Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPhần 17
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
những nghìn vàng dành riêng cho người mới chết trong năm qua sẽ được hóa riêng một đống. Khi vàng hóa gần hết, người ta đổ vào những đống tro vàng, mỗi đống một chén rượu cúng. Tục tin rằng có như vậy ở dưới cõi âm các cụ
mới nhận được vàng, và vàng mã mới biến thành vàng tiêu được ở nơi âm phủ.
Mê tín dị đoan
Rồi người ta đem hai cây mía đã mua trong năm và đã để
thờ trong ba ngày Tết ra hơ trên những đống tàn vàng còn đang đỏ ối. Hai cây mía đó, theo tín ngưỡng, người ta bảo là gậy các cụ. các cụ sẽ dùng hai cây mía này để gánh vàng về cõi âm, và cũng dùng làm khí giới chống lại bọn quỷ sứ
muốn ăn cướp vàng.
Lễ hóa vàng chấm dứt ngày Tết tại các gia đình. Trong buổi cúng tiễn các cụ ngày mồng bốn, các con cháu thường tề tựu lại các nhà gia trưởng, và sau lễ hóa vàng họ cùng nhau ăn uống để kết thúc ngày Tết. Sau bữa cơm hóa vàng này, những con cháu làm ăn nơi xa lại ai đi phương nấy.
ngày nay, thường người ta hóa vàng sớm hơn, nhất là tại các đô thị, rất ít các nhà cúng các cụ cho hết ba ngày Tết.
viếng mộ đầu xuân.
có nơi thay vì đi thăm mộ trước Tết, người ta đợi đầu xuân, sau khi hóa vàng tiễn các cụ, mới cùng nhau đi viếng mộ.
Ở làng Thị cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh Hà Bắc, sáng sớm, sau cuộc lễ, có hóa vàng đốt pháo, rồi nhà nhà đều rủ nhau đi thăm mộ.
phần đông gia đình, già trẻ lớn bé đều đi viếng mộ hết. Gia đình nào cũng mang theo hương để cắm lên mộ, mang theo vàng lá để đốt tại mộ, và nhất là mang theo cuốc sẻng để đắp lại các nấm mộ cho cao, vun lại các nấm mộ cho dẹp, đánh nhổ đi hết những khóm cây dại mọc lấn vào mộ.
Ở nghĩa địa đủ nam phụ lão ấu với áo màu sặc sỡ của ngày xuân.
có nhiều người lại đốt cả pháo, như muốn để hương hồn người khuất được chia vui thêm với người sống nhân dịp xuân về.
Thăm mộ là một tục rất đẹp và rất có ý nghĩa. Tục này còn, gia đình còn và con người sẽ không bao giờ mất gốc.
*
* *
Tín ngưỡng Việt Nam
Tết nguyên Đán là Tết trọng đại nhất trong năm. Với Tết này không những người ta thêm tuổi mà chính là một dịp để có sự đoàn tụ toàn thể gia đình sau một năm mỗi người một ngả.
Mê tín dị đoan
Ngày TẾT Của ĐồNg Bào
ThượNg miềN Nam
Mỗi độ xuân về chúng ta lại đón mừng một năm mới.
Xuân tưng bừng đến, lòng người rộn rã vui, cầu chúc cho nhau những điều may mắn. Bao nhiêu điều không tốt đẹp hãy lui trở lại với năm cũ để cho năm mới được tinh hảo, đem lại cho con người toàn những niềm hy vọng.
Trong lúc chúng ta mừng xuân, chúng ta cũng nên tìm hiểu xuân của một số anh chị em chúng ta, các đồng bào Thượng, mà gần đây một số các nhà nhân chủng học đã xác nhận đồng nguồn gốc với chúng ta.
chúng ta ăn Tết, đón xuân, các sắc dân đồng bào Thượng cũng mỗi năm một dịp mừng xuân mới, tùy theo phong tục từng sắc dân. Xuân và Tết của các đồng bào này nhiều khi không cùng đến với xuân và Tết của chúng ta, đến sớm hơn hoặc đến muộn hơn, tùy từng địa phương, nhưng sớm muộn họ đều coi đó là một dịp ăn mừng trong năm.
