THI CỬ XƯA VÀ NAYPhần 12
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Ngày nay khác hẳn! Thầy không dám đánh học trò, và đã có hơn một lần, phụ huynh học sinh kêu ca vì thầy học đã đánh mắng con em mình.
Trẻ con non dại, phải có cái gì làm cho chúng sợ, chúng mới chịu học, vậy mà ông thầy lại đành khoanh tay trước sự lười biếng của chúng, thử hỏi ông thầy làm sao chu toàn nổi nhiệm vụ của mình.
Nhiều ông thầy đã gặp những học sinh quá kém lại quá lười, mặc sự kiên nhẫn chỉ bảo, mặc thiện chí khuyến khích của ông thầy, những học sinh này vẫn trơ trơ, vào lớp nghịch ngợm, bài học không học, bài làm không làm, thử
hỏi ông thầy còn làm sao mà nhồi chữ vào đầu óc chúng được. Vậy mà các phụ huynh học sinh đã chiều con lại hay phàn nàn thầy dạy không tấn tới.
Nếu tình nghĩa tôn sư đệ tử còn được như xưa, ông thầy còn dùng được roi vọt để hướng dẫn các trẻ nhỏ có lẽ kết quả cũng đỡ tai hại hơn nhiều.
III. THI CỬ XƯA VÀ NAY
Có học thì phải có thi, và việc thi cử đánh dấu mức học sinh đã qua. Người ta thường chê tinh thần khoa cử cũng như sự quá lưu ý về văn bằng của nước ta, nhưng thật ra nếu không có thi cử thì lấy gì để kiểm soát sự học của các em học sinh, và nếu không có văn bằng thì lấy gì để chứng thực trình độ các em đã học qua, có điều là ta không nên lấy thi cử để cản bước tiến của các em học sinh và cũng không nên quá chú trọng đến văn bằng đến nỗi lấy văn bằng để phân giai cấp trong xã hội.
Tóm lại, xưa cũng như nay, đã có học thì phải có thi, dù thi tại các trường thi hay thi kiểm soát trong lớp học như ngày nay các người có trách nhiệm về giáo dục bắt các em thi để lấy điểm căn cứ vào đó cấp các chứng chỉ
tương đương với các văn bằng.
o Thi cử xưa
Ngày xưa có các khoa thi tại trường thi, và cũng có cả những kỳ thi kiểm soát như ngày nay, đó là các kỳ thi sát hạch, các kỳ thi khảo hạch.
Các kỳ thi bắt đầu được tổ chức tại Việt Nam từ năm Ất Mão 1075 với khoa thi Tam Trường đầu tiên dưới triều vua Lý Nhân Tôn. Thi bằng chữ Hán việc thi cử trải qua các triều đại có nhiều sự thay đổi. Hai khoa thi cuối cùng về Hán học tại Việt Nam là khoa thi năm Ất Mão 1915 tại trường Hà Nam, ở
miền Bắc và khoa thi năm Mậu Ngọ tại các trường Bình Định và Nghệ An ở
miền Trung.
Sau hai kỳ thi cuối cùng này, việc học bị chính phủ Pháp sửa đổi, do đó thể lệ về thi cử cũng chịu sự đổi thay và cho đến ngày nay, năm Mậu Thân, nền móng tổ chức học hành và thi cử của Pháp do Nghị định ngày 21 tháng 12 năm 1917 cũng vẫn còn lại nhiều cội rễ trong nền giáo dục Việt Nam.
Về khoa thi, xưa ta có ba kỳ thi chính là thi Hương, thi Hội và thi Đình, những kỳ thi này ba năm mở một lần, trừ trường hợp có nhà vua mới lên ngôi mở các ân khoa.
Muốn dự thi Đình, phải đậu thi Hội, mà muốn dự thi Hội thì phải đậu cử
nhân tại kỳ thi Hương, hoặc ít ra cũng phải đậu tú tài, với chân tú tài nếu được nhà vua cho phép có thể được thi Hội.
Không phải ai cũng có thể là thí sinh kỳ thi Hương được. Muốn đi thi Hương phải qua các kỳ thi khảo hạch tại hàng tỉnh, tức là so khảo và phúc khảo.
Sơ khảo là khảo hạch ở phủ, ở huyện do các Huấn Đạo và Giáo Thụ phụ
trách; Phúc khảo là khảo hạch ở tỉnh do các Đốc Học phụ trách.
Trúng tuyển kỳ thi sơ khảo, các thí sinh được cấp bằng Tuyển sinh, trúng tuyển kỳ thi phúc khảo, được cấp bằng Khóa sinh.
Các khóa sinh được phép dự thi Hương, nhưng trước kỳ thi còn phải trải qua một kỳ sát hạch. Kỳ thi này được tổ chức tại mỗi tỉnh những năm trước năm có kỳ thi Hương để loại bớt một số thí sinh học lực còn kém. Chương trình kỳ sát hạch này giống như chương trình thi Hương rút ngắn. Người nào qua được kỳ sát hạch này được gọi là Thí sinh và người đỗ đầu gọi là Đầu xứ.
Kỳ hạch này rất quan trọng, và học quan hàng tỉnh, Đốc Học, Huấn Đạo, Giáo Thụ, phải chịu trách nhiệm trong việc
tuyển thí sinh dự các kỳ thi Hương. Những khóa sinh vì một lý do gì vắng mặt trong kỳ thi sát hạch này, có thể được tham dự một kỳ sát hạch thứ hai dành riêng cho họ, tổ chức vài tháng trước khi thi Hương.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 64
o Thi hương
Qua các kỳ hạch, các thí sinh còn lại được dự kỳ thi Hương đều là những thí sinh đã có căn bản. Nếu để lọt một thí sinh nào quá kém dự kỳ thi Hương, các học quan hàng tỉnh sẽ có lỗi.
Thi Hương về đời Nguyễn mở ba năm một khoa vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu và các thí sinh phải qua bốn kỳ thi:
1. Kinh nghĩa;
2. Thơ, phú;
3. Văn sách;
4. Phúc hạch.
Các thí sinh dự thi ở các trường sau đây:
-
Trường Hà Nam cho tất cả thí sinh Bắc Việt;
-
Các trường Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên và Bình Định cho các thí sinh Trung Việt.
Từ năm 1884 về trước, nghĩa là trước Hiệp định Patenôtre, trường thi Gia Định cho các thí sinh Nam Việt.
Về các bài thi, ngoài bốn môn kể trên, mấy khoa thi sau cùng, các thí sinh có thể thi thêm bài tình nguyện chữ Pháp, dịch Pháp văn ra quốc ngữ. Điểm thừa ở bài chữ Pháp có thể dùng bù cho điểm thiếu ở các bài kia.
Các thí sinh khoa thi Hương, điểm cao thì đậu Cử nhân, còn điểm trung bình thì đậu Tú tài, kém nữa thì hỏng.
o Thi hội
Đậu Cử nhân tại kỳ thi Hương, các thí sinh được dự kỳ thi Hội mở tại kinh đô Huế.
Theo chỉ dụ năm Minh Mệnh thứ sáu, các khoa thi Hội được ấn định vào tháng 3 những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức là sau năm có kỳ thi Hương.
Cũng được dự khoa thi này, ngoài các chân Cử nhân, những Giám sinh, Giáo thụ và Huấn đạo. Các chân Tú tài và Ấm sinh cũng có thể được dự thi nếu 65
được triều đình cho phép.
Khoa thi Hội gồm 4 kỳ:
Kỳ nhất: Kinh nghĩa, ít nhất 3 đề;
Kỳ nhì: Chiếu, Biểu, Luận;
Kỳ ba: Thơ, Phú;
Kỳ tư: Văn sách.
Điểm các kỳ thi này tính theo phân, bài nào không được một phân thì bị loại.
