Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPhần 2
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Sau đó, lại có thêm các linh mục André Fernandez, người Bồ từ Áo Môn tới, linh mục carvalho được đổi sang nhật, nhưng giáo sĩ Buzomi lại có được các linh mục Francois de pina người Ý và F.Barreto, người Bồ tới phụ giúp.
năm 1618, giáo sĩ mở thêm cơ sở ở Quy nhơn, có thêm tân tòng, và nhằm mục đích quảng bá đạo, một cuốn kinh bằng chữ nôm được ấn hành.
Giáo sĩ Buzomi lại khéo trong vấn đề xử thế, đã duy trì nhiều tục lệ lễ nghi không trái phép đạo và chỉ phế bỏ những điều dị đoan mê tín, nên số người tin đạo do đó càng tăng.
Tín ngưỡng Việt Nam
Ba năm sau, có thêm năm linh mục tới Việt nam để tiếp tay với giáo sĩ, và vào cuối năm 1624, linh mục A Lịch Sơn Đắc Lộ (A.de.Rhodes) cũng tới.
các vị linh mục này của Dòng Tên đã tích cực hoạt động, và sau 22 năm, số tín đồ đã có tới trên 20.500 người trong đó có bà Minh Đức Vương Thái phi vợ thứ của chúa nguyễn Hoàng, một người đã tận lực giúp các giáo sĩ trong việc truyền giáo.
năm 1926, linh mục Đắc Lộ ra Bắc và đã được chúa Trịnh Thanh Đô Vương cho phép giảng đạo. Kết quả hết sức tốt đẹp với 6.700 tín đồ sau ba năm truyền giáo.
các thầy giảng bắt đầu được đào tạo và đã hoạt động rất đắc lực cho đạo.
năm 1630, linh mục Đắc Lộ, rời Việt nam. các thầy giảng vẫn tiếp tục việc chúa. Số người rửa tội càng nhiều, thêm 3.340 tín đồ với 20 nhà thờ được lập nên.
Tính đến năm 1639, tại miền Bắc có hơn 80.000 tín đồ với 230 nhà thờ vừa lớn vừa nhỏ.
năm 1640, linh mục Đắc Lộ (A. de Rhodes) lại trở lại Việt nam nhưng đến miền Trung để thay thế giáo sĩ Buzomi.
Lần này linh mục gặp nhiều khó khăn, nhưng ngài vẫn hoạt động mạnh mẽ, tổ chức một đoàn 10 thầy giảng đi truyền đạo tại các nơi. Một trong số các thầy giảng này là An Rê đã bị xử tử: đây là người tử vì đạo đầu tiên tại miền đất của chúa nguyễn.
năm 1645, chính linh mục Đắc Lộ cũng bị án tử hình nhưng chỉ bị trục xuất.
Linh mục Đắc Lộ chính là người đã có công sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Linh mục cũng chính là người đã vận động với Tòa Thánh để cử một vị giám mục sang Việt nam.
Theo lời đề nghị trên, năm 1658, hai vị giám mục được cử sang Việt nam: Giám mục Lambert de la Motte và Giám 24
Mê tín dị đoan
mục Francois pallu - năm sau, hai địa phận truyền giáo được thiết lập: Địa phận Đàng Trong gồm cả chiêm Thành, cao Mên và Xiêm La, giao cho Giám mục De la Motte và địa phận Đàng ngoài giao cho Giám mục pallu.
Với hai giám mục này, việc đề cử các linh mục bản xứ
được lưu ý. năm 1668, có bốn linh mục Việt nam được tấn phong, năm sau lại có thêm bảy linh mục nữa.
các cộng đồng được triệu tập ở Đàng ngoài vào năm 1669 tại phố Hiến (Hưng Yên) và ở Đàng Trong vào năm 1672 tại Hội An.
ngoài ra, năm 1670, dòng nữ tu sĩ Mến Thánh giá bắt đầu được thiết lập tại Đàng ngoài.
năm 1679, một phần địa phận Đàng ngoài được tách riêng ra, giao cho dòng Thánh Đa Minh phi Luật Tân đảm nhiệm, gọi là Địa phận Dòng Đàng ngoài, nay là Hải phòng.
Qua các trang trên ta thấy rằng việc truyền giáo tại Việt nam đã đều đều tiến triển mặc dầu có những cuộc cấm đạo của chúa nguyễn cũng như của chúa Trịnh.
nếu những cuộc cấm đạo về thế kỷ thứ XVII không gay gắt, thì đến thế kỷ thứ XVII việc cấm đạo thật ngặt nghèo.