Muốn nói đầy đủ về Tết của các đồng bào Thượng phải một tập sách dầy mấy trăm trang mới mong trình bày được hết. Việc làm này, xin thú thực tôi không làm nổi và xin 307
Tín ngưỡng Việt Nam
dành riêng cho các nhà nhân chủng học, ở đây tôi chỉ muốn nhân dịp nói tới Tết nguyên Đán của người Kinh, tôi không quên các đồng bào Thượng.
Bắt đầu bằng một số ít các sắc tộc miền nam.
TẾT Của Người Kơho
người Kơho là một sắc dân ở cao nguyên Trung phần, tập trung nhiều nhất tại tỉnh Lâm Đồng.
người Kơho không ăn Tết nguyên Đán như người Kinh.
Tết của họ đến sau Tết nguyên Đán một tháng và gọi là Tết Lir bong (Ly bông), tức là Tết Mừng Lúa Về.
Tết này bắt đầu vào khoảng tháng ba dương lịch và kéo dài hàng tháng. Dân Kơho đón mừng ngày Tết một cách thảnh thơi. Thóc lúa họ vừa gặt xong, việc canh nông đã chấm dứt.
Họ tha hồ nhàn rỗi, chờ đợi mùa mưa để cày cấy vụ sắp tới.
Ý nghĩa tết mừng lúa là để dân chúng hân hoan vui sướng sau khi đã đóng kho lúa lại. Hai chữ Lir bong, nghĩa đen là bịt cót thóc, vậy mừng lúa về là mừng thóc đã đóng vào trong cót. Ăn Tết Lir bong, người Kơho mừng vì kết quả
thu hoạch được và tỏ lòng cám ơn Thượng đế Yang (Giàng) đã ban ơn cho họ, cho mưa thuận gió hòa để họ có thóc lúa sinh sống quanh năm.
Đối với người Kơho, thóc lúa quý lắm. Toàn dân họ sống về nghề nông. Thóc lúa là căn bản, nên để cảm ơn Thượng đế
Yang đã ban cho họ, họ không tiếc các sinh vật. Họ giết trâu, lợn, dê, gà để tạ ơn đức Yang. Họ cúng rẫy, cúng ruộng, cúng gieo hạt và khi lúa lên họ cúng “dưỡng lúa” để cây lúa khỏe mạnh. Lúc lúa gặt về họ tất nhiên phải cúng “mừng lúa về” .
Để tổ chức Tết Lir bong, sau khi thóc đã đóng cót, dân làng tụ họp dưới sự chủ tọa của các bô lão để tổ chức ngày 308
Mê tín dị đoan
Tết. Trước hết họ rào làng cho kín để tránh những sự cướp bóc, rồi họ sửa sang đường xá, sửa sang các giếng trong làng, trồng cây nêu v.v... Sau đó họ họp nhau lại để ấn định ngày chính thức khai lễ. Họ cắt đặt người đi mời các bạn bè quan khách tới khai lễ. Thanh niên trong làng chuẩn bị chuông, trống, kèn, sáo để sẵn sàng làm lễ.
Đến ngày lễ đã được ấn định, lễ sẽ được khai mạc theo tục lệ vào buổi chiều khi mặt trời đã lặn. Họ tiếp rước quan khách, họ hàng bè bạn bằng những hồi chiêng rầm rộ. Mọi người được xếp ngồi theo thứ bậc thành hàng lối. chiêng trống rung đổ hồi, cho tới khi mọi người an tọa mới tạm ngưng.
Lúc đó vị chủ tế, thường là chủ gia đình, đứng giữa đám đông đốt hương, bắt gà vịt dê lợn đặt dưới bàn thờ. Sau đó họ mời quan khách cùng hướng về phía bàn thờ cầu nguyện Thượng đế Yang, đại ý:
“Khẩn cầu thượng đế nhận lời cảm tạ của mọi người.
thượng đế đã ban phúc cho dân làng, dân làng có thóc lúa ăn quanh năm, sức khỏe được dồi dào để làm việc hơn ngõ hầu mùa sau kết quả lại tốt đẹp hơn nữa”.
Lúc cầu nguyện xong, chủ tế chém con vật hy sinh, lấy huyết nó vẩy lên cửa nhà, các cót thóc, các giạ lúa, các vò rượu.
Rồi các sinh vật được ngã ra làm cỗ dân làng đãi khách và cùng ăn. Suốt đêm tiếng chiêng, trống, thanh la, kèn, sáo vang lừng lẫn vào tiếng hát.