Muốn trúng cách phải có tất cả 8 phân cho bốn kỳ.
o Thi đình
Đậu kỳ thi Hội, các thí sinh được vào thi Đình.
Trong kỳ thi Đình, các quyển đều do toàn thể Hội đồng Giám khảo chấm và đệ nhà Vua duyệt lại.
Thi Đình chỉ có một bài Đối sách rất dài, nghĩa là trả lời một câu hỏi về luân lý, chính trị, hành chính...
Đề thi Đình do nhà Vua tự chọn.
Những thí sinh có điểm cao đậu Tiến sĩ, còn điểm thấp đậu Phó bảng.
Dưới triều Nguyễn không có Trạng Nguyên, Thám Hoa, Bảng Nhỡn và Hoàng Giáp.
Xin nói thêm là về đời vua Quang Trung, thi Đình có dùng chữ Nôm, nhưng tiếc thay lệ này không được nhà Nguyễn giữ lại.
o Việc học dưới thời Pháp thuộc
Việc thi cử với các văn bằng trên tồn tại cho đến năm Khải Định tam niên, 1918, và từ đó, nền học mới của người Pháp ấn định được đem thi hành.
Lúc đầu, chính quyền Pháp Việt chia việc học ra làm ba bậc: Ấu học, Tiểu học và Trung học.
- Ấu học: Thực hiện tại các làng xã với các trường do chính quyền lập nên.
Các trường này vẫn dạy Hán tự, song có dạy kèm thêm quốc ngữ. Học hết Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 66
bậc Ấu học, học sinh phải đi thi và bằng của bậc Ấu học vẫn gọi là bằng Tuyển sinh như cũ.
Cần nói thêm là song song với các trường của chính quyền vẫn còn các ông đồ dạy Hán tự cho các trẻ em ở các làng xã.
Tại các trường Phủ, Huyện dạy chương trình bậc Tiểu học. Các học sinh có bằng Tuyển sinh được theo học các trường này. Chương trình vẫn dạy Hán tự kèm thêm quốc ngữ nhưng học rộng hơn. Ngoài Tứ thư, Ngũ kinh có dạy thêm Nam sử, và những giờ dạy chữ Pháp tình nguyện.
Học hết bậc tiểu học, học sinh được thi bằng Tiểu học vẫn gọi là bằng Khóa sinh.
Các khóa sinh theo học lên bậc Trung học tại các trường Tỉnh do các Đốc học điều khiển. Vẫn dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ nhưng có Pháp văn bắt buộc. Học hết bậc này các khóa sinh thi kỳ thi Thí sinh.
Ngoài ba bậc học trên, người Pháp có mở thêm các trường khác sau đây:
- Trường Hậu bổ ở Huế và trường Sĩ hoạn ở Hà Nội để đào tạo các quan lại hành chính và học chính. Các Thí sinh được tuyển theo học các trường này.
-
Trường Quốc học ở Huế và trường Bảo hộ ở Hà Nội để dạy chữ Pháp và để đào tạo các công chức cho các công sở Pháp.
Lại phải kể thêm các trường Tiểu học Pháp Việt được mở tại các tỉnh song song với các trường dạy chữ Hán để học sinh học chữ Pháp và chữ Việt bắt buộc có dạy thêm chữ Hán. Học hết chương trình Tiểu học Pháp Việt, các học sinh qua kỳ thi bằng Cơ thủy, sau gọi là bằng Tiểu học Pháp Việt. Đậu bằng Cơ Thủy, học sinh được dự tuyển vào trường Quốc Học hoặc Bảo Hộ
cùng các Thí sinh chương trình Hán học.
Hán học và Pháp Việt đi đôi như vậy trong một thời gian, rồi vì sự ứng dụng với đời, nền Pháp Việt học tồn tại mà loại hẳn nền Hán học.
Lúc này người Pháp mới áp dụng chính thức nghị định tổ chức việc giáo dục của toàn quyền Đông Dương ký ngày 21 tháng 12 năm 1917.
Việc học được phân chia rõ rệt:
- Bậc Tiểu Học với ba cấp Sơ học, Tiểu học và Cao đẳng Tiểu học.
- Bậc Trung học.
- Bậc Đại học.
- Công nghệ học.
Bắt đầu bậc tiểu học là cấp Sơ học, với văn bằng Sơ học yếu lược, rồi đến cấp Tiểu học với bằng Sơ học Pháp Việt hoặc Cơ Thủy. Cao nhất bậc Tiểu học là cấp Cao đẳng tiểu học với bằng Thành chung còn gọi là bằng Cao đẳng Tiểu học.
Trên cấp Cao đẳng tiểu học là bậc Trung học, hạn học là ba năm, thi bằng Tú tài bản xứ (Brevet de capacité épuivalent au Baccalauéat métropolitain) để
phân biệt với bằng Tú Tài Pháp của chương trình học Pháp.
Bằng Tú Tài bản xứ có 2 phần, Tú Tài I và Tú Tài II, chương trình dạy bằng Pháp ngữ, có Việt ngữ kể là một ngoại ngữ.
Các học sinh đậu xong cả hai phần Tú Tài được vào Đại Học.
Đại học mở tại Việt Nam từ năm 1919, lúc đầu chỉ là những trường Cao đẳng để đào tạo các nhân viên chuyên môn cho chính quyền thống trị. Về
sau mới mở các trường Luật Khoa, Y Khoa và Dược Khoa.
Mãi tới năm 1938 mới có mở thêm các trường Nông Lâm và Công Chính.
Sau đó mới có trường Khoa Học.
Cùng với việc học chữ, người Pháp có mở các trường Công nghệ thực hành tại các thủ phủ, hoặc ở một vài tỉnh lớn gọi là trường Bách Nghệ nhằm đào tạo một số thợ thuyền chuyên môn.
Trong lúc nền học bản xứ được tổ chức như vậy, người Pháp vẫn có một nền học Pháp riêng cho trẻ Pháp học, nhưng một số các trẻ Việt cũng xin được vào học các trường này, có đủ các bậc từ Tiểu học đến hết bậc Trung học với bằng Tú Tài. Các trường Pháp này, mặc dầu người Pháp đã rút khỏi Việt Nam từ năm 1954, nhưng vẫn còn tồn tại hoàn toàn cho tới năm 1967, là năm bắt đầu các lớp tiểu học Pháp bị bãi bỏ đối với trẻ con Việt Nam, và dần dần từ năm 1968 các lớp trên sẽ được bãi dần bắt đầu từ năm đầu tiên của bậc Trung học tương đương với lớp Đệ thất của các trường Việt Nam.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 68
Xưa cũng như nay, bậc làm cha mẹ, ai cũng muốn cho con hay và gây dựng cho con nên người, nhất là mong cho con trở thành những người có địa vị, có học thức, bởi vậy ai cũng muốn cho con cái đi học cho đến lúc thành tài. Đứa trẻ phải phá ngang chỉ vì chúng quá dốt kém, hoặc vì hoàn cảnh gia đình bắt buộc, nhưng dù có phá ngang thì bố mẹ cũng cho đứa trẻ
đi học nghề hoặc tập tành làm ăn buôn bán.
o Tập nghề
Ta có câu: Ruộng tứ bề không bằng nghề trong tay.
Và sách cũng có chữ rằng:
Vạn khoảnh lương điền,
Bất như bạc nghệ.
Qua mấy câu trên, ta thấy rằng dân ta nếu trọng văn học, nếu nhiều người theo đòi nghiệp bút nghiên, không phải ta rẻ khinh những nghề nghiệp khác.
Cha mẹ gây dựng cho con, nếu không thể cho con học hành đến nơi đến chốn tất phải nghĩ đến việc cho con tập lấy một nghề, mai sau làm kế sinh nhai.
Nước ta xưa không có trường dạy nghề, nhưng các người thợ đều nhận các trẻ tập việc để có người giúp đỡ trong những công việc vặt.
Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, ta chỉ cốt cho con cái học nghề, không nề hà đó là nghề vất vả nhiều hay ít, và dù con cái có bị cực nhọc thì chính nhờ sự
cực nhọc chúng sẽ nên người.
o Nghề nghiệp tại nước ta
Nghề nghiệp tại nước ta có thể xếp theo tứ dân là Sĩ, Nông, Công, Thương, nhưng trong mỗi hạng đều phân ra nhiều ngành khác nhau.
Sĩ thì có Nho, Lý, Số. Những người theo học nghiệp văn cho đến thành đạt, đỗ ông Nghè, ông Cống đứng đầu hàng Nho, rồi đến các ông đồ dạy trẻ. Cũng phải xếp vào hàng Nho các ông Khóa, ông Tú làm nghề bán chữ
không phải bằng cách dạy trẻ mà bằng cách nghĩ và viết những bức trướng đối, những bài văn viếng, văn tế, văn mừng, văn chúc v.v... và cả chính những 69
nho sĩ mở hàng đối trướng nữa. Còn nhiều hạng Nho, có hạng được xã hội trọng vọng, cũng có hạng khác bị xã hội coi thường và có khi khinh rẻ như
hạng nho lại tại các công môn đã dùng chữ nghĩa để bày đặt đơn từ xui nguyên giục bị, đã dùng chữ nghĩa để ăn không nói có v.v...
Sau hàng Nho là hàng Y, tức là những người theo đuổi nghiệp thuốc.
Muốn học nghề thuốc cần phải thông chữ nghĩa để đọc tên các vị thuốc, để
viết các đơn thuốc.
Muốn cho con trở thành ông Lang, theo đuổi y nghiệp, trước hết bố mẹ
phải cho con đi học cho thông văn tự, sau đó mới tìm đến một vị danh y để
xin cho con được vào làm đệ tử. Nếu vị danh y chấp nhận, bố mẹ đứa trẻ sẽ
sửa lễ đến nhà vị lương y, gọi là lễ nhập môn. Vị lương y sẽ làm lễ Thánh sư
nghề thuốc và cáo gia tiên trước khi thu nhận đứa nhỏ. Thường đi học nghề
làm thuốc, đứa trẻ ít nhất phải 15 tuổi trở lên mới có đủ trí khôn để lĩnh hội hết những sự tế nhị của nghề.
Lúc đầu đứa nhỏ tập nhận diện các vị thuốc, và phải học theo sách được tính của mỗi vị thuốc. Sau đó học những bài thuốc chữa cho mỗi bệnh, rồi sau cũng mới tập bắt mạch, kê đơn. Học nghề thuốc rất khó khăn vì sai một ly đi một dặm, mạng người ở trong chén thuốc.
Nước ta hằng có những bậc danh y như Hải Thượng Lãn Ông, tiếng tăm vang lừng không những riêng trong nước mà các nước láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản đều biết tiếng.
Xếp hàng sau Y, là Lý. Đây là những thầy địa lý, những thầy dùng kinh truyện mà đoán mọi việc cho người.
Sau Lý là đến Số. Đây chỉ các ông thầy bói toán đoán số mệnh của mọi người. Trong ngành số chính cũng chia làm nhiều nghề: xem bói dịch, đoán tử vi, đoán hà lạc lý số, xem tướng, xem chiết tự v.v...
Hạng Sĩ với bốn ngành Nho, Y, Lý, Số được coi là đứng đầu tứ dân.
Sau Sĩ đến hạng Nông với các ngành Ngư, Tiều, Canh, Mục.
Ngư là nghề đánh cá, nhưng phải kể gồm cả các nghề khác liên quan tới như muối cá, làm mắm v.v... Sở dĩ cá cũng xếp vào hạng Nông, vì chính cá Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 70
cũng ở đồng ruộng mà ra.
Tiều là nghề đốn củi, đốt than.
