Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPhần 13
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
(Xưng sao, hạn biên trong bài vị)
thành tâm thiết lễ
giải hạn nhương tinh.
lòng thành cúi lạy
Khải tấu khẩn cầu.
trung thiên tinh Chủ, Bắc Cực tử vi Đại Đế ngọc Bệ Hạ
......................
(Lại xưng sao hạn trong bài vị, rồi khấn tiếp) Cai quản mạng căn,
Xét xem vận hạn
từ bi liên mẫn
Phổ tế phàm thai
ân cao đức cả
Soi thấu lòng thành
Cầu cha mẹ khang ninh trường thọ, Phật thánh đồng gia hộ cháu con.
trong nhà đều hạnh phúc tăng long, lớn nhỏ cũng thảy đồng an lạc.
nguyện tinh quân, hạn thần chiếu tạc, giải họa tai bệnh tật trừ thanh.
Dứt tà hung khiến gặp hiền lành
Hộ đệ tử lòng thành khẩn đáo
nam mô a di đà Phật
nam mô tiêu tai, giáng cát tường bồ tát nam mô chư tinh quân, chư hạn thần.
niệm tất cả ba lần
Xong lễ ba lễ là buổi lễ tất.
Tín ngưỡng Việt Nam
BảNg Sao Và hạN
Để tiện việc tra cứu và sự suy nghiệm của các bạn, xin trình bày dưới đây bảng sao hạn của cả nam nữ mọi tuổi. Bản sao hạn này áp dụng cho bất cứ năm nào và không thay đổi. Bản sao chỉ ghi chép từ tuổi 11 đến tuổi 100. Trên dưới hai tuổi 11 và 100, các sách tôi dùng tham khảo không thấy kê ra, có lẽ vì dưới 11 tuổi chịu ảnh hưởng của cha mẹ nhiều, và trên 100 tuổi, tuổi quá già, ít người đạt được tuổi này. Tuy nhiên, muốn biết cũng không khó, cứ theo bảng mà tính trở lên, 101
tuổi coi như 11, 102 tuổi coi như 12, v.v..., còn dưới tuổi này, 1 tuổi như tuổi 82, 2 tuổi coi như tuổi 83 v.v...
Xin nhắc lại bảng sao và hạn này lập ra cốt để bạn đọc biết và suy nghiệm nếu muốn, còn việc đúng hay không còn tùy theo rất nhiều yếu tố. Dù sao chúng ta cũng nên nhớ rằng tiền bối chúng ta vẫn tin theo sao và niên hạn, còn ngày nay tin hay không tùy ở chúng ta. Tin thì tin, không tin chúng ta cũng chớ nên báng bổ ông cha chúng ta.
Biết để mà biết, biết để sưu tầm nghiên cứu, biết để mà tìm hiểu tổ tiên, sự biết này thực không phải là vô ích cũng như nhiều điều khác cần biết về dân tộc chúng ta. có những điều ngày nay là sai, nhưng ngày mai sẽ đúng, việc đúng sai ta chớ nên quá vội vàng chê bai!
Tuổi nam
nữ
Sao
Hạn
Sao
Hạn
Thổ tinh
Tam khiu
Hỏa tinh
Thiên tinh
Thủy tinh
ngũ mộ
Mộc tinh
ngũ mộ
Kim tinh
Thiên tinh
Thái âm
Tam khiu
Thái dương Toán tận
Thổ tinh
Hoàng Tuyền
Hỏa tinh
Thiên la
La hầu
Diêm vương
Kế đô
Địa võng
Thái dương Địa võng
Mê tín dị đoan
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên lã
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
Tam khiu
Hỏa tinh
Thiên tinh
Thủy tinh
ngũ mộ
Mộc tinh
ngũ mộ
Kim tinh
Thiên tinh
Thái âm
Tam khiu
Thái dương Toán tận
Thổ tinh
Hoàng tuyền
Hỏa tinh
Thiên la
La hầu
Diêm vương
Kế đô
Địa võng
Thái dương Địa võng
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên la
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
ngũ mộ
Mộc tinh
ngũ mộ
Kim tinh
Thiên tinh
Thái âm
Tam khiu
Thái dương Toán tận
Thổ tinh
Hoàng tuyền
Hỏa tinh
Thiên la
La hầu
Diêm vương
Kế đô
Địa võng
Thái dương Địa võng
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên la
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
Thiên tinh
Mộc tinh
Tam khiu
Kim tinh
Thiên tinh
Thái âm
Tam khiu
Thái dương Toán tận
Thổ tinh
Hoàng tuyền
Hỏa tinh
Thiên la
La hầu
Diêm vương