Lễ này được cử hành tại tất cả các gia đình cùng trong một đêm. Trong các thôn xã Kơho đêm đó thật là ầm ĩ vui vẻ. Họ tin tưởng vào Thượng đế Yang đã phù hộ cho họ và sẽ phù hộ cho họ mãi mãi.
Sau lễ cúng tại gia đình, họ kéo nhau từ nhà này qua nhà khác để ăn uống vui chung cho tới sáng.
Khách lạ họ gặp trong đêm nay, họ tin là mang may mắn tới cho dân làng họ, cho nên ra đường, nếu họ gặp được người khách lạ, họ sẽ hân hoan cố mời sao cho được người đó vào 309
Tín ngưỡng Việt Nam
dự tiệc với dân làng. người khách sẽ được đón tiếp nồng hậu trịnh trọng lắm. Họ cố lưu người khách lại càng lâu càng hay.
người khách sau khi vui chơi tại nhà người chủ đã mời mình, sẽ được mời tới các nhà khác để vui chơi ăn uống. có thể khách sẽ được mời đi khắp thôn. Ở nhà nào khách cũng được quý trọng, thỏa thích ăn uống tưng bừng.
Trong thời gian Tết Lir bong, nếu khách muốn ra về, khách phải trở lại nhà người chủ đã mời mình lúc đầu để cảm ơn và từ giã, khách không thể rút lui khi đang ở một nhà khác.
ngày cuối cùng của Tết Mừng Lúa Mới, mỗi gia đình trở lại làm lễ cầu nguyện riêng với Thượng đế Yang.
Sau ngày này dân làng lại bắt tay lại làm việc.
Tết Mừng Lúa Mới được tổ chức hàng năm. ngoài Tết này, cứ bảy năm đồng bào Kơho lại tổ chức một ngày đại lễ, đại lễ này không cử hành vào một ngày nhất định nào. Tới năm có đại lễ dân làng mới họp để ấn định ngày.
TẾT Của ĐồNg Bào ThượNg di liNh
Đối với đồng bào Thượng Di Linh, một năm không nhất định bao nhiêu ngày. Đối với họ năm trở lại với mùa lúa. Họ
không biết ngày nào nhất định là năm mới trở về, ngày Tết với họ, thay đổi từ làng này sang làng khác: sự thay đổi này khiến họ có thể dự Tết ở nhiều nơi, tại các nhà họ hàng bạn bè.
Trong một làng, dân làng hàng năm hội họp để cùng ấn định ngày Tết.
Tết là một lễ hoàn toàn gia đình, mỗi nghi lễ đều chỉ tổ
chức trong phạm vi nhà cửa và vựa thóc. người gia trưởng chủ tọa mọi cuộc lễ, họ hàng thân cận đều tham dự. Bà nội trợ phải lo sao cho đủ cỗ bàn mời khách khứa của gia trưởng.
Buổi chiều hôm đầu tiên, cả nhà tụ họp dưới vựa thóc, nơi 310
Mê tín dị đoan
đây đã được các bà các cô dọn dẹp sạch sẽ, xếp gọn mọi đồ
đạc rồi. chiếu đã được trải xuống đất. Một chum rượu cần đã sẵn sàng.
Trong lúc đó, người con rể của gia đình đi giết lợn, dùng dao nhọn đâm vào dưới bả vai con vật. con lợn được đem thui ngay, ruột gan đựng riêng để cúng thần.
Đêm xuống. Trong vựa thóc chỉ còn được soi sáng bằng lò lửa thui lợn.
cuộc lễ bắt đầu. Gia trưởng cầm chiếc cần uống rượu đưa qua mọi người trong gia đình để cùng cầu nguyện thần linh bằng điệu hát đều đều.
cầu nguyện xong, các vị thần linh, coi như đã hưởng rượu, xôi, lòng gan con lợn. Lúc ấy gia trưởng cấm cần rượu vào chum rượu, rồi bắt đầu uống rượu, sau đó tới lượt các người khác, bắt đầu từ những người đáng tôn trọng nhất trong nhà.
Lễ ở dưới vựa thóc lúc này đã xong. Đến lượt lễ trên vựa thóc. Gia trưởng và mọi người leo ngồi lên đỉnh vựa thóc. Sự
kiện leo từ dưới lên trên vựa thóc này là một dấu hiệu mừng ngày xuân mới.
người gia trưởng quỳ trên đống thóc giống, đây cũng là một dấu hiệu mừng xuân, cầu khấn và giết một con gà lấy máu vẩy trên thóc và xin với thần linh để cho những hạt giống này sinh sôi nẩy nở mau chóng để tránh những vụ giáp hạt.