Tại Đàng Trong chúa Minh Vương cho đốt phá nhà thờ, bỏ tù giáo sĩ đến chết và tru lục nhiều giáo hữu. chúa Võ Vương sau cũng cấm đạo, trục xuất hết các giáo sĩ ngoại quốc.
chỉ còn sót lại ba linh mục bản xứ lén lút làm việc chúa.
Tại Đàng ngoài việc cấm đạo cũng ghê gớm. các linh mục bị trục xuất và bị giết, các Thánh đường bị đốt phá.
Dưới triều Tây Sơn, việc cấm đạo càng dữ dội hơn. nhiều linh mục và giáo hữu đã chết vì chúa.
cho đến khi vua Gia Long lên ngôi (1802) việc cấm đạo mới ngưng, nhưng sau khi ngài băng hà vua Minh Mệnh lại tiếp tục cấm đạo.
Tín ngưỡng Việt Nam
Sau vua Minh Mệnh, vua Tự Đức càng cấm đạo ngặt nghèo.
Với các chỉ thị của nhà vua năm 1851 và 1856, 400.000 giáo dân phải tù đầy trong số đó từ 50.000 đến 60.000 người đã chết. Lại có 3.500 người bị xử tử, hơn một trăm làng đạo bị
phá, tài sản bị tịch thu, các linh mục bị giết.
Trước sự diệt đạo một cách quá bạo tàn, quân đội pháp và quân đội I pha nho (Tây Ban nha) đã can thiệp. Vua Tự
Đức đã đình chỉ cấm đạo, và sau đó quân pháp bắt đầu xâm lăng Việt nam. Với sự xâm lăng, việc truyền giáo được tự do, nhưng các tín đồ Thiên chúa giáo lại phải chịu sự thù ghét của dân chúng và nhiều người đã bị thảm sát, vì dân chúng Việt nam hồi đó đều coi là giáo dân đã dẫn quân pháp xâm lăng nước nhà.
Mặc dầu những cuộc cấm đạo liên tiếp, việc truyền giáo tại Việt nam vẫn tiến triển. con số tín đồ trên toàn quốc lên tới 420.00 người năm 1840, ngày nay đã tổng cộng trên 3.000.000 tại cả hai miền nam, Bắc Việt nam.
Số địa phận cũng tăng lên. Trên toàn quốc hiện nay có tất cả 22 địa phận.
Địa phận Hà nội 1659 - Địa phận Sài Gòn 1844
- Hải phòng 1679 - Bùi chu 1848
- Quy nhơn 1844 - Bắc ninh 1883
- Vinh 1845 - phát Diệm 1901
- Huế 1850 - Thanh Hóa 1932
- Hưng Hóa 1895 - Vĩnh Long 1938
- Lạng Sơn 1913 - nha Trang 1957
- Thái Bình 1936 - Long Xuyên 1960
- cần Thơ 1955 - Mỹ Tho 1960
- Đà Lạt 1960 - Đà nẵng 1963
- Đarlac 1967
Mê tín dị đoan
Trong 22 địa phận trên, 7 địa phận mới được thiết lập tại miền nam Việt nam từ năm 1960. Và trong thời gian chín năm số tân tòng cũng đã tăng lên một cách mau chóng đáng kể.
Với 22 địa phận, số linh mục lên tới 1.500 vị thay vì bốn vị
lúc ban đầu. ngoài trên 1.500 linh mục, còn hàng vạn nam nữ
tu sĩ các dòng và các thầy giảng cũng cùng nhau lo việc chúa.
Tòa Thánh La Mã trước sự tiến triển cao độ của Thiên chúa giáo tại Việt nam, đã cho thành lập một tòa Khâm mạng tại Saigon từ năm 1925. Đồng thời Tòa Thánh cũng nghĩ đến việc tấn phong một số các tu sĩ Việt nam lên hàng Giám mục, mà vị đầu tiên là Giám mục nguyễn Bá Tòng được tấn phong năm 1933. Và từ đó tới nay lần lần các địa phận đều được trao phó cho các Giám mục và các giáo sĩ
Việt nam, chỉ một số tối thiểu còn nằm trong tay các giáo sĩ ngoại quốc, với số địa phận tăng, tín đồ tăng, nhà thờ và nhà nguyện cũng tăng. Tới trước năm 1945 có tất cả 1931
nhà thờ và 4.071 nhà nguyện.
năm 1960, cùng với ba địa phận Đà Lạt, Mỹ Tho và Long Xuyên được lập nên, hàng Giáo phẩm Việt nam cũng bắt đầu được tổ chức với ba tòa Tổng Giám mục: Hà nội, Huế
và Sài Gòn và đồng thời các hàng Giám mục Hiệu tòa cũng được nâng lên hàng Giám mục chính tòa.