Tín ngưỡng Việt Nam
Kế đô
Địa võng
Thái dương Địa võng
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên la
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
Thiên tinh
Mộc tinh
Tam khiu
Kim tinh
Toán tận
Thái âm
Hoàng tuyền
Thái dương Toán tận
Thổ tinh
Hoàng tuyền
Hỏa tinh
Thiên la
La hầu
Diêm vương
Kế đô
Địa võng
Thái dương Địa võng
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên la
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
Thiên tinh
Mộc tinh
Tam khiu
Kim tinh
Toán tận
Thái âm
Hoàng tuyền
Thái dương Thiên la
Thổ tinh
Diêm vương
Hỏa tinh
Thiên la
La hầu
Diêm vương
Kế đô
Địa võng
Thái dương Địa võng
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên la
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
Thiên tinh
Mộc tinh
Tam khiu
Kim tinh
Toán tận
Thái âm
Hoàng tuyền
Thái dương Thiên la
Thổ tinh
Diêm vương
Hỏa tinh
Địa võng
La hầu
Địa võng
Kế đô
Địa võng
Thái dương Địa võng
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên la
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
Mê tín dị đoan
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
Thiên tinh
Mộc tinh
Tam khiu
Kim tinh
Toán tận
Thái âm
Hoàng tuyền
Thái dương Thiên la
Thổ tinh
Diêm vương
Hỏa tinh
Địa võng
La hầu
Địa võng
Kế đô
Diêm vương Thái dương Thiên la
Thái âm
Diêm vương Kim tinh
Thiên la
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
Thiên tinh
Mộc tinh
Tam khiu
Kim tinh
Toán tận
Thái âm
Hoàng tuyền
Thái dương Thiên la
Thổ tinh
Diêm vương
Hỏa tinh
Địa võng
La hầu
Địa võng
Kế đô
Diêm vương Thái dương Thiên la
Thái âm
Hoàng tuyền Kim tinh
Toán tận
Mộc tinh
Hoàng tuyền Thủy tinh Toán tận
La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Thổ tinh
ngũ mộ
Hỏa tinh
ngũ mộ
Thủy tinh
Thiên tinh
Mộc tinh
Tam kheo
Kim tinh
Toán tận
Thái âm
Hoàng tuyền
Thái dương Thiên la
Thổ tinh
Diêm vương
Hỏa tinh
Địa võng
La hầu
Địa võng
Kế đô
Diêm vương Thái dương Thiên la
Thái âm
Hoàng tuyền Kim tinh
Toán tận
Mộc tinh
Tam khiu
Thủy tinh Thiên tinh
100 La hầu
Tam khiu
Kế đô
Thiên tinh
Tín ngưỡng Việt Nam
xem TướNg
xem tướng tức là xem diện mạo dáng điệu để đoán về
tính tình sự nghiệp của mỗi người.
Ta có câu: trông mặt mà bắt hình dong, lại có câu: nhân hiền tại mạo.
Tục ta tin ở bói toán, xem tướng cũng là một cách bói nhưng bói qua diện mạo chân tay dáng điệu. nhìn tướng một người, có thể biết người đó thọ hay yểu, sang hay hèn, thông minh hay đần độn.
Theo các nhà thuật số, thì riêng bề ngoài, toàn bộ phận trong hình thể con người ta, bộ phận nào cũng có tướng hết thảy, và họ cho rằng đã có tướng thì có ứng nghiệm. Tuy nhiên, tướng có tốt có xấu, và có nhiều người trông tướng rất đẹp, nhưng lại không gặp may mắn là vì cái tốt ở bộ phận này, bị khắc bởi cái xấu ở bộ phận khác. Dù sao, những người có tướng tốt, nếu không gặp may mắn thì cũng đỡ gặp những sự hiểm nghèo. Trái lại, có người tướng tuy xấu, nhưng cũng không gặp sự gian nan, đó là vì còn có tướng tốt ở những bộ phận khác. Bởi vậy, khi xem tướng phải xem xét hết thảy các tướng hiện ra các bộ phận của mỗi người rồi mới luận được cát hung.
Mê tín dị đoan
Theo các cụ thì tướng tốt xấu cũng có thể thay đổi được vì cách ăn ở thiện ác của từng người.
Sau đây là những điều sơ lược về tướng pháp từng bộ phận.
NgŨ hàNh Với hìNh Người
Hình dáng con người mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung quy vào năm hình theo ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
người hình Kim. - người thanh nhỏ mà cứng cỏi, vuông vắn, ngay ngắn. nếu người ngắn thấp tức là bất túc, thịt cứng là hữu dư. Tướng hình Kim được vẻ vang.
người hình mộc. - người hình Mộc ốm, dài và lộ xương, đầu cao, trán nhô. nếu xương nặng mà mập, lưng mình dẹp mỏng là tướng xấu, trái lại cốt gẩy hình xương xương, dong dỏng cao, mắt trong là tướng hưởng tuổi già an nhàn.
người hình thủy. - người rộng lớn dày dặn. Hình cúi mà sấp xuống là hình chân thật. người nào mày thô, mắt lớn, thành quách lại tròn trặn là người hình Thủy được hưởng phúc đức tự nhiên.
người hình Hỏa. - người trên nhỏ, dưới rộng, trên nhọn dưới dày - Tính nóng. Bàn tay hồng đỏ. Theo sách tướng thì người hình Hỏa diện mạo như lửa muốn cháy, dưới rộng trên đầu nhọn, ít râu ria. cử chỉ không chủ định.
người hình thổ. - người mập lớn trầm trẫm, vai cao lưng dày như hình con rùa. người hình Thổ đoan hậu và thâm trọng, kiên tâm và mưu lược lại trọng tín nghĩa.
TướNg mặT
Xem tướng thường người ta chú trọng vào xem tướng mặt và chân tay.
Trên mặt, các nhà tướng số chia ra nhiều bộ phận và mỗi bộ phận đều có tướng riêng.
Tín ngưỡng Việt Nam
NgŨ TiNh
Đây là năm ngôi sao trên mặt mang tên ngũ hành. Tai tả là Kim tinh ,sắc nên trắng mới được hưởng quan lộc. Tai hữu là Mộc tinh, hình nên vểnh lên để được hưởng phú lộc. Miệng là Hỏa tinh, sắc nên hồng mới được hưởng phú quý. Trán là Hỏa tinh, hình nên vuông mới được hưởng quan lộc. Mũi là Thổ tinh, thịt phải dày mới trường thọ.
lụC diệu
Đây là sáu ngôi sao khác trên mặt: Thái dương, Thái âm, nguyệt bột, La hầu, Kế đô, Tử khí.
Mắt tả là Thái Dương, phải có bóng sáng mới hưởng phúc lộc.
CáC Bộ PHậN TRêN MặT
1-Kim tinh, 2-Mộc tinh, 3-Thủy tinh, 4-Nam nhạc và Hỏa tinh, 5-Thổ tinh, 6-Thái dương, 7-Thái âm, 8-Nguyệt bột, 9-La hầu, 10-Kế đô, 11-Tử khí, 12-Đông nhạc, 13-Tây nhạc, 14-Trung nhạc, 15-Bắc nhạc.
Mê tín dị đoan
Mắt hữu là Thái Âm, phải đen mới có quan lộc.
Sơn căn, nơi trên sống mũi, dưới hai con mắt là nguyệt Bột, phải thẳng mới có tài lộc.
Lông mày bên tả là La Hầu, phải dài mới có quan lộc.
Lông mày bên hữu là Kế Đô, ngay ngắn thì vợ con sung sướng.
Ấn đường, chỗ hai lông mày giao nhau là Tử Khí, nếu tròn thì có danh phận.
NgŨ NhạC
Theo các nhà tướng số Đông phương, trên mặt con người có những chỗ được gọi là sông và núi.
ngũ nhạc là năm ngọn núi: Hành sơn, Hằng sơn, Trung sơn, Thái sơn và Họa sơn.
thái sơn là Đông nhạc ở má phía tả; Họa sơn là tây nhạc ở má phía hữu. Hai núi Đông và Tây nên ngay thẳng không thiên, không ỷ.
Hành sơn là nam nhạc ở trán, nên vuông và ngay; trung sơn là Trung nhạc ở mũi nên vuông và ngay mà cao vót lên tới ấn đường. Hằng sơn là Bắc nhạc ở cằm trên dầy, cao, tròn và đầy.
Tứ ĐộC
Đây là tên bốn con sông: sông Giang, sông Hoài, sông Hà và sông Tế.
Sông giang là tai nên sâu và xa: Sông Hà là mắt, cần sâu và có ánh sáng; Sông Hoài là miệng, môi và mép cần che nhau: Sông tế là mũi.
Tam Tài
Tam tài là trời, người và đất. Trên mặt có ba chỗ tượng trưng cho tam tài.