Sau đó, người nầy uống mấy bát rượu cần, và vẫn quỳ như
vậy, đầu chấm mái nhà, gối quỳ trên hạt giống. Mọi người trong nhà cũng uống rượu theo, mỗi người vài bát.
Uống rượu xong, họ kéo nhau đi xuống. người gia trưởng lấy một chiếc bát trộn lẫn trong đó một ít vỏ bàng, một ít giây leo, máu con gà đã cắt tiết, đất tổ mối và rượu, đoạn dùng chất trộn lẫn này để phết lên vựa thóc, cột nhà, cửa vựa thóc và tường nhà. Đôi khi chất đó được phết cả lên người để
lấy may. Đó là lễ nghi quan trọng của ngày Mừng Lúa Mới.
Sau lễ này, mọi người rời khỏi vựa thóc để đi lên trên nhà.
Tín ngưỡng Việt Nam
cả nhà ngồi quây quần trên những chiếc chiếu để uống rượu. Anh chàng rể lấy rượu ở một chiếc chum lớn nhất rót cho mọi người. người ta uống rượu đêm. Mọi người sau tiệc rượu đi ngủ, nhưng rồi người gia trưởng lại đánh thức họ dậy để uống rượu mừng năm mới. Đàn ông xúm quanh chum rượu, còn đàn bà tíu tít sửa soạn cơm nước nấu nướng đãi khách. những bó đuốc nhựa, những cây đèn chai chiếu sáng khắp gian nhà, gây nên một bầu không khí rực rỡ. các bà các cô mặc những áo thêu cộc tay đi đi lại lại.
cơm nước nấu xong, mọi người tụ tập lại ăn uống. Thịt con gà cắt tiết lúc ở vựa thóc được đem giã nhỏ chia ra mỗi người một ít, để ai nấy đều được hưởng lộc của Thần Thóc Gạo. con lợn được cắt ra, một phần để dành hôm sau đãi khách sẽ tới.
người ta uống rượu nhiều hơn ăn. Trống chiên đánh nổi lên loạn xạ, xen lẫn những khúc hát thổ ngơi. Rồi mọi người mỏi mệt, bình minh vừa tới khi họ đã ngủ lơ mơ. Tuy mọi người ngủ nhưng người gia trưởng vẫn thức, thức để canh chừng giấc ngủ của người khác, nhất là của khách khứa.
Bình minh đến, mọi người lại thức giấc để lại mở thêm nhiều vò rượu cùng nhau say sưa. cuộc vui kéo dài hết ngày đến tận trưa hôm sau. Khách khứa lúc đó mới ra về mỗi người mang theo một gói xôi.
năm mới bắt đầu tốt đẹp.
TẾT Của ĐồNg Bào Chàm
Đã nói đến Tết của các đồng bào dân tộc thiểu số, không thể không nói đến Tết của đồng bào chàm.
Mặc dầu ngày nay đời sống của người chàm đã như
hòa hợp với đời sống của người Kinh, họ vẫn còn lưu giữ
Mê tín dị đoan
một số các cổ tục riêng, nhất là những tục lệ về ngày Tết năm Mới.
người chàm theo đạo Bà La Môn ăn Tết khác người chàm Hồi Giáo.
TẾT Của Người Chàm Đạo Bà Chăm
người chàm theo đạo Bà Là Môn gọi là đạo Bà chăm, thường được đồng bào Kinh gọi là người chàm chăm.
Sau một năm vất vả nhọc mệt với công việc đồng áng, khi mùa lúa đã xong, đồng bào người chàm dành ra một thời gian để ăn Tết và cũng là để tỏ lòng biết ơn tổ tiên quá vãng.
Tết của người chàm chăm gọi là Yêu ly thay và được cử
hành vào hai dịp:
Tết chính gọi là Bang ca Tê cử hành vào tháng 7 chàm, tức là vào khoảng tháng 9 âm lịch.
Tết phụ gọi là cha Bur cử hành vào tháng 9 chàm, tức là tháng 11 âm lịch.
cả hai Tết này hàng năm đều cử hành vào một ngày nhất định theo tục lệ từ xưa lưu lại.