Tóm lại, sau 300 năm lan truyền tới Việt nam, Thiên chúa giáo ngày nay qua các biến cố lịch sử và nhờ sự nhẫn nại của các tu sĩ đã trở nên một đoàn thể tín ngưỡng quan trọng tại nước nhà với 22 địa phận chính tòa, ba tòa Tổng Giám mục, hơn 3.000.000 tín đồ.
Tín ngưỡng Việt Nam
CáC dòNg Tu Tại ViệT Nam
Tìm hiểu Thiên chúa giáo tại Việt nam, không thể không biết đến các dòng tu của tôn giáo này, biết đến để hiểu về
đạo sâu xa hơn cũng như biết đến để nhận thấy những sự hy sinh và công lao vất vả của tu sĩ các dòng đối với các công cuộc văn hóa và nhất là các công cuộc chấn hưng, xã hội mà các dòng đã chủ trương cũng như đối với việc phổ cập đạo giáo trong mọi tầng lớp quần chúng.
Tất cả hiện nay có 55 dòng hoạt động tại Việt nam, 22
dòng nam và 33 dòng nữ. Trong số các dòng này có dòng gốc tại ngoại quốc, có dòng thành lập tại Việt nam.
Dù là dòng nam hay dòng nữ, sáng lập tại ngoại quốc hay gốc tại Việt nam, các tu sĩ ai nấy đều dốc một lòng trông một hướng phụng sự chúa và giúp đỡ nhân loại. Sự gắng công của mọi tu sĩ đã là những tấm gương sáng cho các tín đồ và những kết quả thâu đạt được, làm rạng rỡ đạo chúa đã là những phần thưởng tinh thần quý báu hơn bất cứ phần thưởng nào.
CáC dòNg Nam
Dòng tHánH Biển ĐứC (OrDO SanCti BénéDiCtine) Đây là một dòng cổ thành lập từ thế kỷ thứ VI bởi Thánh Biển Đức. Hiện có các đặc tính:
- Dòng này nay là một dòng Tòa Thánh, trực thuộc đức Giáo hoàng; ngài là vị bảo trợ cho cả dòng;
- Dòng được hưởng đặc ân miễn trừ (exemptio) chỉ thuộc quyền Bề trên các địa phương trong những khoản giáo luật ấn định;
- Dòng là một tổ chức tự lập. Vị đại diện chung cho cả
dòng là đức Thống phụ (Abbas prima) hiện ở La Mã.
Mê tín dị đoan
Mục đích của dòng là sống kết hợp với Thiên chúa trong khuôn khổ một cuộc sống cộng đoàn mà kiểu mẫu lý tưởng là cuộc sống cộng đoàn Kitô hữu ở Jérusalem.
Hiện nay trong thế giới dòng có 16 tu hội (congrégatones) với bảy nhà biệt lập (monasteria singularis) với tổng số gần 12.000 đan sĩ (moines). Dòng lại có 23.603 nữ đan sĩ theo đuổi mọi hoạt động từ đời sống kín đến các việc từ thiện.
Tại Việt nam, dòng Biển Đức (Bénédictine) có hai nhà: Thiên An ở Huế và Thiên Hòa ở Ban Mê Thuột. Hoạt động chính là việc giúp các linh hồn tận hiến bằng nhận giảng kỳ
tĩnh tâm, hoặc tại các dòng hoặc tại nhà trong việc tiếp các linh mục hay tín hữu đến tĩnh tâm.
Đan viện cũng có một trường tiểu học miễn phí cho 200
trẻ em và một bệnh xá mỗi tháng giúp đỡ độ 800 bệnh nhân thuốc men.
Dòng Xi tô (Saint OrDre CiSterCien) Đây cũng là một dòng cổ thành lập bởi Thánh Roberto từ
thế kỷ thứ XI tại Đồng Lác (cistels) và do đó có tên là Xi Tô (cisteaux).
Đặc tính của dòng:
- Dòng Tòa Thánh;
- Được miễn trừ;
- nhà mẹ Xi Tô tại La Mã.
Mục đích của dòng là chiêm niệm (contemplativi).
