Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPhần 19
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Tại các tỉnh, các xã đều có lễ Thượng Điền để tạ ơn Trời, Đất và vua Thần nông đã ban cho được mùa.
lễ du xuâN
Lễ Du Xuân là lễ nhà vua ngự du lúc xuân sang.
Lễ có từ đời nhà Lê. ngày mồng một tháng Giêng, sau khi các hoàng thân và các quan chúc mừng, nhà vua ngự du xuân có các quan văn võ đi theo. ngài mặc áo hoàng bào cỡi ngựa đi trước. các quan, lính tráng mang cờ quạt khí giới theo sau.
Triều nguyễn, các nhà vua không có lễ Du Xuân.
Mãi tới đời vua Đồng Khánh mới tổ chức lễ Du Xuân một lần với mục đích để dân chúng thấy nhà vua không bị thực dân pháp giam lỏng tại kinh thành.
Lễ Du Xuân của nhà vua, cũng giống như việc người dân xuất hành, vì bộ Lễ phải chọn hướng để nhà vua, ngõ hầu quanh năm trong nước được thái bình, khang thịnh.
Mê tín dị đoan
lễ ThượNg NguyêN
Lễ thượng nguyên vào ngày rằm tháng Giêng. Từ triều đình đến dân chúng đều có lễ phật trong ngày này. Ta có câu: lễ Phật quanh năm,
Không bằng rằm tháng giêng.
Tục ta tin rằng trong ngày rằm tháng Giêng, đức phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ phật giáo. Trong dịp này, chùa nào cũng đông người tới lễ bái.
các cụ bà đã quy y cũng nhân ngày lễ này, đến chùa tụng kinh niệm phật. các cụ vừa lần tràng hạt vừa kể hạnh nghĩa là kể lại sự tích của đức phật và chư bồ tát cũng như sự hy sinh cao cả của các người.
Và những đôi trai gái nặng lòng yêu nhau cũng kéo nhau tới trước phật đài để xin đức phật phù hộ cho được cùng nhau vẹn nghĩa ba sinh.
nguồn gốC lễ tHượng nguyên.
Theo đạo phật, nguồn gốc lễ Thượng nguyên như sau: ngày mùng một và ngày rằm mỗi tháng được coi là ngày phật, các tín đồ phật Giáo trong những ngày này đều rủ nhau đi lễ chùa.
ngày mồng một là ngày đầu tháng, nhưng đêm lại tối đen, còn ngày Rằm thì đêm có trăng sáng sủa. Trong một năm, ngày rằm đầu tiên là rằm tháng giêng nên người ta xô nhau đi lễ phật.
Theo các sách Trung Hoa, lễ Thượng nguyên không phải là một ngày lễ phật.
Trước đây chính là tết trạng nguyên. nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ. ngày xuân đầm 339
Tín ngưỡng Việt Nam
ấm, gió mát trăng trong, trăm hoa đua nở, thi hứng rạt rào, các ông Trạng cùng nhau thi đua ngâm vịnh ca ngợi cái đẹp của hóa công cũng như ân đức của nhà vua.
Tết Trạng nguyên sau được đổi làm Tết Thượng nguyên.
Tết cũng còn một tên nữa là tết nguyên tiêu. nhân Tết này, ban đêm tại kinh thành và các thị xã có chăng đèn kết hoa. Ở các nơi như Giang châu, Tô châu gần sông nước có cuộc bơi thuyền.
Thuyền được trang hoàng muôn màu sắc, thắp sáng trưng, hoa treo rực rỡ. Tại các hí trường và các công viên có nhiều trò vui như đánh gươm, cưỡi ngựa, nhảy múa v.v...
các văn nhân trong đêm nguyên Tiêu thường họp nhau uống rượu thưởng xuân, vịnh ngâm thơ phú.
Theo các nhà thuật số, ngày rằm tháng Giêng còn là ngày vía thiên quan. nhân ngày này, tại các đền chùa có làm lễ dâng sao, nghĩa là cúng các vị sao để giải trừ tai ách quanh năm.
cúng lễ dâng sao, người ta lập đàn tràng tam cấp, trên cúng Trời phật, Tiên Thánh, giữa cúng các vị sao thủ mạng, ở dưới cùng cúng bố thí chúng sinh. Mỗi năm mỗi người có một vị sao thủ mạng.