Canh là nghề trồng trọt như làm ruộng, trồng cây và cả nghề tầm tang, nghề hàng xáo cũng xếp vào ngành canh. Cũng kể là canh tất cả những nghề
nào có liên quan tới việc trồng trọt, hoặc tới các hoa mầu...
Mục là nghề chăn nuôi, nuôi súc vật dùng cho việc cày cấy cũng như nuôi các súc vật khác.
Bốn ngành Ngư, Tiều, Canh, Mục xếp hàng Nông vì ít nhiều những nghề
nghiệp của các ngành này, cũng trông nhờ vào đất cát, dù đó là đốn củi trên rừng, nuôi súc vật ở cánh đồng, đánh cá ở hồ ao, hay trồng trọt cày cấy ở
ruộng vườn.
Sau Nông đến hạng Công tức là thợ thuyền. Kể ra ta có thể phân chia các nghề tùy theo vật liệu sử dụng: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Nghề kim hoàn, nghề thợ rèn, nghề đúc đồ đồng v.v... là những nghề sử
dụng kim liệu.
Nghề thợ mộc, nghề thợ tiện, nghề thợ chạm, nghề đan rổ, rá, nong, nia v.v...
là những nghề sử dụng mộc liệu.
Nghề chở đò sống trên sông nước.
Nghề đốt than, nghề rèn, nghề đúc dùng đến lửa.
Nghề đất nấu, nghề nung vôi, nung gạch, nghề thợ hồ v.v... dùng đến đất.
Tuy lấy ngũ hành để phân biệt các nghề, nhưng nhiều nghề cần đến hai trong ngũ hành như thợ rèn, cần cả lửa và sắt, nghề đắp tường cần cả nước và đất v.v...
Đứng sau cùng trong tứ dân là Thương để chỉ những người buôn bán. Buôn bán có người buôn tại chỗ, có người đi xa về gần, có người buôn lớn, có người buôn nhỏ.
Gây dựng cho các con, cha mẹ thường tùy hoàn cảnh mình, tùy sự thông minh khéo léo của con, và cũng tùy sự quen biết của mình mà gửi các con đi học nghề nào cho thích hợp và thuận tiện.
Trừ những nghề trong hạng sĩ, đứa nhỏ cần phải có học hành chữ nghĩa ít nhiều, còn các nghề khác, sự biết chữ không cần thiết.
Ngày xưa thợ thuyền ta thường hợp thành từng nhóm muốn cho con học nghề gì, bố mẹ phải nhờ người đứng đầu một nhóm thợ nhận ra.
o Phó cả
Đứng đầu một nhóm thợ là ông phó cả. Người này điều khiển toàn thể
nhóm thợ và có quyền nhận các phó nhỏ, tức là các trẻ em tới xin tập việc để
học nghề. Ông phó cả phải lo nhận công việc cho cả toán thợ làm. Giúp việc ông phó cả có các ông phó hai, phó ba... Những đứa trẻ tới tập việc đều gọi là phó nhỏ. Lúc đầu các phó nhỏ làm những công việc lặt vặt, và kể từ khi bắt đầu đi tập việc là các phó nhỏ đã được ông phó cả nuôi ăn. Khi các phó nhỏ, đã biết nghề, các phó cả có thể tùy tiện trả cho ít nhiều tiền công.
Những nhóm thợ thường ít khi có cửa hàng như ngày nay. Họ đi tìm kiếm công việc tại các nhà trong làng. Mỗi khi trong làng, hoặc các làng lân cận có công việc cần làm, họ phải đi tìm các ông phó cả.
Ai đã từng ở vùng quê chắc hẳn thấy từng nhóm thợ mộc, từng nhóm thợ
hồ dắt nhau đến các nhà lĩnh việc. Các nghề khác cũng vậy, có nhóm thợ đất đi nhận đào ao, đào móng, có nhóm thợ xẻ đi nhận xẻ gỗ v.v...
Cũng có nghề cần phải có cửa hàng nhất định như thợ chạm, thợ sơn, thợ
may... Tuy vậy, vẫn có các ông phó cả và các ông phó phụ, và những người tập việc vẫn được gọi là phó nhỏ.
o Học nghề buôn bán
Nghề buôn bán theo ta là một nghề dễ làm giàu. Ta có câu phi thương bất phú nghĩa là không có buôn bán thì không giàu được.
Các nhà buôn thường truyền nghề cho con, nhưng cũng có nhiều nhà buôn nhận con các bạn hữu tới học tập nghề buôn bán. Trong thời gian học nghề này, đứa trẻ phải làm hết mọi công việc như kẻ ăn người ở và phải chịu mọi sự vất vả để tìm hiểu công việc làm ăn buôn bán, từ bán lẻ đến bán buôn, từ mua cao bán hạ đến mua xa bán gần, v.v...
Xưa nước ta ít có các bậc đại thương gia, việc buôn bán lớn thường ở
trong tay người Trung Quốc, ta chỉ có nghề buôn lẻ, và do đó việc buôn bán Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 72
của ta thường do phụ nữ đảm nhiệm; họa hoằn mới có một nhà buôn lớn do nam giới điều khiển. Chính vì vậy mà ít người cho con trai học nghề buôn bán. Chỉ các cô gái theo mẹ đi chợ dần dần tập buôn bán quen nghề.
Việc buôn bán ngày nay khác hẳn xưa, nhiều nhà buôn Việt Nam kinh doanh cạnh tranh không những riêng với người Trung Quốc mà với tất cả
các ngoại kiều khác. Các ngành buôn ngày nay cũng nhiều và phát triển hơn xưa. Tuy vậy, việc buôn thúng bán bưng tại các chợ cũng như tại các vùng quê vẫn do các chị em phụ nữ đảm trách.
Gây dựng cho con cái ai cũng muốn cho con cái hơn người, nhưng nhiều khi hoàn cảnh người ta đành phải chịu để con cái theo học một nghề mà chính bố mẹ không ưng. Nhưng đã cho con học bất cứ nghề nào, bố mẹ đều khuyên con cố gắng, vì chỉ có người hèn chứ không có nghề hèn. Ca dao có câu:
Nhất nghệ tinh nhất thân vinh,
Ai ơi phải quý nghề mình mới nên.
Hoặc buôn bán, hoặc thợ thuyền,
Nghề gì cũng sẽ làm nên sang giàu.
o Những nghề hèn hạ
Tuy trên đã trình bày là bố mẹ có thể cho con học tập bất cứ một nghề
gì, tuy nhiên có những nghề xấu xa mà bố mẹ muốn tránh cho con. Đó là những nghề hèn hạ, làm mất nhân phẩm con người. Theo tục ngữ: Bé đi câu, lớn đi hầu, già đi làm khách nợ. Ta thấy những nghề đi câu, đi hầu và đi làm khách nợ bị rẻ khinh vì không phải là những nghề tốt đẹp. Đi câu ở đây không phải là nghề đánh cá mà chính là những người mang cần câu đi câu cá ở ao hồ của người khác. Việc đi câu như vậy không khác gì ăn trộm. Còn đi hầu, chẳng phải nói ai cũng thấy là hèn hạ, vì đi hầu là chịu sự sai bảo, phải nịnh bợ, vả chăng trong nghề đi hầu phải kể cả nghề làm mõ, tức là kẻ hầu chung cho cả một làng.
Đến đi làm khách nợ lại cũng bị xã hội chê cười. Người làm khách nợ được 73
chủ nợ thuê đi đòi nợ một người nào, đến nằm ỳ ở nhà người này như bố
mẹ già người ta, lại hạch ăn hạch uống, nhà con nợ có cái gì cũng lấy. Hành động của người khách nợ là hành động vô nhân đạo vì người con nợ nghèo túng đã không có gì còn bị bọn khách nợ bóc lột ăn bám, mà chúng làm công việc này chính chỉ vì bọn chủ nợ.