Tín ngưỡng Việt Nam
trán tượng trưng cho trời, phải rộng và tròn mới được sang; mũi tượng trưng cho người, phải ngay và bằng mới sống lâu; Cằm tượng trưng cho đất, phải vuông và rộng mới có của.
Tam ĐìNh
Mặt theo tướng số có thể chia làm ba phần từ chân tóc tới cằm.
thượng đình từ chân tóc tới ấn đường ứng về tiền vận.
Thượng đình dài thì tiền vận giàu có.
trung đình từ sơn căn, dưới ấn đường đến chuẩn đầu, chỗ
đầu mũi ứng về trung vận. Trung đình dài thì trung vận được hưởng phúc lộc.
Hạ đình từ nhân trung tới cằm ứng về hậu vận. Hạ đình dài thì về già nhiều lộc.
nếu ba đình quân bình đời sung sướng, ba đình lệch lạc đời gặp ba đào.
họC ĐườNg Và Bộ họC ĐườNg
Tướng số phân biệt trên mặt có 4 học đường và 8 bộ học đường.
Bốn học đường là:
quan học đường là mắt ứng về quan lộc. Mắt dài mà trong là người có quan chức.
lộc học đường là trán chủ về lộc và thọ. Trán rộng và dài là người có nhiều lộc và sống lâu.
nội học đường là hai răng cửa chủ về tính nết. Hai răng này ngay ngắn và khít thì con người hiếu cẩn trung tín, kẽ
thưa và nhỏ là người hay sàm ngôn.
ngoại học đường là bên trước cửa mang tai chủ về sự thông minh. nếu ngoại học đường dày, sáng, đầy và nhuận, con người thông minh, nếu ướt và tối là người ngu đần.
Mê tín dị đoan
Tám bộ học đường là:
Cao minh bộ học đường, phần trên trán, chủ về tiền của; Cao quảng bộ học đường, phần giữa trán, chủ về phúc đức; quan đại bộ học đường, ấn đường, chủ về quan chức; minh tú bộ học đường, chủ về sang trọng quý hiển; thông minh bộ học đường, tai, chủ về tiếng tăm; trung tín bộ học đường, miệng và môi, chủ về bổng lộc; quảng đức bộ học đường, lưỡi, chủ về đức độ.
Ban duẩn bộ học đường, lông mày, chủ về tuổi thọ.
ThậP Nhị CuNg
Trên mặt còn có phân biệt 12 cung, mỗi cung chỉ về mỗi việc.
Cung mạng. - Ứng về vận mạng, ngôi tại giữa đôi lông mày, trên sơn căn. nơi đây sáng sủa, con người có học vấn thông thái. nơi đây phẳng đầy, con người hưởng phúc thọ.
nếu chon von u ám, con người bần hàn dốt nát. Hai lông mày giao tiếp nhau, con người hèn hạ. nổi gân nổi thớ rối loạn, con người lưu lạc tha hương lại khắc vợ. Trán hẹp, lông mày khô, tài sản tiêu tan.
Cung tài bạch. - Mũi là tài tinh ứng về của cải, ngôi ở
Thổ tú. Sống mũi thẳng như ống tre, đầu mũi như quả mật treo: bậc cự phú.
Mũi có sống chon von ngay thẳng và cao dày: một sự phú quý vĩnh viễn.
nhọn như mỏ chim ưng, như chót núi: tướng bần hàn phá của.
Lỗ mũi ngửa lên: kiếm bữa hôm lo bữa mai, không bao giờ có của để dành.
Hai bên lỗ mũi: sách gọi là Tế trù, Táo thượng, lép: không bao giờ có tiền dư của để.
Cung Huynh đệ. - Ứng về anh em, ngôi tại hai lông mày, thuộc sao Kế đô. Lông mày dài quá mắt: ba bốn anh em và không sát nhau.
Tín ngưỡng Việt Nam
1.Quan lộc, 2-3.Phúc đức, 4.Mệnh môn, 5-7.Huynh đệ, 6-8.Thiên di, 9-10.Điền trạch, 11.Tật ách,
12.Tài bạch, 13-15.Nam Nữ,
14-16.Thê thiếp, 17-18.Nô bộc.
Lông mày tốt đẹp mà thưa: anh em đoan chính.
Lông mày vòng cung như trăng đầu tháng: anh em có tài đức hơn người.
ngắn và thô: anh em ly biệt.
Vòng lông mày lấp mắt: ít anh em.
Hai dạng lông mày: có anh em khác mẹ.
Lông mày vàng mỏng giao nhau: số phải chết nơi đất khách.