TẾT ChíNh BaNg Ca Tê
Trong dịp này, các cuộc tế lễ được tổ chức cúng thần linh tại các đền để cầu an ninh thịnh vượng. các cuộc lễ khởi diễn từ ngày mồng một cho đến 15 tháng 7 chàm. Dân chúng mang đồ lễ tới để cầu cúng. Lễ tất họ lại mang về.
Lễ này rất long trọng tại các địa điểm tháp chàm, tháp Bà, tháp Hữu Đức...
Trong ngày Tết không có tiệc tùng và cũng không có những cuộc thăm viếng bà con bằng hữu.
Tín ngưỡng Việt Nam
TẾT Phụ Cha Bur
Tết phụ cha Bur dành riêng để tổ chức tại gia đình. nhà cửa được lau chùi, đồ lễ được sửa soạn từ mấy ngày trước.
người chàm chăm không có tục viếng mộ, nhưng đồng bào đó tin rằng chỉ có linh hồn những người khuất được chôn tại các nghĩa trang, gọi là Mu cut, là có thể trở về gia đình với con cháu để hưởng lễ.
Theo đạo Bà La Môn, những kẻ vô tín ngưỡng và bị tội không được phép chôn ở nghĩa trang.
Tết cha Bur bắt đầu từ 15 đến 30 tháng 9 chàm, tức là từ 15 đến 30 tháng 11 âm lịch. những cuộc lễ đáng kể trong Tết này, tuy là dành riêng cho gia đình, vẫn là cuộc lễ tại các đền chàm vào ngày rằm tháng chín chàm.
Sau cuộc lễ chung này, mọi người mới kéo nhau về nhà để
hưởng Tết riêng tại gia đình.
TẾT Của Người Chàm Đạo Pa Ni
người chàm theo Hồi giáo được gọi đồng bào chàm theo đạo pa ni, và ta vẫn gọi tắt là chàm ni.
Đối với đồng bào chàm ni ngày Tết là dịp con cháu trả ơn tổ tiên. chính vì vậy mà ngày Tết được gọi là Bang mu Cay, Bang nghĩa là ăn, Mu cay nghĩa là dâng lễ tổ tiên.
Đồng thời ngày Tết lại cũng là ngày tổ chức những buổi lễ tôn giáo tại các đền chùa để cảm tạ thần linh và để cầu khẩn các ngài che chở và phù hộ cho được an khang thịnh vượng.
Tân niên của người chàm ni trở về với mỗi mùa xuân, nhưng mùa xuân không đến đúng vào một ngày nào hàng năm, khi thì tới tháng hai, khi thì tới tháng 3 âm lịch v.v...
Mê tín dị đoan
Mỗi năm các po chan tức là các tu sĩ chàm cao niên hội họp với nhau để ấn định ngày lành sẽ tổ chức năm mới. ngày được chọn xong, các po chan mới loan tin cho dân chúng biết để sửa soạn ăn Tết. Tết kéo dài trong hai ngày, nhưng ít nhất phải dự bị trước từ một tuần lễ. Lễ nao Khôn, viếng mộ tổ
tiên, được tổ chức. Trong lễ này, mộ được đắp lại, cỏ bị dẫy.
Trong nhà cũng được sửa sang để đón xuân. nền nhà, tường, đồ đạc được lau chùi kỹ lưỡng. nợ nần phải trả hết trước Tết, bao nhiêu thù hận phải xóa đi. Ai cũng phải tỏ ra niềm ở vui vẻ với mọi người.
những người tha hương phải xoay sở để về làng ăn Tết.
ngày Tết, gia đình xum họp như người Việt để chúc tụng nhau và cùng ăn uống thỏa thuê. Trong các bữa tiệc, cấm ngặt không có thịt lợn, theo tục lệ Hồi giáo.
nhà cửa chăng đèn kết hoa. cỗ bàn cúng tổ tiên chỉ đơn giản nhưng thật thành kính.
ngày thứ hai, mọi người đi thăm viếng chúc tụng lẫn nhau và tới đâu cũng được mời ăn mời uống.
Hết ngày thứ hai, mọi tiệc tùng đều hết để sửa soạn cho ngày thứ ba là ngày đi lễ đền gọi là mu than mung ky.
Tại các đền các po chan làm lễ, và dân chúng mang lễ vật tới tham dự theo đúng phong tục Hồi giáo.
Suốt một tháng kể từ ngày mu than mung ky, trong những ngày 5, 15 và 30 trong tháng, các po chan đều làm lễ thần linh. nhân dịp năm mới, các đồng bào giữ nhiều điều kiêng kỵ, từ ngôn ngữ đến hành động. Họ mở lịch đồng để tiên đoán sự xấu tốt trong năm.
Họ tin rằng trong ngày đầu năm nếu các loại vật nuôi ở
trong nhà lên tiếng kêu là báo điềm tốt, trái lại tiếng kêu của các thú rừng báo điềm xấu.
Tín ngưỡng Việt Nam
Sự tíCH rượu Cần
người Kinh ta có câu: “Không có rượu không thành lễ”; đối với các đồng bào Thượng, miền Bắc cũng như miền nam, trong những dịp vui mừng đều có uống rượu, nhất là trong những dịp mừng năm mới. nếu người Kinh ta uống rượu tăm, rượu vân, các đồng bào Thượng dùng rượu cần.
Gọi tên rượu cần là vì rượu không rót ra chén uống, lại uống bằng cần cấm từ dưới đáy hũ rượu lên cho tới tầm người vừa uống. cần có thể bằng tre, bằng sậy thông lòng ống.
nói đến Tết của đồng bào Thượng không thể không nói tới rượu cần, nhất là gần đây Kinh, Thượng đoàn kết, người Kinh cũng luôn luôn có dịp uống rượu cần.
Tại các gia đình người Thượng miền nam, dù giàu nghèo nhà nào cũng có vài ba chóe rượu cần, những chóe này mang tên là những cái ghè.
cái ghè đựng rượu là một gia bảo, càng lâu càng quý, có chiếc Ghè đáng giá hai ba con trâu hoặc hơn nữa.
Theo đồng bào Thượng, rượu cần có sự tích riêng: ngày xưa tổ tiên người Thượng chất phác lắm: Thượng đế
thấy vậy rất thương mến, sai một thần linh đội hình một con nhím tới huấn luyện cho họ cách thức nấu rượu cần. Trước hết lấy những củ kuah giã nhỏ hòa với nước và bột gạo, nấu lên rồi nắm thành những nắm to bằng quả trứng gà. Đặt những nắm ấy lên những chiếc mẹt rồi hong ra gió một thời gian, tới khi nào những nắm đó phủ men xanh, đem vào bếp sấy.
Rồi thổi cơm cho chín, trộn những nắm bột có men ấy vào.
Thế là thành men rượu gọi là cua Êba.
những nắm bột đó đem đặt vào những chiếc ghè, rồi lấy rơm bọc kín lại. năm sáu ngày sau, mở ghè ra đổ nước lã vào cho đầy, rồi cho thêm một thứ lá tươi mà đồng bào Thượng giữ kín không nói là lá gì. Sau đó, lại dùng rơm trộn 316
Mê tín dị đoan
với bùn bịt chặt miệng ghè lại, để thêm độ bảy ngày nữa là thành rượu cần.
Thần nhím lại bảo tổ tiên người Thượng dùng một cái ống rỗng ruột uốn cong lại, một đầu cắm sâu vào trong vò, một đầu để vào miệng mà hút rượu. Uống như vậy cho đến khi ghè cạn hết rượu, có thể lại đổ thêm nước lã vào cho đến khi nào hết chất rượu mới thôi. Từ đó, tổ tiên người Thượng miền nam chế rượu cần dùng và lưu truyền bí quyết chế
rượu cho con cháu.
Truyện lại kể rằng tổ tiên người Thượng sau khi chế rượu xong cùng nhau uống, rượu ngon mềm môi uống mãi cho tới khi say mềm, vác gậy đánh nhau với thần nhím. Thần nhím cô thế phải bỏ chạy, mọi người đuổi theo. Thần nhím trốn vào bụi rậm, đoàn người xua chó săn vào đuổi. Thần nhím phải chạy lên núi, đoàn người cứ đuổi theo cho tới khi lên tới vùng cao nguyên thì người và chó đều mệt nhoài. Họ liền ở lại định cư tại đây, ngày nay là miền Thượng.
Sự tích rượu cần kể qua một câu chuyện thật là chất phác, nhưng nó đã đượm cả lòng tin của rất nhiều dân Thượng, và cũng nói lên bản chất yêu núi rừng của họ.
Tín ngưỡng Việt Nam
NhữNg CuộC Vui xuâN Của
ĐồNg Bào ThượNg du miềN BắC
Đã nói đến Tết nguyên Đán của người Kinh, đã nhắc qua sự mừng Tết của một vài sắc tộc Thượng miền nam, tôi tưởng không thể bỏ qua không nói tới đồng bào Thượng du miền Bắc với những thú chơi xuân ăn Tết rất nên thơ.
Đồng bào Thượng miền Bắc phần nhiều gần gụi người miền xuôi qua những cuộc giao dịch làm ăn, nên phong tục tập quán thường không khác người miền xuôi bao nhiêu, ngoại trừ ít nhiều tục lệ riêng, và một số các tục lệ chỉ thấy trong những dịp hội hè Tết nhất, nhất là khi mừng xuân.
những tục lệ trình bày ở đây, chỉ là một số ít các tục lệ
cổ truyền, giờ đây không biết có còn tồn tại hay đã thay đổi nhiều. Đành rằng những điều trình bày ra đây còn nhiều thiếu sót, nhưng đã giúp ích phần nào cho bạn đọc, biết tới đâu, xin nói tới đó với mục đích để những tục lệ này khỏi bị rơi vào lãng quên với tình trạng đất nước chia đôi ngày nay.
Đồng bào Thượng du miền Bắc, gồm rất nhiều sắc dân khác nhau, nhưng có nhiều phong tục có bề tương tự giống nhau. những sắc dân chính phải kể người Thổ (Tày) ở Lạng 318
Mê tín dị đoan
Sơn, cao Bằng, Bắc cạn, người nùng ở Móng cái, Tiên Yên, người Mường ở ninh Bình, Hòa Bình, phần thượng du tỉnh Thanh Hóa, người Mán (Dao) ở Vĩnh Yên, Thái nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, người Mèo (H’Mông) ở Hà Giang, Hoàng Xu phì (Hoàng Liên Sơn), người Lô Lô, người Yao, người nhắng ở Lao cay, người Xạ phang ở dọc biên giới Vân nam. Mỗi sắc dân đồng bào Thượng nói trên, trong phong tục đón xuân tuy có khác nhau, nhưng tựu trung những điểm chính vẫn giống nhau: sửa soạn Tết từ ngày trong năm và vui xuân với hội hè cùng các cuộc giải trí ngoài Tết trong suốt tháng Giêng, có khi sang cả tháng Hai và tháng Ba.
TẾT Của Người Thổ (Tày)
Trong các sắc dân đồng bào Thượng miền Bắc, các đồng bào người Thổ (Tày) tại cao Bằng, Bắc cạn, Lạng Sơn và một phần tỉnh Bắc Giang (Hà Bắc) (châu Hữu Lũng), cũng chung sống lẫn với người Kinh, cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa với người Kinh, và xưa kia vẫn chịu sự chi phối trực tiếp của triều đình Việt nam, nên phong tục tập quán gần với người Kinh lắm. Họ cũng sửa soạn Tết, cũng gói bánh chưng, cũng làm các thứ bánh trái như ta. Bánh chưng của họ gói tròn và họ gọi là bánh tầy, tuy nguyên liệu làm bánh cũng như người Kinh: gói bánh bằng lá dong, bánh bằng gạo nếp, có nhân đậu và thịt hoặc nhân đường với đậu xanh dùng để cúng phật.
ngày Tết họ cũng sắm quần áo mới để ngoài riêng chơi xuân, và để thưởng thức Tết, trong nhà cũng trang hoàng sửa sang. Họ cũng làm cỗ bàn cúng bái.
Trong những ngày Tết họ đốt rất nhiều pháo, và tại nhiều nơi, Đồng Mỏ, na Sầm, nước Hai, Quảng Uyên... có mở
Tín ngưỡng Việt Nam
những hội pháo rất linh đình và người ta tranh nhau cướp đầu pháo. pháo đốt ran trong những ngày hội, pháo tượng trưng cho Tết, có Tết là có pháo.
Trong những ngày hội xuân họ cũng có những trò vui như
hội hè miền xuôi, nhưng cũng nhiều khi rất khác.
Dưới đây là tóm lược mấy trò vui đặc biệt của đồng bào Thổ (Tày) trong những hội xuân.
Hát lượn
Hát lượn cũng giống như hát đúm ở miền xuôi, hoặc hát hò ở miền nam. Đây là lối hát giao duyên giữa nam thanh nữ tú nhưng riêng của trai gái miền thượng du Bắc Việt. Tại khắp các hội xuân của đồng bào Thổ (Tày), và cả của đồng bào Mán (Dao), thuộc mấy tỉnh Vĩnh Yên, phú Thọ (Vĩnh phú), Tuyên Quang nữa, hội Tam Lộng tỉnh Vĩnh Yên vào ngày 25 tháng chạp, hội Đồng Mỏ ngày mồng chín tháng Giêng (châu Ôn tỉnh Lạng Sơn), hội Kỳ Lừa ngày mồng 10 tháng Giêng v.v...
trai gái miền sơn cước rủ nhau tới hội hát lượn.
Trong câu hát cùng những lời đằm thắm, cùng những câu ân tình, trai gái thanh xuân hát lượn với nhau quên ngày giờ
và quên cả các trò vui khác.
Vừa lượn họ vừa đưa sóng mắt nhìn nhau để câu hát thêm tình tứ, để tim họ thêm rung động. Họ cùng nhau tính đến ngày mai qua câu hát, họ hứa hẹn thề bồi cùng nhau sẽ như
chim liền cánh, như cây liền cành.
nam xướng, nữ họa, nam nữ đối đáp, trai một câu, rồi đến gái một câu, họ quên giá lạnh của miền núi, họ không biết đến sự ồn ào ở chung quanh, họ chỉ biết trao đổi cùng nhau những lời êm dịu. Họ ở lại hội rất muộn, rồi lúc về bản, đi đường, đôi khi họ còn hát tiếp.
Mê tín dị đoan
ĐánH Còn
Đánh còn cũng là một trò vui đặc biệt của miền thượng du Bắc Việt. Đây là một môn du hý lưu truyền từ đời Hùng Vương, nghĩa là từ khi còn có các Quan Lang và các cô Mỵ
nương. Hàng năm cho đến hồi tiền chiến, trước năm 1954
tại hội đền Hùng, phủ Lâm Thao, tỉnh phú Thọ (Vĩnh phú) đều có tổ chức đánh còn.
còn là một trò chơi quý phái của nữ nhi, hay nói cho đúng của các cô tiểu thư con các Lạc hầu, Lạc tướng.
Lưu truyền tới ngày nay, môn du hí này vẫn giữ nguyên nếp chơi của ngày trước, cũng chỉ dành riêng cho các cô sơn nữ, ở phú Thọ cũng như ở Lạng Sơn, ở cao Bằng cũng như ở Bắc cạn...
còn là một trái cầu to bằng quả cam lớn, khâu bằng vải, trong nhồi bông, hoặc cỏ mềm, hoặc vải vụn. Bên ngoài còn bọc bằng vải mềm, có rua ngũ sắc trông sặc sỡ rất đẹp.
Đánh còn thường tổ chức trên một khoảng đất rộng. Giữa khoảnh đất này có trồng một thân tre cao. Trên ngọn cột tre, ngoài những lá cờ ngũ sắc phấp phới biểu hiện của đình đám ngày xuân, còn có một vòng tre đường kính ước độ già hai gang tay, có quấn giấy màu xanh đỏ.
các thiếu nữ chơi còn đứng về hai phía sân còn đối diện nhau để lần lượt thi ném quả còn cho lọt qua chiếc vòng tre trên đỉnh ngọn cột cờ. Khán giả, phần nhiều là các chàng trai, đứng vây quanh sân còn.
Muốn ném còn, các cô sơn nữ cầm rua quả còn đưa tay văng vọt lên. Quả còn lướt qua ngọn cột tre, những dây rua ngũ sắc cũng lướt xòe ra trông rất ngoạn mục. Thường thường trái còn chỉ đi sát bên chiếc vòng tre, ít khi trúng vào giữa vòng còn. Mỗi lần trái còn đi trúng qua giữa vòng còn, khán giả thường hò reo khen ngợi khuyến khích.
các cô sơn nữ say mê ném còn, ganh đua nhau mong tung trái còn qua vòng tròn. các cô vừa ném còn, có khi vừa ca 321
Tín ngưỡng Việt Nam
những câu hát cổ truyền. ném còn trúng đích các cô rất hãnh diện, không những với chúng bạn chơi mà nhất là với các chàng trai khán giả. các chàng trai gọi tên các cô để ca tụng, các cô càng cố gắng hơn.