Phần VI: TẾT ĐOAN NGỌ (tiếp)Phần 22
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Người Việt ta cũng như người Trung Hoa xưa tin rằng những củ, cành, lá hái và đào được trong ngày mồng năm tháng Năm đều là những vị thuốc tốt chữa được rất nhiều bệnh, nhưng phải hái vào khoảng giờ Ngọ nghĩa là vào khoảng giữa trưa.
Y học Đông phương giải thích rằng vào một ngày nắng nhất của mùa hạ, vào một giờ nóng nhất, tức là giờ Ngọ, của ngày nóng nhất ấy, khí nóng đã cô đọng nhựa cây lên lá, khiến cho lá có một được tính chữa được một số bệnh như nhức đầu, đau xương, xổ mũi, choáng váng, v.v...
Bí quyết của sự hái lá vào ngày Đoan Ngọ là theo người xưa.
Những lá người ta thường hái là ngải cứu, đinh lăng, lá mùi, lá mua, v.v...
Những lá này được đem phơi khô, rồi khi bị các chứng bệnh trên người ta đem sắc lên mà dùng.
Tục hái lá mồng năm là do sự tích Lưu Thần, Nguyễn Triệu truyền lại và được thi vị hóa cho rằng chư tiên đã “truyền phép” cho cây lá vào giờ Ngọ ngày Đoan Dương.
Có nhiều làng ở ven rừng núi, ngày Đoan Ngọ dân làng rủ nhau đi hái lá rất vui, vui như một ngày hội hàng năm vậy.
Tục treo ngải cứu trừ tà
Cây ngải cứu có được tính khử phong giải độc, người bị nhức đầu lấy lá ngải cứu đắp lên hai bên thái dương có thể khỏi.
Ngày tết Đoan Ngọ, người ta lấy lá ngải cứu buộc treo ở trước cửa nhà để
trừ tà, tránh sự đau ốm.
“Trừ tà” là một điều huyền bí, không chắc có hay không, nhưng lá ngải cứu treo ở trước cửa nhà chắc là có công dụng vì được tính của lá này:
-
Ngày đó mọi người giết sâu bọ, ăn nhiều trái cây có thể bị ấm ách khó chịu, mùi lá ngải cứu treo ở cửa nhà bốc xông vào có thể làm cho người ta dễ chịu như khi xông bằng lá này.
-
Ngày mồng năm tháng Năm là một ngày nắng nhất, hơi nóng bốc gay gắt. Lá ngải cứu treo ở cửa nhà tỏa mùi thơm làm dịu bớt sức nóng của trời đất.
Treo lá ngải cứu ở trước cửa nhà không những chỉ tốt riêng cho ngày mồng năm tháng Năm mà còn có ích trong các ngày khác với công dụng trình bày trên. Chính vì vậy, tại nhiều nhà, bó ngải cứu được treo ở trước cửa cho đến khi khô héo sau ngày Đoan Ngọ.
Tục đi sêu
Xưa, những chàng trai đã dạm vợ hoặc hỏi vợ nhưng chưa cưới có bổn phận phải “sêu tết” trong những dịp lễ tết.
Ngoài Tết Nguyên Đán, một năm có hai lần Sêu vào dịp cơm mới tháng Năm và tháng Mười, nghĩa là vào dịp vụ gặt xong có lúa mới của hai vụ chiêm và mùa.
Về vụ chiêm, những chàng rể chưa cưới đi “sêu” bố mẹ vợ nhân dịp Tết Đoan Ngọ.
Lễ sêu trong dịp này bao giờ cũng gồm có đậu xanh mới hái vào tháng tư, gạo nếp của vụ chiêm. Ngoài ra tháng Năm cũng là mùa ngỗng và mùa chim ngói, cùng với gạo đậu bao giờ cũng có một đôi ngỗng và vài chục chim ngói. Kèm thêm vào có vài cân đường cát và mấy trái dưa hấu, nghĩa là Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 160
toàn những sản phẩm trong mùa.
Chàng rể đi “sêu”, lẽ tất nhiên bố mẹ vợ nhận đồ lễ nhưng bao giờ cũng hoàn lại một phần, thường chỉ lấy một phần.
Lễ quý hồ thành, bất quý hồ đa, lễ trọng ở lòng thành chứ không trọng ở
chỗ nhiều.
Bố mẹ vợ không nhận cả, phần vì sợ mang tiếng tham, phần theo tập quán ít ai nhận đồ biếu Tết mà không “lại quả” nghĩa là để lại cho người biếu một phần.
