ Misa.
Mê tín dị đoan
phép giải tội. - Đây là bí tích tha thứ những người phạm tội. chúa đã dùng sự tha thứ để giải tội cho các con chiên đã biết sám hối. Trong sự tha thứ này, chính chúa đã chịu khổ
cực: chúa là tình yêu và chỉ có tình yêu mới có khả năng chuộc được tội lỗi.
Vì vậy với phép giải tội, tín đồ đã được hoàn lại sự sống siêu nhiên mất đi bởi những tội đã phạm. Giải tội là hết lỗi.
phép Giải tội do các Giám mục và các linh mục đã được các Giám mục thừa ủy ban hành, Giám mục là thừa kế các tông đồ.
Mỗi khi tín đồ phạm lỗi phải đi xưng tội nhưng phải biết:
- Thực tình thống hối các lầm lỗi của mình;
- Thú thực hết các điều lỗi với linh mục;
- Làm việc đền tội.
Vị Giám mục hay linh mục thừa ủy sẽ ban hành bí tích giải tội.
Kẻ xưng tội sẽ được tha hết mọi tội lỗi dầu nặng hay nhẹ
mặc lòng và được phục hồi lại những công nghiệp đã mất bởi tội lỗi.
Tích sủng của phép Giải tội là một ơn nâng đỡ và tấn phát khả dĩ giúp tín đồ chiến đấu với các khuynh hướng xấu, tránh mọi sự tái phạm cũng như tội lỗi khác.
Đành rằng không phép nào nhổ được tận căn những mầm mống của tật xấu, dù là Rửa tội hay Giải tội, nhưng dù sao các phép đó cũng đem lại cho tín đồ môn thuốc thiêng liêng về tinh thần để giúp các tín đồ hoán cải dần dần.
phép xức dầu cho bệnh nhân. - Xức dầu là cuộc viếng thăm của chúa đối với tín đồ lâm bệnh trọng.
Hành vi cuối cùng của đời sống con người thường bao giờ
cũng có một sự quan hệ đặc biệt, vì nó quy định một cách quyết liệt số mạng đời đời của tín đồ. Ơn được chết lành là một ơn cao cả chúa ban cho tín đồ, và phép Xức dầu chuẩn bị cho tín đồ nhận lĩnh ơn này.
Tín ngưỡng Việt Nam
phép Xức dầu chính là bí tích bệnh nhân. Đây là cuộc Xức dầu cuối cùng tín đồ nhận lĩnh trước khi chết, cuộc Xức dầu này hỗ trợ bệnh nhân về phương diện thiêng liêng cũng như
về thể xác.
Vị linh mục thể hiện phép này tới phòng bệnh nhân với tư
cách một người bạn để trình bày cùng bệnh nhân những điều thuộc về chúa, giải thích cho bệnh nhân hiểu ý nghĩa chân thực về cuộc đời, vai trò của đau khổ, hướng dẫn bệnh nhân trên đường trở về với chúa, tỏ cho họ thấy tình thương của chúa là rất quý giá.
Do đó bí tích bệnh nhân cốt làm vững mạnh linh hồn trong giờ phút hệ trọng và đôi khi cũng hướng về cuộc điều trị.
Trong lúc ban hành bí tích xức dầu, linh mục dùng dầu thánh vẽ hình Thánh giá trên mắt, tai, lỗ mũi, miệng, tay và chân của bệnh nhân. Dầu dùng là thứ dầu riêng đã được vị Giám mục địa phận làm phép ngày thứ năm tuần Thánh. Dầu này có hiệu lực chữa bệnh thiêng liêng cũng như bệnh thể xác.
Khi xức dầu linh mục đọc: “Vì việc xức dầu này và nhờ
lòng từ ái vô biên, xin chúa tha cho con tất cả những hành vi bất chính con đã làm do thính quan, thị quan, v.v...”
Việc xức dầu bao giờ cũng phải do một vị linh mục thể hiện.
Tất cả mọi tín đồ đã chịu phép Rửa tội và đã khôn biết đều được lãnh thụ khi lâm bệnh trọng nhưng phải sống trong ơn nghĩa của chúa. Bất cứ vì lý do gì, nếu bệnh nhân khước từ, linh mục không được ban hành phép xức dầu. Một tử tội không tỏ ý hối cải ở phút cuối cùng, linh mục cũng phải từ