Lễ vật cúng dâng sao dùng hoa quả, trầu cau, xôi oản, chè rượu, vàng mã và cả hình nhân nữa.
Theo một số đồng bào thượng du miền Bắc, ngày rằm tháng Giêng còn là ngày giỗ tướng nùng chí cao.
nùng chí cao ở Vân nam, tự xưng là Lĩnh nam Vương, chống nhau với quân Tống, bị Địch Thanh đánh nhau, chết vào ngày rằm tháng Giêng được giờ linh nên được dân chúng phụng thờ.
Dù lễ Thượng nguyên có nguồn gốc nào cũng mặc, dân ta làm lễ Thượng nguyên vì lòng tôn kính đối với chư phật, đồng thời có cúng gia tiên, Thổ công và thần Tài... những người gặp năm sao nặng, cũng nhân ngày lễ này làm lễ dâng sao giải hạn.
Mê tín dị đoan
lễ Khai ấN
các ấn đã được lau chùi trong năm, ngoài xuân bộ Lễ chọn ngày lành, giờ tốt để làm lễ khai ấn nghĩa là dùng ấn đóng lên một công văn chỉ dụ.
Thường bản văn đầu tiên được đóng ấn là bản văn tốt lành.
Tục khai ấn này, tại các tỉnh, các phủ, huyện, châu, tổng, xã, mỗi viên chức có ấn đều chọn ngày khai ấn.
Xưa, người ta có sửa lễ cúng vị thần giữ về ấn tín trong dịp lễ khai ấn.
NhữNg lễ Sửa SoạN Cho Năm mới
như trên đã nói, ngoài những lễ thực hiện sau khi xuân sang hoặc vào ngày Lập Xuân, để đón xuân có những lễ được cử hành trước để sửa soạn những lễ đầu năm như lễ trừ tịch, lễ Ban sóc, lễ Phát thức...
Lễ Ban sóc là lễ nhà vua phát lịch năm sau cho quần thần và các hoàng thân. Lịch do Khâm thiên giám soạn. có hai thứ lịch: Bảo lịch và quan lịch.
Quan lịch mang dấu của tòa Khâm thiên giám. Lịch phát trong triều trước rồi gửi tới các tỉnh sau.
Lễ phát thức tức là lễ lau chùi kim ấn, kim sách, ngọc ấn, ngân sách. Lễ này tổ chức trong tháng chạp vào ngày tốt lành do tòa Khâm thiên giám chọn.
Tín ngưỡng Việt Nam
TẾT hàN ThựC
Tết Hàn thực vào ngày mồng ba tháng ba âm lịch.
Hàn thực là đồ ăn lạnh. Tết này nguyên cũng là Tết của người Trung Hoa và đã được người Việt ta theo.
NguồN gốC TẾT hàN ThựC
nguyên về đời Xuân Thu vào năm 654 trước Tây lịch, tại nước Tần, một nước chư hầu của nhà chu có loạn. Vua Văn công nhà Tấn, lúc đó là công tử Trùng nhĩ phải rời khỏi nước Tần đi lánh nạn. cùng đi theo với Trùng nhĩ có một số các bầy tôi tòng vong trong số đó có Giới Tử Thôi. Mấy chúa tôi long đong chạy khắp nước này qua nước khác, đầu tiên sang nước Địch, rồi trốn đi qua nước Vệ, tới nước Tề, lại sang nước Sở, suốt 19 năm trời lận đận, nhiều lúc thật là khổ sở. Một ngày kia, nửa đường bị thiếu lương thực, đói quá, không kiếm đâu ra thức ăn. Giới Tử Thôi liền cắt thịt đùi mình nấu nướng dâng cho chúa. Trùng nhĩ ăn xong hỏi ra mới biết, rất lấy làm thương Tử Thôi đã hy sinh cho mình.
Sau 19 năm, nếm đủ mọi điều gian truân, công tử Trùng nhĩ mới khôi phục được nước, lên làm vua, tức là vua Tấn 342
Mê tín dị đoan
Văn công. nhà vua phong thưởng cho tất cả những người đã có công theo mình trong lúc tòng vong, nhưng vô ý quên mất Giới Tử Thôi không phong thưởng gì. Giới Tử Thôi cũng không oán giận, vì tự xét mình không có công lao gì, nếu có đi theo giúp đỡ nhà vua, đó chỉ là bổn phận của một người bầy tôi.