Có những trường hợp các chàng rể nài nỉ để bố mẹ vợ nhận hết, bố mẹ vợ
sẽ nói:
-
Thầy đẻ đã nhận cả, nhưng đây là thầy đẻ gửi biếu lại ông bà đằng nhà.
Thật là lịch sự vậy thay!
Chỉ có những chàng rể chưa cưới vợ mới phải đi “sêu”, còn những chàng rể
cưới vợ rồi thì hết lệ “sêu”, nhưng trong các dịp lễ tết thường có lễ biếu ông nhạc bà nhạc. Dịp mồng năm tháng Năm cũng vậy, các chàng rể dù nghèo cũng cố kiếm chút lễ mọn để biếu cha mẹ vợ, lễ biếu này nhiều ít tùy tâm và không quan trọng bằng lễ “sêu”.
Tục tết thầy học
Các ông đồ xưa dạy học thường không lấy học phí. Hàng năm vào dịp mồng năm tháng Năm, mồng chín tháng Chín và dịp Tết, các học trò đều có đồ lễ
tết thầy. Thúng gạo, đôi ngỗng, đường bánh hoặc hoa quả tùy sự giàu nghèo và tùy tâm bố mẹ học trò. Những gia đình khá giả thưởng phong bao kèm một số tiền.
Học trò cũ đã làm nên danh vọng cũng không quên thầy về dịp này.
Tục tết ông lang
Các con bệnh được ông lang chữa bệnh khỏi, mặc dầu đã trả tiền thuốc, nhưng cũng không quên ơn cứu bệnh cho mình, nên trong dịp Tết Đoan Ngọ, còn gọi là “tết hái thuốc” cũng mang tết ông lang. Đồ lễ cũng gồm đậu, gạo, ngỗng, chim v.v... như đồ lễ học trò tết thầy.
Tục tết lẫn nhau
Những người chịu ơn người khác, những kẻ dưới trong làng, để tỏ lòng biết ơn và kính trọng, trong dịp này cũng có quà biếu người trên và những người đã giúp mình.
Qua những điều biết về các cổ tục lễ Tết trên, ta thấy rằng dân tộc Việt Nam ta rất biết ơn biết nghĩa cho nên sự giao thiệp giữa mọi người bao giờ
cũng tốt đẹp.
o Một vài câu cuyện về Tết mùng năm
Đã viết về Tết mồng năm tưởng không nên bỏ qua một vài câu chuyện thường được kể truyền khẩu trong dân chúng về Tết này để thấy phần nào quan niệm của cha ông xưa.
"Len lét như rắn mồng năm"
Ta hằng để ý, ngày mồng năm tháng Năm không ai gặp rắn, và trong ngày hôm đó loài rắn như sợ sệt len lét chỉ tìm cách đi trốn. Bỏi vậy ta có câu
“len lét như rắn mồng năm”. Theo quan niệm cũ, ngày mồng năm loài rắn sợ
hãi, vì ngày hôm đó các em đều đeo “bùa tui bùa túi”, và những túm “bùa”
này đều có viên hồng hoàng. Chất hồng hoàng thường rắn kỵ, nên rắn tìm đường ẩn trốn.
Rắn ẩn trốn không phải riêng gì ngày mồng năm tháng Năm mà từ trước bữa đó và cả sau bữa đó mấy ngày nữa, suốt trong thời gian trẻ em còn đeo
“bùa hồng hoàng”. Rắn chỉ xuất hiện khi không ngửi thấy mùi vị hồng hoàng.
Sự tích con thằn lằn
Thằn lằn cũng là một loại bò sát, thường bò ở các bờ dậu, bờ tường. Thằn lằn hiền lành, thấy người thường sợ. Thằn lằn cũng sợ hồng hoàng như các loại rắn khác, ngày mồng năm tháng Năm cũng đi ẩn trốn.
Sự tích con thằn lằn như sau:
Xưa có một người con nhà giàu, tính tình hào phóng. Khi cha mẹ mất, sẵn tiền để lại, anh ta ăn tiêu thái quá đến nỗi khánh kiệt cả gia sản, phải vay mượn nhiều người nên mang công mắc nợ rất nhiều, không lấy tiền đâu trả
cho được.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 162
Các chủ nợ đòi, anh ta cứ hẹn lần khất lượt. Không có tiền trả, anh đành phải đi trốn. Anh ta rúc vào một bụi cây để ẩn, nhưng các chủ nợ vẫn nháo nhác đi tìm. Sợ hãi quá, anh ta không dám thò mặt ra, rồi chết luôn trong bụi cây, hóa thành con thằn lằn.