- các tu sĩ lo Thánh hóa bằng kinh nguyện, hàng ngày cả
tòa hát kinh, hát lễ, học hành làm việc xác.
- Không hoạt động bên ngoài. Tuy nhiên tu viện là nơi tiếp rước các bậc đến tĩnh tâm cấm phòng ngoại trừ phụ nữ.
Trong thế giới dòng thịnh hành tại nhiều nước, nhất là ở
Ý, Áo, Đức, v.v...
Tín ngưỡng Việt Nam
Tại Việt nam, dòng Xi Tô được thành lập từ năm 1918
tại núi phước Sơn, Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Lúc đầu gọi là dòng Benédicto, mãi tới năm 1934 mới chính thức thành lập dòng Xi Tô.
Dòng Đa minH
Đây là một dòng quan trọng thành lập từ thế kỷ thứ XII bởi Thánh Đa Minh.
Được đức Giáo hoàng Innocenti III duyệt y ngày 22 tháng 12 năm 1216 và được Giáo hoàng Honoro III phê chuẩn như
một dòng tư giáo, khất sĩ có lời khấn trọng và miễn trừ.
Mục đích của dòng là giảng truyền phúc Âm và lo cứu các linh hồn.
Tại Việt nam, sự hiện diện của dòng Đa Minh có đồng thời với sự hiện diện của giáo sĩ Gaspar de Santa cruz vào năm 1550 nhưng mãi tới năm 1926 mới có tu viện Đa Minh tại Việt nam.
Hoạt động của dòng gồm: Đi giảng phòng các nơi - chân lý, nhà xuất bản Thiên chúa giáo, công việc từ thiện xã hội và văn hóa với các trường tư thục Trung và Tiểu học.
nói đến dòng Đa Minh cần nói thêm chi Lyon của dòng đã hoạt động tại các địa phận Lạng Sơn, Hải phòng và Hà nội ở Bắc và các địa phận Sài Gòn và Đà Lạt ở nam Việt.
Dòng PHan Xi Cô (OrDO Fratrum minOrum) còn gọi là dòng Anh em hèn mọn vì Thánh phan Xi cô người sáng lập ra dòng này vào thế kỷ thứ XIII, đã được Giáo hoàng chuẩn nhận nếp sống nghèo hèn, giao phó cho ông và mười hai bạn đường sứ mệnh truyền bá phúc Âm trong nước Ý và ở hải ngoại.
Đây cũng là một dòng Tòa Thánh và được miễn trừ.
Mê tín dị đoan
Mục đích của dòng:
- Đối với tu sĩ: Thánh hóa bản thân bằng ý chí và thực hiện phúc Âm trong đức nghèo khó triệt để;
- Đối với hoạt động bên ngoài: truyền bá phúc Âm và hoạt động tông đồ, xã hội.
Trên thế giới, dòng có nhiều chi tại nhiều nơi.
Riêng tại Việt nam, dòng có năm nhà tại miền nam và hai nhà tại miền Bắc.
Hoạt động theo đúng mục đích của dòng.
Dòng BệnH viện tHánH giOan tHiên CHúa (OrDre HOSPitalier De St.Jean De Dieu)
Một dòng Tòa Thánh được miễn trừ, thành lập vào thế kỷ
thứ XVI bởi Gioan ciudal với mục đích giúp thân xác yếu hèn của con bệnh để làm lành cho tâm hồn họ. con bệnh đây gồm cả sự nghèo khổ, một thứ đau khổ của thể xác.
Tại Việt nam dòng này được thành lập từ năm 1952 ở Bùi chu. nhà chính của dòng hiện nay ở Miền nam là bệnh viện di cư ở Hố nai, Biên Hòa.
Dòng có một bệnh viện phổ thông, có phòng phát thuốc giúp đỡ người đau ốm nghèo khổ.
Dòng tên (SOCieta JeSu; JéSuiteS) có thể nói rằng Dòng Tên là một dòng thông thái của Thiên chúa giáo. các tu sĩ dòng này phần lớn đều học vấn uyên bác, không phải riêng về thần học mà về cả các môn khác nữa.
Dòng được thành lập từ năm 1540 và cũng là một dòng Tòa Thánh được miễn trừ.
Mục đích của dòng là nhằm Thánh hóa bản thân của từng tu sĩ và làm bất cứ hoạt động nào theo ý muốn của Tòa Thánh.
Tín ngưỡng Việt Nam
Hiện nay dòng có nhà chính tại La Mã. Số tu sĩ của dòng trên khắp thế giới lên tới 35.438, theo thống kê năm 1962.
Hoạt động của dòng gồm: Tĩnh Tâm viện, coi xứ đạo, giảng dạy; việc Tông đồ xã hội và trí thức.
Về giáo dục dòng đảm nhiệm đủ các bậc từ trung học đến đại học, thêm cả chủng viện. ngoài ra, dòng lo việc truyền giáo ở các xứ ngoại đạo.
Tại Việt nam Dòng Tên được thành lập từ thế kỷ thứ XVII do các giáo sĩ Buzomi, Alexandre de Rhodes và nhiều tu sĩ
khác. năm 1957, tại Sài Gòn nhà Thánh Ingatiô được thiết lập và mở rộng. Sau đó, Trung tâm A. de Rhodes ra đời với các hoạt động rất đáng ghi:
năm 1958, mở tại Đà Lạt: Giáo hoàng Học viện thánh pio.X.
năm 1960, mở tại Thủ Đức: Một nhà tập.
năm 1961, mở tại Huế: Trung tâm sinh viên Xavie.
Muốn được nhập Dòng Tên cần phải có điều kiện: Tài năng, sức khỏe, hiểu biết, học vấn. Lại phải có tài năng siêu nhiên như ơn Thánh Triệu, đức nhiệt tâm, đức hãm mình. phải hợp với giáo luật và luật Dòng.
Dòng CHúa Cứu tHế (reDemPtOriSteS).
Sáng lập năm 1732 bởi Thánh Alphonsô Maria đệ Ligoriô với đặc tính là dòng Tòa Thánh và miễn trừ.
Mục đích của dòng:
- noi gương chúa cứu Thế như Hiến pháp truyền dạy, các tu sĩ phải thực hành những điều nhân đức của chúa. Họ phải biểu dương Mầu nhiệm, cứu rỗi trong đời sống và hành vi để
có thể nói được: Tôi sống nhưng không phải tôi sống, chính chúa Kitô sống trong tôi.
- các tu sĩ noi gương chúa cứu Thế cực thánh trong việc rao giảng lời chúa vừa bằng loan truyền phúc Âm theo thể
Mê tín dị đoan
thức Đại phúc vừa bằng cách hành tế các nhiệm tích nhất là phép Thánh Tẩy, phép Giải Tội và phép Thánh Thể và bằng cách biểu tỏ chúa Kitô ra cho nhân loại qua đời sống chứng tỏ của mình.
nhà chính của Dòng hiện nay ở La Mã: collégio St.Alphonso.
Tại Việt nam, dòng được thành lập ngày 8 tháng 12 năm 1952 và hiện nay có một nhà chính ở Sài Gòn, sáu nhà khác ở các nơi: nha Trang, Vũng Tàu, Đà Lạt, Huế, Tuyên Đức và Hà nội. ngoài ra dòng lại có một địa sở truyền giáo tại xã Bình Vân tỉnh Quảng ngãi.
Hoạt động của dòng:
- Giảng các kỳ Đại phúc, các kỳ cấm phòng, tĩnh tâm cho các tu sĩ, chúng sinh, các đoàn thể công giáo tiến hành.
- Mở các lớp huấn luyện về giáo lý.
- Diễn thuyết cho người ngoại đạo.
- Truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ bằng lời giảng, báo chí, sách vở v.v...
Dòng SaléSienS (SaléSienS, DOn BOSCO).
Thành lập năm 1841 bởi thánh Gioan Bosco. Dòng Tòa Thánh và miễn trừ.
Mục đích:
- Đối với tu sĩ: Tự Thánh hóa và giúp nam Thanh thiếu niên.
- Đối với bên ngoài: Dạy nghề cho các trẻ em để sống xứng đáng con người.
Tại Việt nam, dòng thành lập từ năm 1953 và hiện nay có nhà chính: Gia Đình Don Bosco ở Gò Vấp, Gia Định, trông coi về ngành kỹ thuật.
ngoài ra lại có chủng viện Don Bosco ở Thủ Đức với 250
chủng sinh và một nhà tập ở Đà Lạt.
Tín ngưỡng Việt Nam
Dòng truyền giáO tHánH vinH Sang (COngrétatiOn De la miSSiOn)
Sáng lập năm 1625 bởi Thánh Vinh Sang tại Ba Lê (paris), người sau này cũng lập ra dòng nữ Tử Bác Ái (congrégation des Filles de la charité).
Đặc tính: Dòng miễn trừ có lời khẩn đơn.
Dòng lập ra ngoài mục đích thánh hóa bản thân còn có hai mục đích:
- Truyền giáo cho dân ngoại và hưng giáo cho các miền quê bằng việc cấm phòng, giảng tuần đại phúc.
- Đào tạo hàng Tư giáo trong các chủng viện.
Thánh Vinh Sang quan niệm công việc tông đồ thành hay bại, một phần lớn do vấn đề nhân sự. Việc đào tạo hàng Tư
giáo do đó rất quan trọng.
Điều khiển toàn dòng trên thế giới có một bề trên do một Hội đồng tối cao tám năm họp một lần bầu ra.
Tại Việt nam, dòng này có trụ sở đầu tiên ở Đà nẵng, tức là Thánh Tâm Biệt Thự. năm 1928, dòng nữ được thành lập, hiện nay có gần 20 cơ sở tại nhiều nơi.
nhà chính của dòng tại Việt nam ở Đà Lạt. ngoài nhà chính này dòng có bốn cơ sở khác:
- Họ đạo người Tàu Đà Lạt;
- Sở Tuyên Úy ở Sài Gòn;
- Sở Truyền giáo cho đồng bào Thượng ở D’jom (Đà Lạt)
- Sở Tuyên Úy trại cùi Bến Sắn (Bình Dương).
Dòng Sư HuynH CáC trường Công giáO
còn gọi là dòng La San. Dòng này hoạt động rất có hiệu quả tại Việt nam và đã giúp rất nhiều về phương diện văn hóa và giáo dục ở đây. Dòng được thành lập từ thế kỷ thứ
XVII tại pháp trước sự bê bối của việc giáo dục. Một số
Mê tín dị đoan
đông trẻ em thiếu trường, thiếu giáo sư nhất là con em giới cần lao.
Trước tình trạng ấy, Linh mục St.Jean Baptiste de la Salle đã lập nên dòng này để góp công hữu hiệu vào việc giáo dục các trẻ em thất học.
Đây cũng là một dòng Tòa Thánh nhưng không miễn trừ.
Mục đích của dòng phối hợp tu hành với giáo dục. các môn đệ thánh La Salle không những hy sinh của cải trần tục, chức quyền phần đời mà còn hy sinh cả những chức tước phần đạo, chỉ cốt lo việc tổ chức giáo dục dân chúng cho hoàn toàn, tận tình như anh cả dìu dắt các em út.
nhà Mẹ của dòng hiện nay ở Ý quốc.
Dòng hoạt động tại 80 quốc gia trên thế giới, giáo dục trong 1.500 trường trên 700.000 thanh thiếu niên thuộc mọi thành phần xã hội từ tiểu học đến đại học với đủ mọi khoa Sư phạm, chuyên nghiệp, Kỹ nghệ, Mỹ thuật, canh nông, Võ bị, Bách công. Riêng tại Việt nam dòng được hành lập từ năm 1866.
Trường đầu tiên mở ra là trường Taberd cốt để nuôi trẻ mồ
côi, nhưng sau mở rộng xây dựng thêm thành trường Taberd ngày nay. Từ năm 1897, tỉnh dòng Việt nam được biệt lập và từ đó thêm nhiều trường được mở ra.
Đến nay trên toàn lãnh thổ có tất cả trên 20 trường và tổng số học sinh vào khoảng 15.000. Riêng Sài Gòn đã có bốn trường:
Trường La San nghĩa Thục miễn phí, 900 học sinh; Trường La San chánh Hưng miễn phí, 350 học sinh; Trường Đức Minh, 1.500 học sinh;
Trường Taberd, 3.500 học sinh.
Theo học các trường của dòng không phải chỉ riêng con em các gia đình Thiên chúa giáo mà còn phần lớn con em các gia đình ngoại đạo. Ở đây các em được săn sóc chu đáo 35
Tín ngưỡng Việt Nam
như nhau không phân biệt có đạo hay không. Dòng La San đã tự tô những nét son rất đẹp.
ngoài việc huấn luyện về học vấn, các Sư huynh còn hoạt động Thiên chúa giáo Tiến Hành qua các Hội đoàn.
Từ trên được kể ra với hoạt động thường xuyên tại Việt nam, một số các dòng nam có nguồn gốc ở nước ngoài được biết nhiều trong dân chúng, có đạo cũng như ngoại đạo.
ngoài các dòng trên, còn nhiều dòng khác cũng sáng lập tại ngoại quốc và cũng đang hoạt động tại Việt nam: Hội thánh Xuân Bích (Société presbytère à St.Sulpice); Hội Thừa Sai paris (Société des Missions Etrangères de paris); Dòng Tiểu Đệ chúa Jésus (congrégation des petits Frères de Jésus);
Hội phụ Tá truyền giáo (Société des Auxilliaires des Missions).
Không kể các dòng sáng lập tại ngoại quốc được du nhập vào Việt nam, ngay tại Việt nam, nhiều dòng và tu hội cũng đã được thành lập với sáng kiến của các tu sĩ tại Việt nam.
Mục đích của dòng này, ngoài việc phụng sự chúa còn nhằm vào các hoạt động giáo dục và xã hội và đã giúp đỡ không ít cho các tầng lớp bình dân Việt nam. Dưới đây xin lược kể
sơ qua các dòng mà hầu hết đặc tính đều là dòng địa phận không miễn trừ, trong việc lược kể này không nhắc tới phần phụng sự chúa, việc bất cứ dòng nào cũng lo chu toàn, chỉ
xin nhắc đến những hoạt động về giáo dục và xã hội, những hoạt động này đã mang lại kết quả tốt đẹp cho Thiên chúa giáo, gây cảm tình với nhiều tầng lớp dân chúng và đã mang lại một số tân dòng không phải nhỏ.
Dòng ĐứC mẹ Đồng Công Cứu CHuộC
Dòng được sáng lập bởi linh mục Đa Minh Maria Trần Đình Thứ từ năm 1942 tại Bùi chu, nhưng mãi tới năm 1953
mới được Tòa Thánh chính thức chấp nhận.
Mê tín dị đoan
Trong một cơ quan từ thiện dòng nữ tu thánh Paul de Chartres Trong một cô nhi viện dòng nữ tu Bác ái thánh Vinh Sơn.
Tín ngưỡng Việt Nam
Hoạt động: dùng các viện cô nhi, tế bần, nhất là việc thiết lập và chỉ huy trường học Thiên chúa giáo với mục đích lôi kéo dẫn dắt người ngoại đạo về với chúa.
nhà chính của dòng hiện nay ở Bình Định.
thánh tâm tu viện Huế. - Sáng lập năm 1925, do đức Giám mục Hồ ngọc cẩn đốc xuất và làm bề trên tiên khởi.
ngoài mục đích phụng sự chúa, mục đích bên ngoài chú trọng về việc giáo dục thanh thiếu niên, có dạy giáo lý hàng ngày nửa giờ, dạy vỡ lòng.
Dòng thánh giu Se nha trang. - Do linh mục Sion Hội Thừa Sai, paris, sáng lập tháng 11-1926.
Hoạt động ở ngoài: Dạy giáo lý thanh thiếu niên trong các trường. Giúp các cơ sở của địa phận.
Dòng tu Sĩ truyền giáO tHánH PHaO lồ
Do giáo sĩ philippe nguyễn Kim Điền sáng lập từ năm 1963 với mục đích truyền giáo nhất là ở thôn quê, bằng đời sống và hoạt động, đặc biệt dành cho lương dân.
các tu sĩ của dòng phải noi gương Thánh phao Lồ để thánh hóa mình và thánh hóa người với tôn chỉ Tất cả chúa Kitô trong đời sống.
Về hoạt động, các tu sĩ chia từng nhóm hai hay ba người đi truyền giáo giữa lương dân, giữa người nghèo, tìm cách thích nghi với mọi hoàn cảnh.
Tu ViệN huyNh Đệ giáo lý CôNg giáo Ky Tô Vua VĩNh loNg
Thành lập từ năm 1870 bởi các linh mục Thừa Sai paris Gernot và Ritter.
Mục đích bên ngoài: giúp hàng giáo sĩ thành lập họ đạo mới, dạy tân tòng, trẻ con xưng tội, rước lễ, thêm sức v.v..., điều khiển và dạy hướng tu của họ đạo hay của Tu Viện.
Mê tín dị đoan
ngoài các dòng và tu hội kể trên còn các tu hội sau đây mới thành lập tại miền nam:
Tu hội nhà chúa ở Thị nghè, Gia Định (1960); Tu hội Đắc Lộ ở Tân sơn nhì, Gia Định (1957); Tu hội Tôi Tá Thánh Linh ở Sài Gòn (1962).