Lông mày xoáy quanh và kết lại: anh em khắc nhau.
Cung Điền trạch. - Ứng về ruộng nương nhà cửa, ngôi ở
hai mắt.
Mắt có tía đỏ lấn con ngươi: phá hết gia tài, già không đủ ăn.
Hai mắt âm (hữu), dương (tả) cốt khô: chẳng giữ nổi ruộng vườn.
Mắt lớn hoặc mắt nông mà quầng lạnh như băng: sẽ tiêu tan hết gia tài.
con ngươi đen nhánh: suốt đời giầu có.
Mày cao, mắt phượng: cự phú.
Mê tín dị đoan
Cung nam nữ. - cung này còn gọi là cung tử tức ứng về
đường con cháu, ngôi ở phía dưới hai mắt.
phẳng đầy đều: con cháu hưởng phúc lộc vinh hoa.
Tựa tựa con tằm: có con dâu thanh quý cao sang.
Sâu hãm: trai gái vô duyên.
có nốt ruồi đen hoặc vành đâm xiên: khắc với con cháu tới già.
Mắt him him như miệng thổi lửa: nếu là thường nhân, khó có con cháu tống chung khi trăm tuổi.
Cung nô bộc. - Ứng về kẻ ăn người ở trong nhà, ngôi ở
Địa các, tiếp với Thủy tinh.
cằm tròn đầy đặn: có hàng bày đầy tớ.
Hai bên bạnh cằm chầu lại: nhất hô bách nạc.
Miệng hình chữ Tứ: có quyền kêu tụ, hét tán.
Địa các nhọn hớt: đầy tớ vong ơn.
Vằn nát mà hãm: không có người mà sai bảo.
Vành Địa các thấp nghiêng: làm ơn nên oán.
Cung thê thiếp. - Ứng về vợ và nàng hầu, ở nơi gần hai bên tai.
Quang nhuận không hằn: vợ hiền và đảm.
Dày dặn phẳng đầy: vợ có của cải.
Xương gò má xâm lên cao: nhờ vợ có lộc.
Sâu hãm: làm rể mới hoài (vợ chết hoặc bỏ đi luôn) nhiều vằn: vợ ngộ ác bệnh mà chết.
Thâm xám: phải lìa vợ.
nốt ruồi đen hay có vằn xế: vợ có ngoại tình và nhiều dâm dục.
Cung tật ách. - Ứng về tật bệnh và tai ách, ngôi ở Sơn căn, nhằm phía dưới Ấn đường.
cao dầy và đầy đặn: phúc lộc vô cùng liên tiếp.
Màu da sáng sủa: phúc đức đầy đủ.
cao đều bằng sống mũi: sống lâu.
Tín ngưỡng Việt Nam
Vằn ngấn, thấp hãm: bệnh tật quanh năm.
Xương khô mà nhọn trễ xuống: nhiều bệnh tật, chết khổ sở.
Khí như khói mù: tai ách thường xuyên.
Cung thiên di. - Ứng về việc dời đổi chỗ ở, ngôi ở góc lông mày.
cao dày đầy đặn màu tươi: không có gì phải lo lắng.
phẳng tới tai: đi đâu cũng được sự kính trọng.
Khí xông lên tới trán: quý tướng ra ngoài quyền cao chức trọng.
Góc trán thấp hãm: không chỗ trú chân suốt đời.
Lông mày liền giao tiếp: phá tổ lìa nhà.
Hai bên lệch nhau; luôn luôn thay đổi chỗ ở.
Cung quan lộc. - Ứng về chức tước, công danh ở mé giữa trên trán - Lại ứng về việc công môn.
Suốt lên tới đầu: một đời chẳng tới cửa công.
Hai bên thái dương chầu lại: quan tư bất nhiễu.
Sáng sủa trong sạch: hiển đạt hơn người.
Trán cao và có góc: thường phạm tới việc quan.
các thớ vằn vỡ nát: việc ngang trái tội lỗi.
nếu thêm mắt đỏ như cá chép: phạm tội mà chết hoặc chịu tội đồ.
Cung Phúc đức. - Ứng về phúc phận, ngôi ở Thiên thương tức là ở hai bên thái dương, Thiên thương dắt liền xuống Địa các, Thiên, Địa chầu nhau thì tốt.
Trán hẹp, cằm tròn: cực khổ từ thuở bé.
Trán rộng, nhọn: lúc già gian truân.
Mày mắt sếch: bình thường.
Mày đè áp mắt, tai bạt: kém phúc đức.