Vì vậy, Giới Tử Thôi về nhà, đem mẹ vào ẩn ở núi Miên Sơn.
Đến khi vua Tấn Văn công nhớ ra công trạng của Giới Tử
Thôi, cho người đi tìm không được, liền sai người đốt rừng Miên Sơn, có ý muốn cho rừng cháy, mẹ con Giới Tử Thôi không chịu được phải ra để nhà vua phong thưởng. Mẹ con Giới Tử Thôi không chịu ra và cùng chịu chết cháy ở trong rừng.
nhà vua thương xót cho lập miếu thờ, và hàng năm tới ngày mồng ba tháng ba, tức là ngày hai mẹ con Giới Tử Thôi bị chết cháy, cấm dân gian không được dùng lửa để nhớ lại Giới Tử
Thôi. Trong ngày này người ta phải làm đồ ăn từ hôm trước để đến ngày hôm sau ăn lạnh, do đó gọi là Hàn thực.
Tục này được lưu truyền mãi về sau, và ngày mồng ba tháng ba là tết Hàn thực.
TẾT hàN ThựC Tại ViệT Nam
người Việt nam ta nhiễm theo tục của người Tàu cũng ăn tết Hàn thực, một phần để nhớ tới lòng trung nghĩa của Giới Tử Thôi, nhưng cũng là một dịp để cúng gia tiên. Ta ăn Tết Hàn Thực, nhưng ta không kiêng lửa, ta cũng không ăn đồ
lạnh. Ta có làm bánh trôi, bánh chay cúng nhưng không phải làm từ hôm trước như người Trung Hoa.
BánH trôi, BánH CHay
Tháng Ba còn được dân ta gọi là mùa trôi nước vì bắt đầu với tháng ba là có bánh trôi và bánh chay.
Tín ngưỡng Việt Nam
Ta vẫn thường cho rằng bánh trôi và bánh chay là bắt chước người Trung Hoa, nhưng theo các cụ bánh trôi, bánh chay, ta có từ đời Hùng Vương, và tục làm bánh trôi nhắc lại sự tích trăm trứng trăm con.
Trước đây, mỗi khi Hội đền Hùng vào ngày mồng 10 tháng ba, cũng như ngày hội đền Hát Môn, nơi thờ Hai Bà Trưng vào ngày mồng 5 tháng ba, dân làng đều làm một mâm bánh trôi 100 chiếc để cúng, cúng xong chia đôi, đem 50 chiếc thả
xuống sông đặt trên bè sen, có 50 chiếc đem đặt lên núi để
nhắc lại tích cũ 50 con vua Lạc Long Quân theo mẹ lên núi, và 50 con theo cha xuống biển.
những chiếc bánh trôi này, người ta tranh nhau giành lấy sau khi đã thả bè sen xuống sông hoặc đặt lên núi vì người ta tin rằng ăn những bánh trôi này sẽ được phước.
Bánh trôi làm bằng bột nếp nhào nặn với nước trong có nhân bằng đường phèn. Bánh nặn xong, được thả vào nồi nước sôi. Bánh chìm xuống rồi nổi lên, ba chìm bảy nổi chín lênh đênh thì vớt ra bày vào đĩa Bánh chay cũng làm bằng bột nếp nhào nặn với nước và cũng có nhân, nhưng nhân bằng đậu xanh nấu chín, bỏ vỏ, giã nhỏ. Bánh chay làm xong cũng thả vào nước như bánh trôi, và cũng đợi bánh chìm xuống, nổi lên mấy lần mới vớt ra.
Bánh chay không bày ra đĩa mà để vào bát và có đổ nước đường ở ngoài.
Hai thứ bánh tuy cùng làm bằng bột gạo nếp, nhưng mỗi thứ có mỗi vị và mỗi thứ ăn mỗi ngon riêng.
Trước đây, ta không ăn bánh trôi bánh chay trước ngày mồng ba tháng ba, vì ngày hôm đó, bánh mới bắt đầu cúng tổ tiên, cũng như mới cúng Thổ công. Vì lòng kính trọng đối với thần linh và tổ tiên, mỗi khi tới một mùa nào, có thực phẩm gì của mùa đó, người ta không ăn nếu chưa làm lễ cúng. Bánh trôi, bánh chay cũng vậy, là của mới, của mùa trôi nước, người ta đợi cúng trước rồi mới ăn sau.