CáC dòNg Nữ
ngoài 22 dòng nam và Tu hội trên, tại Việt nam còn có các dòng nữ hoạt động cho công việc chúa, và những kết quả do các dòng nữ mang lại cũng không kém các dòng nam.
có 33 dòng nữ, có dòng nguồn gốc tại nước ngoài du nhập vào Việt nam, có nhiều sáng lập ngay tại Việt nam.
Dòng carmêlo thường gọi là dòng Tu Kín.
Đầu tiên vào đầu thế kỷ XIII, Thánh Albertô lập ra dòng Ẩn Sĩ gọi là dòng nam Đức Mẹ núi carmêlo.
Giữa thế kỷ thứ XVII, Thánh nữ Te-re-xa đệ Giê Su lập ra dòng nữ Ẩn Sĩ theo lệ luật dòng nam của Thánh Albertô.
Đặc tính: dòng Tòa Thánh, không miễn trừ.
Tại Việt nam dòng được thành lập vào năm 1895 tại Hà nội, năm 1909 ở Huế, năm 1923 ở Bùi chu và năm 1929 ở
Thanh Hóa.
Hoạt động: các nữ tu mỗi ngày sáu lần toàn thể họp tại Triều ca để xướng kinh Thần Vụ, thêm hai giờ suy ngẫm, còn dư bao nhiêu giờ dành cho thủ công.
Dòng CáC mẹ trường COuvent DeS OiSeauX
- chính danh phải gọi dòng này là dòng nữ Kinh Sĩ Thánh Augustinô
(Les chanoinesses de St.Augustin), thành lập tại Lorraine (pháp) từ năm 1597 do thánh pierre Fourier và chân phước Alix le clere.
Tín ngưỡng Việt Nam
Đây là một dòng Tòa Thánh có mục đích liên kết sự đọc kinh nhật tụng công khai và ca đoàn với việc dạy học và giáo dục thiếu nữ.
Hiện tại thế giới dòng có 1.300 cơ sở, 55 nhà, nhà mẹ Bề
Trên ở cả La Mã.
Du nhập vào Việt nam năm 1935 tại Hà nội, nhà chính của dòng này ở Đà Lạt, có một trường trung học gồm 400
nữ sinh.
ngoài ra, ở Sài Gòn, dòng có nhà Régina Mundi với hoạt động giáo dục một trường trung tiểu học có trên 1.000 nữ sinh.
Dòng nữ tu PHan Xi Cô tHừa Sai ĐứC mẹ (inStitut DeS FranCiSCaineS miSSiOnnaireS De marie).
Dòng Tòa Thánh thuộc Bộ truyền giáo, thành lập năm 1877
bởi mẹ Maria de la passion. Dùng lối sống vừa chiêm ngưỡng vừa hoạt động có mục đích tối hậu là bắt chước chúa Jésus Kitô, là Đường, là sự Thật và sự Sống của các Tâm hồn. chị
em hiến thân cố hun đúc tình yêu theo tinh thần phúc Âm: thật thà, đơn sơ, vui vẻ.
Hoạt động của dòng chuyên việc giáo dục, làm các công việc y tế, xã hội, dạy giáo lý và lưu tâm ưu đãi những kẻ cô đơn.
Tại Việt nam, dòng được thành lập tại Vinh (nghệ An) từ năm 1932.
Hiện dòng có 4 nhà ở Việt nam:
- nhà Quy Hòa: trông nom trại cùi Tuy Hòa.
- nhà chính ở Đà Lạt có trường học, xưởng máy, phòng phát thuốc.
- nhà M’Lon tại vùng Thượng có một ký túc xá và các bà Mẹ thường đi thăm các làng Thượng.
- nhà Gia Định có hai trường tiểu học và lo cứu tế
người nghèo.
Mê tín dị đoan
Dòng nữ tu tHánH Paul De CHartreS (COngrégatiOn DeS SOeurS De Saint Paul De CHartreS) Dòng Tòa Thánh sáng lập tại Lèvesville - La chenard, một làng hẻo lánh miền Beauce đất pháp, bởi linh mục Louis chauvel với mục đích thi hành đức Bác Ái với các thiếu nữ, các bệnh nhân dưới mọi hình thức trong khắp năm châu.
Tại Việt nam, dòng xuất hiện từ năm 1860, và sau 100 năm, nay có ba tỉnh dòng: Hà nội với trường Ste.Marie, Đà nẵng với trường Thánh Tâm và Sài Gòn. Ở miền nam dòng có 24
nhà lo trông nom giáo dục, y tế và xã hội: trường học, bệnh viện, cô nhi viện, nhà dưỡng lão. có thể kể một vài tên để