Cung tướng mạo. - Tướng mạo là toàn hình khuôn mặt, ứng chung cả vận mạng toàn thân.
năm nhạc đầy đủ: phú quý, vinh hoa.
Ba đình đều nhau: suốt đời hiển đạt.
năm nhạc triều cao: quan lộc vinh thăng.
Mê tín dị đoan
Trán chủ vận đầu, mũi chủ vận giữa, cằm chủ vận chót.
nơi nào khắc hãm, vận đó không tốt.
TướNg CáC Bộ PhậN
Mười hai cung trên để xem chung đại cương cho mỗi người.
ngoài ra mỗi bộ phận trong con người từ mắt mũi đến râu tóc, đến cả những chỗ hiểm đều có những tướng riêng tùy theo người sang, hèn, quý, tiện từng giai đoạn đời người.
Ta có câu: tướng tự tâm sinh, tướng con người tự tâm địa con người mà ra. Theo các cụ, thì con người gặp tướng xấu, nhưng ăn ở phải đạo, tướng cũng có thể thay đổi được.
cứ kể ra, nếu nói hết, dù chỉ đơn sơ về cách coi tướng của mọi bộ phận, thì khuôn khổ một tập sách phổ thông này, không sao nói cho đủ, và chính ta cũng không biết rõ hết mà nói. Bởi vậy, dưới đây chỉ là mấy nét lướt qua về cách xem tướng của mỗi bộ phận, theo những điều được tai nghe qua lời các cụ hoặc mắt thấy qua một vài tài liệu.
lông mày
Lông mày là cửa mắt, là lọng che cho mắt, nơi biểu lộ hết cái nghi biểu cho một khuôn mặt. Là lông mày lại tô điểm cho con mắt, và qua con mắt người ta có thể phân biệt được kẻ hèn người sang, kẻ khôn người dại. Lông mày phải thanh và nhỏ, bằng và rộng, tốt và dài mới chứng tỏ con người thông minh.
Lông mày thô và rậm, nghịch và rối, ngắn và không đều: người hung hãn ương ngạnh.
Mày dài quá mắt: người giàu sang.
Lông mày ngắn không đủ che mắt: người cùng khổ.
Lông mày cao lên: người tính khí cương thường.
Tín ngưỡng Việt Nam
Đứng sững và cứng: người hào khí.
Đuôi mày rũ xuống: người hèn nhát.
Đầu mày giao nhau: người bần bạc, khắc hại huynh đệ.
Lông mày mọc nghịch: người bất lương, khắc hại thê tử.
Trong lông mày có nốt ruồi: người thông minh, hiền hậu, sang quý.
Lông mày có điểm lông trắng: đa thọ.
Trên lông mầy có nhiều thớ thẳng: giàu sang.
Trên lông mầy có nhiều thớ ngang: nghèo khó.
Lông mày có chỗ khuyết: nhiều gian kế.
Lông mày mỏng: giảo quyệt, nịnh bợ.
Lông mày cao vót và tốt: quyền lộc cao hậu.
Lông mày như cung sừng: hiền lành.
Lông mày như trăng non: thông minh hơn người.
Lơ thơ như sợi tơ: đa dâm nhưng không con.
nuồn nuột như mày ngài: hiếu sắc.
Mày dài quá mắt: trung thực.
Mày ngắn hơn mắt: tính tình cô độc.
Đầu mày giao lộn: anh em chia lìa.
Góc mày đi vào tóc mai: vinh hiển, giàu sang, thông minh, tuấn nhã.
Lông mày có xoáy: anh em khắc nhau.
Lông mày rườm rà: gái nhiều, trai ít.
Lông mày cao thẳng: chức vụ thanh nhàn.
Lông mày vằn như vỡ ra: gặp nhiều gian truân.
Đại lược vẽ lông mày là những tướng trên. các cụ, còn tùy theo loại lông mày, đặt cho những tên riêng.
Lông mày lá liễu, lông mày chổi sể, lông mày la hán v.v...
mắt
Theo quan niệm của các cụ thì lúc ngủ thần đậu tại tâm, lúc thức thần nương tại mắt. con mắt là cửa sổ của thân người, 236
Mê tín dị đoan
và nhìn qua con mắt người ta biết con người lanh lợi hay ngu đần, lành hay dữ, do mắt đục hay trong, đen hay trắng.
Loại mắt trắng dã là con người bạc bẽo.
Mắt dài mà sâu và quãng nhuận sắc: tướng đại quý.
con ngươi đen nhánh: thông minh, văn tài hàm súc.
Loáng thoáng có ánh sáng: giàu sang.