Mê tín dị đoan
lưu trường KHúC tHủy
Lễ lưu trường Khúc thủy, được cử hành vào ngày mồng 3 tháng ba.
Theo cổ tục nước Tàu, vào ngày tháng này dân chúng rủ
nhau đi xem mực cao thấp ở bờ sông, bờ ao, bờ hồ. các quan tỉnh, hàng năm sức cho phải bày hương án trên các bờ sông để làm lễ Lưu Trường Khúc Thủy.
Về đời nhà Hán, các bà hoàng hậu, công chúa, tôn nhân...
đều ra bờ sông làm lễ, và nhân dịp hái lá dâu về cho tằm ăn để kén được thêm tốt tươi.
Trong ngày này, con trai thi nhau đuổi thỏ, con gái thi nhau thả hoa xuống nước. nếu các nhánh hoa thả xuống nước kết được thành hình con vật gì, mọi người sẽ tán thưởng, và các cậu con trai sẽ kén chọn, về xin phép cha mẹ cưới làm vợ
chính thức.
TẾT hàN ThựC Ngày Nay
ngày nay, tại nơi thành thị không còn mấy nhà ăn Tết Hàn thực, nhưng với tháng ba, mùa trôi nước vẫn xuất hiện và người ta vẫn thấy các bà, các cô đi bán bánh trôi, bánh chay.
Tín ngưỡng Việt Nam
TẾT ThaNh miNh
Thanh Minh là tiết thứ năm trong nhị thập tứ khí và đã được người phương Đông coi là một lễ tiết hàng năm.
Tiết Thanh Minh đến với chúng ta, 45 ngày sau ngày Lập Xuân.
ThaNh miNh là gì
Theo đúng nghĩa đen, thanh là khí trong còn minh là sáng sủa. Thanh Minh là khí trong trẻo và sáng sủa.
Khí tiết Xuân phân qua, tiết Xuân phân đến trước tiết Thanh Minh, những mưa bụi của trời xuân đã tan hết, bầu trời trở nên quang đãng, khí trời trong trẻo và cảnh trời sáng sủa. người ta đã mượn cảnh đất trời mà đặt tên cho đệ ngũ
tiết khí trong năm, do đó có tên gọi tiết thanh minh để ghi lấy thời gian đẹp nhất của năm. Tiết này thường bắt đầu trong tháng ba hoặc muộn lắm là đầu tháng tư âm lịch tùy từng năm.
TẾT ThaNh miNh
như trên đã nói, tiết Thanh Minh được coi là một lễ tiết, tức là một ngày Tết có cúng lễ. nhân ngày Thanh Minh tới, 346
Mê tín dị đoan
người Á Đông, nhất là Trung Hoa và Việt nam có tục ăn tết Thanh Minh.
Theo phan Kế Bính trong “Việt nam phong tục” thì tục tầu nhân hôm ấy giai nhân tài tử đua nhau đi tảo mộ, gọi là hội Đạp thanh.
người Việt nam ta tuy không hoàn toàn ăn Tết Thanh Minh như người Tàu, nhưng cũng nhân ngày tết này rủ
nhau đi viếng mộ gia tiên, và cũng làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.
hội ĐạP ThaNh
Đạp Thanh nghĩa là giày xéo lên cỏ xanh.
nhân lúc trời quang mây tạnh sau tiết Xuân phân, lòng con người như bừng thức dậy, người ta rủ nhau đi tới những nơi mông mênh bát ngát cỏ mọc xanh rì chỉ có khí trong trẻo và tươi sáng. Rồi người ta nghĩ đến gia tiên, người ta rủ nhau đi thăm mộ và cũng là dịp để tài tử giai nhân ngựa xe như
nước, áo quần như nêm khoe hồng phô tía, dẫm lên những đám cỏ xanh rì.
có lẽ ý nghĩ đầu tiên của người ta trong tiết Thanh Minh là chú trọng tới việc tảo mộ, rồi về sau kẻ đa sự mới bày vẽ
ngày hội Đạp Thanh.
thanh minh trong tiết tháng Ba.
lệ là tảo mộ, hội là Đạp thanh.
lễ Tảo mộ
tảo mộ chính là sửa sang ngôi mộ cho được sạch sẽ.
người Việt nam nhân ngày lễ Thanh Minh rủ nhau đi tảo mộ, mang theo cuốc xẻng để đắp lại nấm mộ cho to, dẫy hết những cỏ dại, những cây hoang mọc trèo lên mộ có thể phạm tới hài cốt của người khuất được.
Tín ngưỡng Việt Nam
Trong dịp này, những nấm mồ có người trông nom đều được sửa sang và sau đó đều được cắm mấy nén hương đang cháy để chứng tỏ ngôi mộ không phải là mồ vô chủ.
Bãi tha ma xưa nay vẫn âm u vắng lặng bỗng trở nên sầm uất trong ngày tảo mộ. những người quanh năm đi làm ăn xa, xưa kia, thường nhân ngày Thanh Minh trở về tảo mộ gia tiên và có dịp để sum họp với đại gia đình.
người ta dắt nhau đi tảo mộ rất vui vẻ, người này tay cầm bó hương, người kia vai vác cuốc, người nọ tay cầm bó hoa, bó vàng v.v...
các cô gái mới lấy chồng, tức là những cô dâu mới, cũng nhân dịp này đi nhận biết mồ mả của nhà chồng.
nhiều gia đình mang theo cả mâm cỗ đi để tạ những ngôi mộ mày theo thuyết phong thủy đã bị động, khiến cho con cháu bị đau ốm hoặc có sự lủng củng trong nhà. Mâm cỗ
được đặt lên mộ rồi con cháu khấn vái, và sau đó người ta hóa ngay vàng mã tại ngôi mộ.
có nhiều nơi, có tục đốt pháo trong dịp tảo mộ và cùng với xác pháo là những thoi vàng hồ rắc và tro tiền giấy bay.
Tin theo sự bất diệt của linh hồn, cũng như tin tưởng ở sự
đốt vàng mã, trong dịp đi tảo mộ, người ta không thể không có nghìn vàng thẻ hương mang theo để đốt dâng vong hồn những người quá vãng.
Mấy năm về sau, nhiễm theo thói tục Tây phương, nhiều gia đình mang theo bó hoa đặt nơi mộ người thân cùng với vàng hương.
Tất cả mọi hoạt động của người sống trong ngày tảo mộ
đã khiến cho bãi tha ma có một vẻ tấp nập khác thường. Đây vài người đang rãy cỏ đắp mồ, kia vài người đang khúm núm khấn vái trước một ngôi mộ. Xa xa vài đám hóa vàng. Rồi những đám đốt pháo, pháo nổ vang, mùi khói pháo hòa lẫn với mùi hương ngào ngạt, xác pháo bay quyện lấy áo là quần lượt của những người đi viếng mộ.
Mê tín dị đoan
Trong lúc đi tảo mộ, y phục mọi người rất chỉnh tề, các ông già bà cả còn phải khấn vái ở nơi phần mộ, con cái, con trai con gái cũng nhân dịp này phô sắc phô tài: bãi tha ma trong ngày tảo mộ chính là nơi tụ tập của tất cả mọi người, mọi tuổi, mọi tầng lớp trong làng.
cả trẻ em cũng theo cha mẹ đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là bố mẹ muốn tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ.
Thường người ta đi tảo mộ từ sáng sớm cho đến gần trưa.
Bên những ngôi mộ được trông nom săn sóc, có vàng hương hoặc thêm bó hoa đặt dưới chân hương, còn những ngôi mộ vô thừa nhận:
Sè sè nắm đất bên đường,
rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
những người giàu lòng nhân đức, gặp những ngôi mộ này không khỏi mủi lòng, cắm một nén hương, đốt một nắm vàng, và tự hỏi:
rằng nay trong tiết thanh minh
mà sao hương khói vắng tanh thế này?
những ngôi mồ vô chủ này, ai người viếng thăm! Quanh năm thật là quạnh hiu tiều tụy. những ngôi mộ này, với thời gian, nấm sẽ thấp dần vì phong sương mưa gió, cỏ dại cây hoang sẽ xâm chiếm mãi cho đến một ngày ngôi mộ không còn là ngôi mộ nữa!
chính vì những ngôi mộ không có người săn sóc này mà tại các nơi tha ma mộ địa đều có lập một cái am năm ba gian, hoặc xây bệ lộ thiên đề ba chữ Hàn lâm Sở, để thờ chung những mồ mả vô gia chủ gọi là am Chúng Sinh. mỗi cửa am có một bà đồng sớm tối đèn hương thờ phụng.(1) 1. Phan Kế Bính. Việt Nam phong tục.
Tín ngưỡng Việt Nam
ngày lễ Thanh Minh, tại am có làm lễ cúng các vong hồn không người hương khói, thường là cúng cháo. Và đến Tết Trung nguyên, cũng lại có cúng cháo để các vong hồn trên phối hưởng.
Tiền chi tiêu vào việc này đều do dân làng các người từ
tâm đóng góp.
tụC lệ tảO mộ ở KHắP nơi
Thường ra, người ta chỉ đi tảo mộ vào tiết Thanh Minh để nhân dịp trời quang mây tĩnh sửa sang cho ngôi mộ được khang trang hợp với tiết trời, và sau đó kính mời hương hồn tổ tiên về hưởng lễ con cháu cúng trong dịp này; nhưng cũng có nhiều nơi người ta đi tảo mộ vào tiết Thanh Minh, mà người ta cử hành lễ tảo mộ vào những dịp khác, như các làng Thị cầu và Đáp cầu đã nói ở trên khi trình bày về các tục lệ
Tết nguyên Đán, có tục đi viếng mộ trước và sau ngày Tết.
nhiều làng thuộc tỉnh Hà Đông (Hà Tây), ở vào những vùng đất thấp, tới vụ nước, ruộng nương bị ngập, và cả bãi tha ma của làng cũng chìm dưới làn nước, người ta đi tảo mộ hàng năm vào dịp đầu tháng chín, sau khi nước đã rút.
Dù lệ tảo mộ, vào ngày nào thì việc đi tảo mộ để thăm nom lại mồ mả gia tiên vẫn là việc hay. nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc tưởng đến nguồn.
CúNg lễ TroNg Ngày TẾT ThaNh miNh
Ta lấy sự thờ cúng tổ tiên làm trọng, mỗi tuần tiết đều có cúng lễ.
Tết Thanh Minh cũng là một dịp để con cháu sửa lễ cúng gia tiên sau khi viếng mộ về.
cũng có những nhà sửa lễ mang ra mộ cúng, nhưng đó chỉ là cúng riêng một ngôi mộ nào, và sau đó người ta vẫn 350
Mê tín dị đoan
cúng ở bàn thờ tổ tiên và khấn tất cả gia tiên nội ngoại về
phối hưởng.
cúng lễ trong ngày Thanh Minh, người ta thường cúng mặn, nghĩa là có làm cỗ, hoặc nếu không làm cỗ thì cũng có đĩa xôi con gà cùng với hương hoa, trà rượu, vàng mã. Vàng mã đem hóa sau lễ cúng.
Và đồng thời với việc tổ tiên, cũng có cúng Thổ công như
trong mọi dịp.
NhữNg gia ĐìNh Có Người mới ChẾT Với TẾT
ThaNh miNh
Theo tang lễ của ta, những người mới chết cho đến tuần bách nhật, mỗi khi tuần tiết sóc vọng, con cháu đều có cơm canh sửa lễ cúng.
Trong ngày lễ Thanh Minh, tang chủ cũng có lễ cúng riêng những người chết, ngoài lễ cúng gia tiên. những người mới chết, bài vị còn được con cháu đặt thờ riêng cho tới tuần bách nhật, nhiều gia đình cho đến ngày đại tường, mới thờ chung vào bàn thờ tổ tiên.
Sửa lễ cúng ở nhà, người ta còn mang lễ ra cúng tận mộ, trong lúc mọi người đi tảo mộ.
cảnh tượng một vài người khăn sô áo tang, khóc lóc khấn vái trước một ngôi mộ mới trong ngày Thanh Minh tại bãi tha ma đã từng khiến những người đi tảo mộ phải chạnh lòng đau xót.
nếu trong lễ tảo mộ có sự thông cảm giữa kẻ khuất người còn, ắt vong hồn người mới khuất phải thương cho con cháu đang đau khổ trong buổi tảo mộ, giữa lúc mọi người có thể
gọi được hầu như vui vẻ trước cái quang cảnh tấp nập tưng bừng của nơi mộ địa dưới một bầu trời trong trẻo quang đãng.