Con thằn lằn xuất hiện quanh năm, nhưng đến ngày mồng năm tháng Năm, chợt nhớ tới các chủ nợ, lại vội vàng lẩn trốn nên không ai bắt gặp con vật này trong ngày hôm đó.
Thực ra con thằn lằn trốn vì sợ hồng hoàng. Tục ngữ ta cũng có câu: “Trốn như thằn lằn mồng năm”.
Một câu chuyện Khuất Nguyên
Người ta lấy ngày Tết Đoan Ngọ làm ngày kỷ niệm Khuất Nguyên để ghi nhớ
sự trung thành của một vị đại thần chỉ nghĩ đến việc nước.
Nhắc lại Tết Đoan Ngọ tưởng không nên bỏ qua một câu chuyện lý thú về
Khuất Nguyên.
Truyện này theo các cụ Trần Lê Nhân và Nguyễn Văn Ngọc trong Cổ học tinh hoa thì do chính Khuất Nguyên viết ra để mượn lời một ông lão đánh cá tỏ
bày tâm sự của mình:
Truyện như sau:
Sau khi Khuất Nguyên vì lời sàm báng của kẻ nịnh thần bị phóng khí, nghĩa là bị đuổi đi không dùng nữa, ngày ngày đi lang thang trên bờ đầm, mặt mũi tiều tụy, hình dung khô héo, vừa đi vừa hát.
Có ông lão đánh cá trông thấy hỏi rằng:
-
Ông có phải là Tam Lư đại phu đó không? Sao lại nỗi khốn khổ như vậy?
Tam Lư chính là họ của Khuất Nguyên.
Nghe ông lão hỏi, Khuất Nguyên nói:
-
Cả đời đục, một mình ta trong; mọi người say cả, một mình ta tỉnh, bởi vậy cho nên ta phải phóng khí.
Ông lão đánh cá nói:
-
Thánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tùy thời. Có phải cả đời đục cả, sao ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục một thể; mọi người say cả, sao ông không ăn cả nem, húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải lo xa nghĩ sâu để đến nỗi phải phóng khí?
Khuất Nguyên nói:
- Tôi nghe: mới gội đầu tất phải chải mũ, mới tắm ra tất phải thay áo; có đâu lại đem cái thân trong sạch cho vật dơ bẩn dính vào mình được? Chẳng thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác vào trong bụng cá, chớ sao trắng lôm lốp, lại chịu để vấy phải bụi dơ.
Ông lão đánh cá nghe nói tủm tỉm cười, quay bơi chèo đi rồi hát rằng:
“Sông Tương nước chảy trong veo
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.
Sông Tương nước đục phù sa,
Thì ta lội xuống để mà rửa chân”.
Hát xong đi thẳng không nói gì nữa.
Bàn về truyện trên, hai cụ Trần Lê Nhân và Nguyễn Văn Ngọc đã viết:
“Mấy câu hát của lão đánh cá thì có ý khuyên Khuất Nguyên hòa quang đồng trần với đời, mấy câu Khuất Nguyên nói thì lại phản đối lại; chết thời thôi chứ không chịu theo thời, không chịu dày dạn, sống đục không bằng thác trong! Ôi! Không nỡ bỏ nước nhà mà lẩn lút bỏ đi ở nơi khác, lại cũng không chịu cùng tiểu nhân mà cẩu thả sống cho qua đời, sau quả nhiên vùi xác vào bụng cá trong sông Mịch La, lấy nước sông Mịch La tẩy uế sự nhơ
bẩn, thật là nghìn thu trung nghĩa, dòng nước sông xanh, khiến cho ai xem truyện Khuất Nguyên cũng ngậm ngùi nhớ và sinh lòng phấn khởi”.
Nhân dịp Tết mồng năm tháng Năm trở lại, nhắc lại truyện xưa, thử hỏi ai là người không đồng ý xót thương cho một bậc trung nghĩa cam chịu thác để cảnh tỉnh nhà vua.
Cũng như phần nhiều các lễ tiết, Tết mồng năm tháng Năm cũng từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam, nhưng sang đến nước ta, tết này cũng chịu sự
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 164
biến đổi ý nghĩa và hình thức như các lễ tiết khác.
Dân tộc Việt Nam ta ăn Tết Đoan Ngọ để không quên lòng trung nghĩa của Khuất Nguyên và cả sự tích nên thơ của Lưu Thần, Nguyễn Triệu, nhưng cũng lại để mừng mùa lúa chiêm mới, ăn mừng cái công lao kết quả của vụ
này, công Lưu Thần, Nguyễn Triệu, nhưng cũng lại để mừng mùa lúa mùa đông giá lạnh, cho đến khi gặt lúa giữa mùa nắng oi bức, nóng trên nóng dưới.