Mắt nhỏ và sâu: tướng trường thọ, nhưng hiểm độc.
con ngươi nổi và lộ: yểu tướng.
Mắt lớn mà lồi, tròn mà dữ: ít thọ.
những người ti hí mắt lươn,
Trai thì trộm cắp, gái buôn chồng người.(1) Mắt lồi dữ mà nhìn liếc: phi dâm tắc đạo.
Mắt lờ mờ nhắm lệch: con người bất chính.
có sợi đỏ suốt con ngươi: chết về sự ác.
Mắt dê: tướng mồ côi mà ương ngạnh.
Mắt ngắn nhỏ: ngu hèn.
Mắt giương trừng: tính nóng.
Dưới mắt như con tằm nằm: sinh quý tử.
Đàn bà mắt trắng đen phân minh: đoan trang.
Đàn bà dưới mắt sắc đỏ: có tai ách trong lúc sinh nở.
Đàn bà nhìn trân: dâm đãng.
Đại khái sơ lược xem tướng mắt thì như vậy, nhưng theo sách tướng qua con mắt người ta có thể biết kẻ đó phúc đức ra sao, con cháu thế nào, và cũng có phân biệt các loại mắt: Mắt rồng: giàu sang, gặp gỡ minh chủ.
Mắt khỉ: giàu sang.
Mắt voi: trường thọ, an vui suốt đời.
Mắt sư tử: thương người.
Lại còn mắt mèo, mắt lươn, mắt tôm, v.v...
mũi
Mũi là Trung nhạc làm biểu suất cho nét mặt, 237
Tín ngưỡng Việt Nam
Mũi cần quang nhuận và nở lên thì giàu sang, nếu có điểm đen và đốt mỏng, chẳng nghèo hèn cũng yểu tướng.
Mũi cao và có mương: trường thọ.
Mũi như trái mật treo mà thẳng như ống tre cắt: giàu sang.
Mũi cứng có xương: trường thọ.
Mũi nhọn và đầu nhỏ: hẹp lượng gian manh.
Mũi có nhiều nốt ruồi: không tốt.
Đầu mũi chắp thẳng: phú quý.
Mũi cao nguy: anh em suy yếu.
Trụ mũi dài rộng: nhiều tài năng.
Mũi dày mà thẳng: con cái vinh quang.
Mũi cao mà ngang: vinh hiển phú quý.
cũng như mắt, mũi cũng phân biệt nhiều loại: Mũi trâu: trung thọ, giàu sang.
Mũi củ tỏi: anh em chẳng hòa, tuổi già có cơ nghiệp.
Lại còn mũi núi gươm, mũi hổ, mũi sư tử, mũi mỏ chim ưng v.v..., mỗi loại chỉ một điểm khác nhau.
miệng
Vuông, rộng có góc: tướng thọ.
Hình như cung sừng: có quan lộc.
Bề ngang rộng mà dày: giàu có phúc đức.
ngay thẳng, không quá dày, quá mỏng: tướng bình thường.
Miệng hình chữ Tứ, vuông đẹp: phú túc.
nhọn mà lệch, lại mỏng: tướng nghèo hèn.
chẳng nói mà miệng động như miệng ngựa: tướng chết đói.
Sắc tía đen; vận hãm gặp nhiều trở ngại.
Miệng mở răng lộ: người không có cơ mưu.
có nốt ruồi: người hay ăn uống.
Miệng như ngậm son: không lo đói rét.
Miệng như ba ngón tay chúm vào nhau: bần bạc.
Mê tín dị đoan
Miệng rộng mà dày: ăn lộc muôn chung.
Môi là thành quách của miệng, lưỡi là dao mác của miệng, thành quách nên dày, dao mác nên bén, đó là tướng tốt. Lưỡi lớn miệng nhỏ: tướng bần hàn, chết non; miệng nhỏ, lưỡi ngắn: tướng nghèo.
Sắc miệng nên đỏ, tiếng nên thanh, lưỡi nên ngay, môi nên dày.
Tục ngữ nói:
Miệng như châu sa: ăn lộc vinh hoa;
Miệng như hoàng đơn: no hơn ấm đủ;
Miệng như hòn son: tiền của như non; Miệng như môi trâu (dày): hiền đức bền lâu.
nHân trung
các sách tướng Á Đông cho nhân trung là ngòi rạch của thân người, ngòi rạch cần khai thông, nước mới chảy thoát, nông hẹp nước sẽ bị nghẽn tắc. nhân trung chỉ về số thọ của người ta.
nhân trung dài, trong sâu ngoài rộng và hướng chảy xuống là tốt; nhỏ và hẹp là xấu. Đầy mà phẳng cũng xấu, thường gặp tai ách.
Trên hẹp dưới rộng: lắm con nhiều cháu; trái lại trên rộng dưới hẹp là tướng hiếm hoi.
Trên hẹp, dưới hẹp, giữa rộng cũng xấu, con cháu khó thành đạt hay gặp trắc trở.
Trên thẳng dưới thẳng mà sâu: rất tốt cho con cháu, đa đinh, trái lại trên dưới phẳng mà nông, con cháu long đong.
nhân trung khuất khúc: tướng người bất tín; trái lại nhân trung ngay thẳng: tướng người trung nghĩa.
ngay mà rủ xuống: giàu và thọ: có gân co lên: tướng hèn yếu.
Sáng như mãnh tre chẻ: lộc nhiều và danh vọng.
Tín ngưỡng Việt Nam
nhỏ như cây kim: tướng người tuyệt tự và bần cùng.
Trên có nốt ruồi đen: nhiều con trai.
Dưới có nốt ruồi đen: nhiều con gái.
Giữa có nốt ruồi đen: dễ lập gia đình, khó nuôi con.
có hai nốt ruồi đen: tướng dễ sinh đôi.
có thớ ngang: tướng vô hậu; có thớ dựng: phải nuôi con nuôi; có thớ dọc; đẻ con có tật kinh niên.
môi
Môi là thành quách của miệng, cửa của lưỡi, khép mở
đều quan hệ ở môi. Môi cần dầy và nở góc, và sắc môi phải nhuận hồng mới tốt.
Môi đỏ như son: giàu có sang trọng.
Môi thâm như chàm: hoạn nạn yểu tướng.
Môi thâm sì ngả về màu đen: cực khổ và chết dữ.
Môi tía và sáng: nhàn nhã đủ ăn đủ mặc.
Môi trắng và đẹp: có vợ quý.
Môi vàng ngả sang hồng: có quý tử.
Gân môi co: chết non.
Mỏng môi: bần tiện.
Môi trên dài: mẹ chết trước cha.
Môi dưới dài: cha chết trước mẹ.
Môi trên mỏng mà trắng: nói năng giảo hoạt.
Môi dưới mỏng mà trắng: bần hàn lật đật.
Trên dưới đều dày: tướng người trung hậu.
Trên dưới đều dài: tướng người hèn hạ, hay nói lộng ngôn.
Trên dưới chẳng che nhau: bần hàn trộm cắp.
Trên dưới xứng với nhau: tướng người nói năng ngay thẳng.
Môi rồng; tướng giàu sang; Môi dê: tướng nghèo hèn.
Về môi tục ngữ có câu: “mỏng môi hay hớt, dày môi hay hờn”.
Mê tín dị đoan
lưỡi
Lưỡi phải ngay mà bén, dài mà lớn mới là tướng tốt.
Lưỡi hẹp và dài: tướng người dối trá.
Đầu bằng mà ngắn: gian truân và lật đật.
Lớn và mỏng: tướng người càn bậy.
nhỏ và nhọn: tướng người tham lam.
Lưỡi thè tới mũi: tướng vương, hầu.
Lưỡi cứng như bàn tay: lộc tới khanh, tướng.
Sắc hồng: tướng sang; sắc đen: tướng hèn.
Sắc đỏ như máu: tướng giàu; sắc trắng bệch: tướng nghèo.
Trên lưỡi có thớ thẳng: làm quan cao chức trọng.
Trên lưỡi có vằn dọc: làm tới thượng thư.
Vằn lưỡi có thớ quấn quanh: tướng rất sang.
Lưỡi tươi mà đầy miệng: rất giàu.
Trên lưỡi có nốt ruồi: ăn gian nói dối.
Lưỡi như rắn: tướng độc địa.
Lưỡi đứt như xẻ: hay gặp rủi ro.
chưa nói lưỡi đã đưa tới: hay lộng ngôn.
chưa nói lưỡi đã liếm môi: nhiều dâm dật.
Lưỡi lớn miệng nhỏ: nói chẳng trót lời.
Lưỡi nhỏ miệng lớn: con người lém lỉnh.
Lưỡi nhỏ mà ngắn: nghèo nàn.
Lưỡi lớn mà dài: tướng quan sang.
răng
Tục cho rằng răng là tinh hoa của trăm cốt, giáo mác của miệng, răng vận hóa muôn vật để nuôi sáu phủ.
Răng phải lớn và khít, dài mà thẳng, nhiều mà trắng mới tốt.