Tín ngưỡng Việt Nam
Trong lúc những người khác lo đắp hết ngôi mộ này qua ngôi mộ kia, cắm hương tại các ngôi mộ, chuyện trò cùng nhau vui vẻ thì thân nhân những người mới khuất chỉ ngồi khóc lóc bên ngôi mộ mới, hết khấn lại vái, rồi hóa vàng mã để càng đau đớn hơn. Họ chưa nguôi được sự cảm thương của nỗi đau tử biệt còn quá mới.
cho đến lúc mọi người đi tảo mộ đã ra về hết, những người này còn ngồi ôm lấy ngôi mộ tưởng chừng như họ không muốn rời bỏ nắm đất ở nơi u buồn này nữa.
Từ năm 1945, nước Việt nam ta đã trải không biết bao nhiêu biến chuyển của thời cuộc khiến cho mọi tục lệ cổ
truyền đã chịu một ảnh hưởng rất lớn.
Riêng về Tết Thanh Minh và lễ Tảo mộ, tuy người Việt nam luôn luôn tha thiết với phần mộ gia tiên, nhưng trong thời gian này, người sống còn bận lo cho người sống trước mọi sự tàn phá ghê gớm của chiến tranh, không còn tâm trí để nghĩ về người khuất.
Hơn nữa mọi biến chuyển về chính trị đã khiến cho dân chúng nhiều vùng phải di cư, nhất là dân vùng quê phải tới những chốn thị thành để tìm an ninh, thì mỗi năm khi Tết Thanh Minh đến, dù có nhớ tới lễ tảo mộ, người ta cũng đành khoanh tay chịu sự bất hiếu đối với tổ tiên. nhớ đến Tổ tiên người ta chỉ làm lễ cúng trong Tết Thanh Minh.
ĐoạN KẾT
Để kết thúc mấy trang này, xin mượn đoạn thơ sau đây của cụ nguyễn Du tả Tết Thanh Minh trong truyện Kiều, ca tụng cái cảnh trời quan mây đẹp của tháng quý xuân và nói lên sự vui vẻ của ngày hội Đạp Thanh, mặc dầu hội này là hội của người sống đi viếng thăm người chết: 352
Mê tín dị đoan
ngày xuân con én đưa thoi.
thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
thanh minh trong tiết tháng ba,
lễ là tảo mộ, hội là Đạp thanh.
gần xa nô nức yến oanh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
ngựa xe như nước áo quần như nêm.
ngổn ngang gò đống kéo lên,
thoi vàng hồ rắc, tro tiền giấy bay.
Tín ngưỡng Việt Nam
TẾT ĐoaN Ngọ
ca dao ta có câu:
tháng tư đong đậu nấu chè,
ăn tết Đoan ngọ trở về tháng năm.
chứng tỏ rằng Tết Đoan ngọ là một tết cũng được sự chú ý của người Việt nam ta xưa, tuy rằng tục lệ ăn tết này ta đã bắt chước Tàu, cũng như nhiều tiết lễ khác.
Vậy Tết Đoan ngọ là tết gì? Và ta ăn Tết Đoan ngọ vào ngày nào tháng năm?
Đoan ngọ là gì?
Theo sách phong Thổ ký thì Tết Đoan ngọ còn được gọi là tết Đoan Dương.
Đoan nghĩa là mở đầu, ngọ, là giữa trưa, Đoan ngọ là bắt đầu lúc giữa trưa; còn Dương là mặt trời, là khí dương, Đoan Dương nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh.
Tết Đoan ngọ ăn vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch.
Sở dĩ Tết này được gọi là Tết Đoan ngọ, chính vì tháng năm là lúc bắt đầu nắng to, khí dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa.
Theo địa bàn thì phương nam là chính ngọ, mà ngọ là ngôi dương, cho nên tết này gọi là Tết Đoan Dương. Vả chăng tháng năm cũng lại là tháng ngọ trong một năm.
Mê tín dị đoan
người Trung Hoa còn gọi Tết Đoan ngọ là tết trùng ngũ
hay Đoan ngũ nữa.
Theo sách “tuế thời tạp ký” thì Trùng ngũ là hai số 5 gặp nhau, mồng 5 tháng năm. ngoài ra xưa kia ở kinh kỳ, người ta gọi ngày mồng 1 tháng năm là Đoan nhất, ngày mồng 2 là Đoan nhị, ngày mồng 3 là Đoan Tam, ngày mồng 4 là Đoan Tứ và ngày mồng 5 là ngày Đoan ngũ.
Sự TíCh TẾT ĐoaN Ngọ
Thực ra ban đầu, ngày Đoan ngọ chỉ là ngày người dân cúng lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng quang đãng. Hơn nữa giữa tiết hạ này oi bức, bệnh tật thường hay có, nên người ta cúng vái để cầu được bình yên, tránh được mọi bệnh thời khí.
nhưng về sau để cho ngày này có một ý nghĩa, người ta liền lấy ngày đó làm ngày kỷ niệm Khuất nguyên và các ông thầy thuốc cũng nhân dịp ngày này kỷ niệm hai chàng nguyễn Triệu và Lưu Thần vào núi Thiên Thai tìm thuốc.
Sự tíCH KHuất nguyên
Khuất nguyên, họ Tam Lư làm chức Tả Đồ nước Sở dưới triều vua Hoài Vương vào thời Thất Quốc bên Tầu (307-246 tr.Tây lịch), có tài và liêm chính. Mỗi khi vào triều bàn bạc quốc sự, ông đều bị vua Hoài Vương bài bác vì những nịnh thần xúi giục.
Về sau ông lại bị nhà vua truất bỏ. Để tự tả nỗi oán than ông viết bài thơ “Ly Tao”.
Khi vua Sở Hoài Vương sang Tần, ông hết lời can ngăn nhưng Hoài Vương không nghe, rồi bị chết ở đất Tần. Vua Tương Vương kế nghiệp vua Hoài Vương không những không chịu nghe lời ông lại còn bắt ông đi đày.
Tín ngưỡng Việt Nam
Ông làm bài thơ “Hoài Sa” rồi buộc đá vào mình nhảy xuống sông Mịch La tự vận. Hôm đó là ngày mồng 5 tháng năm.
Được tin đó nhà vua rất hối hận và thương tiếc sức dân làm cỗ ra tận bờ sông cúng ông và ném cỗ xuống sông cho ông hưởng, nhưng cỗ bị cá tôm ăn hết. Ông báo mộng cho nhà vua hay, và xin với nhà vua nếu nghĩ tình thương ông thì khi ném cỗ xuống cho ông phải lấy lá bọc lại, buộc bằng chỉ ngũ sắc, cá tôm sẽ không ăn được.
Theo lời báo mộng của ông, vua ra lệnh cho nhân dân làm theo.
Từ đó vào ngày mồng 5 tháng năm bên Tàu, dân chúng làm cỗ cúng linh đình trên các bờ sông rồi lấy lá bọc lại, buộc chỉ
ngũ sắc ném xuống dòng nước để kỷ niệm ông Khuất nguyên.
Riêng tại sông Mịch La, người nước Sở mở hội rất vui, ngoài việc cúng lễ Khuất nguyên còn tổ chức các cuộc đua thuyền, tượng trưng cho ý muốn vớt thây Khuất nguyên.
Sự tíCH lưu tHần và nguyễn triệu Lưu Thần và nguyễn Triệu là hai người đời nhà Hán, nhân ngày Tết Đoan Dương cùng rủ nhau vào núi hái thuốc, gặp hai tiên nữ kết duyên. Sau thời gian nửa năm sống nơi tiên cảnh với vợ tiên, hai người nhớ nhà đòi về. Giữ lại không được, hai tiên nữ đưa tiễn chồng về. Trở về làng, Lưu, nguyễn thấy phong cảnh đã khác xưa, nửa năm trên cõi tiên là mấy trăm năm dưới cõi trần. Hai chàng bèn đi tìm trở lại cõi tiên, nhưng không thấy nữa. Hai chàng rủ nhau vào trong rừng rồi không thấy trở về.
nhiều nhà thơ đã ngâm vịnh rất nhiều về sự tích đầy thi vị
của hai chàng, và riêng thi sĩ Tản Đà đã có cả một tập chèo
“Thiên Thai” kiệt tác.
Dưới đây là đoạn hai nàng tiên tiễn biệt Lưu, nguyễn về trần: 356
Mê tín dị đoan
lá đào rơi rắc lối thiên thai,
Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi!
nửa năm tiên cảnh,
một bước trần ai.
ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn rêu nhạt,
nước chảy hoa trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
trời đất từ đây xa cách mãi,