Ta có nhiều tục lệ cổ truyền về Tết, những tục lệ này đã bảo tồn được tính chất đặc biệt Việt Nam của nền văn hóa ta xây dựng trên căn bản nhân nghĩa và đạo đức truyền thống.
Những tục lệ tết thầy đồ, tết thầy thuốc, biếu tặng những người đã thi ân cho mình chứng tỏ rằng lễ giáo của ta rất được tôn trọng, và những ân sâu nghĩa trọng ở Việt Nam không bao giờ chúng ta quên.
Đến như tục lệ đi Sêu lại nêu ra tinh thần biết ơn nhạc phụ nhạc mẫu đã sinh ra vị hôn thê của mình và cũng là một dịp để chàng trai tỏ lòng thương mến với cô gái qua lễ nghi phong tục.
Tết Đoan Ngọ ngày nay, qua mọi biến đổi của thời cuộc vẫn tồn tại trong dân chúng với ý nghĩa thiết thực thiêng liêng của nó.
Ngay ở trong Nam, ngoài Bắc hàng năm, tết Đoan Dương tới, người ta vẫn đón tết với những sự cúng bái, tuy có những tục khác không còn, nhưng có lẽ ở nhiều địa phương vẫn chưa mất hết những cổ tục còn ý nghĩa văn hóa và nhân bản.
Ăn Tết Đoan Ngọ, chúng ta cần tìm hiểu giá trị và tinh thần của ngày tết này.
Phần VII: LỄ THẤT TỊCH
(Tết mồng Bảy tháng Bảy)
Ngày lễ Thất Tịch nhằm ngày mồng bảy tháng Bảy. Lễ này còn gọi là lễ Ngâu, 165
vì lễ này kỷ niệm sự tích vợ chồng Ngâu, tức là Ngưu Lang và Chức Nữ.
Tháng Bảy âm lịch là tháng mưa nhiều, mưa rỉ rả suốt ngày nọ qua ngày kia, nhất là miền Bắc. Mưa này gọi là mưa Ngâu, vì người ta cho đây là những giọt lệ của vợ chồng Ngâu.
Sự tích vợ chồng Ngâu đã được thi sĩ Tản Đà nhắc lại trong mấy vần thơ đầy nhạc điệu:
“Tục truyền tháng Bảy mưa Ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền
Một là duyên, hai là nợ,
Mối xích thằng, ai gỡ cho ra.
Vụng về cũng thể cung nga,
Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng”!
Mấy vần thơ trên đã nhắc lại một cách rất cảm động cổ tích thần thoại của chàng Ngâu, với mối tình dang dở giữa chàng và Chức Nữ.
Chức Nữ, ái nữ của Ngọc Đế có nhan sắc có tài nữ công khéo léo. Ngưu Lang chỉ là một chàng chăn trâu nhưng có tâm hồn thi sĩ, biết yêu đương tha thiết lại có tài thi phú. Trai tài, gái sắc, đôi bên nặng một lòng yêu. Trước mối tình đằm thắm ấy, Ngọc Đế tác thành cho đôi lứa.
Đôi uyên ương được cùng nhau chung sống, hưởng hạnh phúc của tình yêu, nhưng mải mê say mối duyên vàng lụa, chàng và nàng đều sao nhãng phận sự của mình. Nàng, thoi biếng dệt, kim chỉ biếng khâu; chàng văn biếng luyện, sách đèn biếng ngó, và cả đàn trâu cũng không buồn săn sóc đến.
Trước sự trạng ấy, Ngọc Đế nổi giận, đày hai người ở hai bờ sông Ngân và một năm nhờ đàn quạ đen bắc cầu, gọi là cầu Ô Thước, đôi bên chỉ được gặp nhau một lần.
Ở hai bên bờ sông Ngân, chàng Ngưu chăn trâu đợi ngày gặp gỡ người yêu, còn nàng Chức phải dệt lụa vá may để đền lỗi cũ.
Hàng năm tháng Bảy tới, đôi bên gặp nhau. Gặp nhau nước mắt tràn lời Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 166
nói, và những dòng nước mắt của đôi bên rơi xuống cõi trần gây nên những ngày mưa liên tiếp: ấy là mưa Ngâu.
Hai bên gặp nhau ngày mồng bảy tháng Bảy, ngày Thất Tịch.
Tục nói rằng, ngày hôm đó ở trần gian không có quạ, quạ đã lên sông Ngân Hà bắc cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau.