Phần VI: TẾT ĐOAN NGỌPhần 21

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Thanh Minh trong tiết tháng Ba,

Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh.

Gần xa nô nức yến anh.

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”.

Phần VI: TẾT ĐOAN NGỌ

(Tết mồng năm tháng Năm)

Ca dao ta có câu:

“Tháng Tư đong đậu nấu chè,

Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm”

Chứng tỏ rằng Tết Đoan Ngọ là Tết cũng được sự chú ý của người Việt Nam ta xưa, tuy rằng tục ăn tết này đã chịu ảnh hưởng của Tàu, cũng như nhiều tiết lễ khác.

Vậy Tết Đoan Ngọ là tết gì? Và ta ăn Tết Đoan Ngọ vào ngày nào tháng Năm?

Đoan Ngọ là gì?

Theo sách Phong thổ ký thì Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương.

Đoan nghĩa là mở đầu. Ngọ là giữa trưa, Đoan Ngọ là bắt đầu lúc giữa trưa; còn Dương là mặt trời, là khí dương, Đoan Dương nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh.

Tết Đoan Ngọ ăn vào ngày mồng năm tháng Năm âm lịch.

Sở dĩ tết này được gọi là Tết Đoan Ngọ, chính vì tháng Năm là lúc bắt đầu trời nắng to, khí dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa.

Theo quan niệm Đông phương thì phương Nam là chính Ngọ là ngôi dương, cho nên tết này gọi là Tết Đoan Dương. Và tháng Năm cũng là tháng Ngọ trong một năm.

Người Trung Hoa còn gọi Tết Đoan Ngọ là “Tết Trùng Ngũ” hay “Đoan Ngũ” nữa.

Theo sách Tuế Thời tạp ký thì Trùng Ngũ là hai số 5 gặp nhau, mồng năm tháng Năm. Ngoài ra xưa kia ở kinh kỳ, người ta gọi ngày mồng một tháng Năm là Đoan Nhất, ngày mồng hai là Đoan Nhị, ngày mồng ba là Đoan Tam, ngày mồng bốn là Đoan Tứ và ngày mồng năm là Đoan Ngũ.

o Sự tích Tết Đoan Ngọ

Xưa kia, thực ra ban đầu, ngày Đoan Ngọ chỉ là ngày người dân cúng lễ

để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng quang đãng. Hơn nữa giữa tiết hạ oi bức này bệnh tật thường hay có, nên người ta cúng vái để cầu được bình yên, tránh mọi bệnh thời khí.

Nhưng về sau để cho ngày này có một ý nghĩa, người ta liền lấy ngày đó làm ngày kỷ niệm Khuất Nguyên và các ông thầy thuốc cũng nhân ngày này kỷ niệm hai chàng Nguyễn Triệu và Lưu Thần vào núi Thiên Thai tìm thuốc.

o Sự tích Khuất Nguyên

Khuất Nguyên, họ Tam Lư làm chức Tả Đồ nước Sở dưới triều vua Hoài Vương vào thời Thất Quốc bên Tàu, có tài lo liệu và liêm chính. Mỗi khi vào triều bàn bạc quốc sự, ông đều bị vua Hoài Vương bài bác vì những nịnh thần xúi giục.

Về sau ông bị nhà vua truất bỏ. Để tự tả nỗi oán than ông viết bài thơ Ly Tao.

Khi vua Sở Hoài Vương sang Tần, ông hết lời can ngăn nhưng Hoài Vương không nghe, rồi bị chết ở đất Tần. Vua Tương Vương kế nghiệp vua Hoài Vương không những không chịu nghe lời ông lại còn bắt ông đi đày.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 152

Ông làm bài thơ Hoài Sa rồi buộc đá vào mình nhảy xuống sông Mịch La tự tận. Hôm đó là ngày mồng năm tháng Năm.

Được tin đó, nhà vua rất hối hận và thương tiếc, sức dân làm cỗ đem ra tận bờ sông cúng ông và ném cỗ xuống sông cho ông hưởng, nhưng cỗ bị

cá tôm ăn hết.

Ông báo mộng cho nhà vua hay, và xin với nhà vua nếu nghĩ tình thương ông thì khi ném cỗ xuống cho ông phải lấy lá bọc lại, buộc bằng chỉ ngũ sắc, cá tôm sẽ không ăn được.

Theo lời báo mộng của ông, vua ra lệnh cho nhân dân làm theo.

Từ đó vào ngày mồng năm tháng Năm bên Tàu, dân chúng làm cỗ cúng linh đình trên các bờ sông rồi lấy lá bọc lại, buộc chỉ ngũ sắc ném xuống dòng nước để kỷ niệm ông Khuất Nguyên.

Riêng tại sông Mịch La, người nước Sở mở hội rất vui, ngoài việc cúng lễ

Khuất Nguyên còn tổ chức các cuộc đua thuyền, tượng trưng cho ý muốn vớt thây Khuất Nguyên.

o Sự tích Lưu Thần và Nguyễn Triệu

Lưu Thần và Nguyễn Triệu là hai người đời nhà Hán, nhân ngày Tết Đoan Dương cùng rủ nhau vào núi hái thuốc, gặp hai tiên nữ kết duyên. Sau thời gian nửa năm sống nơi tiên cảnh với vợ tiên, hai người nhớ nhà đòi về. Giữ

lại không được, hai tiên nữ đưa tiễn chồng về. Trở về làng, Lưu, Nguyễn thấy phong cảnh đã khác xưa, nửa năm trên cõi tiên là mấy trăm năm dưới cõi trần. Hai chàng bèn đi tìm trở lại cõi tiên, nhưng không thấy nữa. Hai chàng rủ nhau vào trong rừng rồi không thấy trở về.

Các nhà thơ đã ngâm vịnh rất nhiều về sự tích đầy thi vị của hai chàng, và riêng thi sĩ Tản Đà đã có cả một tập chèo Thiên Thai là kiệt tác văn học.

Dưới đây là đoạn hai nàng tiên tiễn biệt Lưu, Nguyễn về trần:

“Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,

Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi!

Nửa năm tiên cảnh,

Một bước trần ai,

Ước cũ duyên thề có thế thôi!

Đá mòn rêu nhạt.

Nước chảy hoa trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời!

Trời đất từ đây xa cách mãi.

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ,

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”

LỄ BÁI TRONG NGÀY ĐOAN NGỌ

Có tiết lễ, phải có cúng bái. Cũng như các Tết khác, ta cũng ăn tết Đoan Ngọ

bằng sự cúng lễ.

Xưa tại các làng xã có tế thần tại đình, đền; ở các thôn xóm có cúng tại miếu.

ở nhà, các tư nhân sửa lễ cúng tại miền Bắc về dịp này thế nào cũng có trái dưa hấu vì lúc này đang mùa. Cỗ cúng xong thì ta ăn, không ai mang đổ

xuống sông như tục bên Tàu, và ta cũng không cúng Khuất Nguyên tuy là ngày kỷ niệm Khuất Nguyên.

o Tục lệ trong ngày Đoan Ngọ

Ngoài việc cúng lễ trong ngày Tết Đoan Ngọ, xưa và cả nay ở một vài địa phương, người Việt ta có nhiều tục lệ được mọi người cùng theo. Những tục lệ có khi chịu ảnh hưởng theo người Trung Hoa, có khi chính là tục lệ riêng của nước ta, đến nay thì không còn, song tôi vẫn liệt kê để bạn đọc tham khảo:

Tục giết sâu bọ.

Tục nhuộm móng chân móng tay.

Tục đeo bùa tui, bùa túi.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 154

Tục tắm nước lá mùi.

Tục khảo cây lấy quả.

Tục hái thuốc vào giờ Ngọ.

Tục treo ngải cứu để trừ tà.

Tục đi sêu...

Tục giết sâu bọ

Tết mồng năm tháng Năm, còn được ta gọi là “lễ Giết sâu bọ” vì trong ngày hôm ấy ta có tục giết sâu bọ. Theo quan niệm của ta xưa, trong người, nhất là bộ phận tiêu hóa, thường có sâu bọ. Sâu bọ này nếu không trừ đi sẽ

sinh sản ngày một nhiều và gây tai hại cho người, nhưng giết sâu bọ không phải là một chuyện dễ dàng và không phải là bất cứ lúc nào giết chúng cũng được. Theo quan niệm cũ thì quanh năm chúng ăn sâu bên trong, duy chỉ có ngày mồng năm tháng Năm là chúng ngoi lên. Nhân dịp chúng ngoi lên, người ta cần giết chúng.

Giết sâu bọ bằng gì?

Chính bằng những thức ăn, nhất là bằng rượu nếp và hoa quả.

Sáng sớm ngày mồng năm tháng Năm, ngay sau khi thức dậy, súc miệng xong là phải giết sâu bọ ngay. ở miền Bắc, trong dịp này mỗi người đều ăn ít nhất một bát rượu nếp (cơm rượu) sau đó ăn một bát thạch, rồi đến ăn các trái cây như mận, muỗm, sấu, đào, roi v.v...

Đối với trẻ con, người ta bôi cho chúng một ít thần sa, chu sa vào hai bên thái dương và vào bụng. Có khi người ta hòa một chút với nước cho chúng uống.

Người xưa cắt nghĩa sự diệt sâu bọ như sau:

Sáng hôm mồng năm tháng Năm, bọn sâu bọ ở bụng dưới ngoi lên bụng trên. Ăn rượu nếp vào cho chúng say, sau đó những trái cây sẽ làm cho chúng chết. Mỗi trái cây đều là vị thuốc diệt sâu bọ. Trong đông y, thuốc Nam cũng như thuốc Bắc, các vị thuốc phần lớn đều lấy ở loài thảo mộc, các trái là kết tinh của loài thảo mộc cho nên có tính chất giết được sâu bọ.

Ngoài trái cây, người ta còn cho con trẻ bôi hoặc uống chút ít thần sa, chu sa, vì người ta cho rằng, lúc sâu bọ bị các trái cây giết có phản ứng gây sự

bất an cho trẻ con nên dùng thần sa, chu sa để trấn an trước.

Đó là tục lệ và ý kiến người xưa!

Ngày nay, hàng năm khi mồng năm tháng Năm tới, ngoài việc cúng lễ, vẫn có người giết sâu bọ, vẫn ăn rượu nếp vào buổi sáng và vẫn dùng trái cây như xưa, nhất là ở ngoài Bắc.

Rượu nếp

Tiếng gọi là rượu, nhưng rượu nếp không phải hoàn toàn chất nước như các rượu khác mà có cả chất cái nữa.

Rượu nếp làm bằng xôi. Dùng gạo nếp thổi xôi rồi rắc men lên trên, ủ một thời gian từ ba tới năm ngày, xôi đã thành rượu nếp (cơm rượu).

Thúng xôi ủ được đặt trên một chiếc chậu để hứng lấy nước. Nước này là chất rượu, còn cái là xôi ủ men nổi màu ngà. Khi ăn, ăn cả cái trộn lẫn với nước rượu đã hứng được lúc ủ men.

Rượu nếp ăn ngọt ngọt cay cay, đem cho người ta một cảm giác say say dễ

chịu.

Mỗi lần Tết Đoan Ngọ các cô hàng rượu nếp xuất hiện len lỏi đi vào các xóm từ ngày mồng ba, mồng bốn để bán rượu. Khách mua rượu có thể để dành một vài bữa không sợ hư. Các cô treo vào gánh rượu nếp một chùm ớt cùng một ít lá cây có tính chất khử trùng để trừ sâu bọ không làm hư gánh rượu của các cô.

Các phụ nữ đồng quê ta xưa phần nhiều đều biết ngả rượu nếp.

Ngày nay có người không dùng rượu nếp để giết sâu bọ. Họ dùng rượu trắng tức là “ba xị đế” cho mạnh hơn, hoặc những người sang lại dùng rượu Tây như Martel, Cognac v.v...

Tục nhuộm móng chân móng tay

Mỗi khi muốn làm đẹp, các bà các cô ở tỉnh thường nhuộm móng chân, móng tay. Các bà các cô kén thuốc kén màu. Xưa ở nhà quê, mỗi khi ngày Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 156

Tết Đoan Ngọ tới, người ta vẫn nhuộm móng chân, móng tay cho các trẻ em.

Người ta không cần phải mua thuốc kén màu gì cả, chỉ cần hái một nắm lá gọi là lá nhuộm móng tay đem giã nhỏ rồi lấy lá võng bọc lên đầu ngón tay ngón chân cho các em từ tối hôm trước, sáng hôm sau lấy ra, các móng tay, móng chân đều được nhuộm đỏ.

Lá móng tay là một thứ lá nhỏ và hơi dài của một thứ cây mọc nhiều ở bờ, ở bụi.

Hàng năm, gần tới ngày tết mồng năm tháng Năm, có người đi hái rồi mang ra chợ bán. Nhuộm bằng lá này, móng chân móng tay có màu đỏ tươi như son, màu đỏ ăn loang ra cả đầu ngón tay.

Sở dĩ có tục nhuộm móng chân, móng tay cho các trẻ em là cốt để trừ tà ma, cũng như cho các em đeo bùa, cùng một tác dụng như khi các em đeo bùa tui bùa túi. Người xưa còn cho rằng tính chất của lá nhuộm móng tay, khi nhuộm vào, giúp các em không bị ảnh hưởng nếu sâu bọ quấy rầy.

Khi nhuộm móng chân, móng tay, ngón tay trỏ được chừa ra, ngón này là

“thần chỉ” không đem nhuộm được.

Tục "bùa tui bùa túi"

Đây là thứ “bùa ngũ sắc” đeo cho trẻ em trong ngày mồng năm tháng Năm để diệt trừ ma quỷ và rắn rết theo quan niệm cũ.

Dùng vải và chỉ ngũ sắc để may bùa. “Bùa” khâu thành hình những trái cây rồi buộc túm với nhau bằng chỉ ngũ sắc cho các em đeo. Một túm “bùa”

thường gồm:

Một cục hồng hoàng có tính chất kỵ rắnrết;

Một túi hạt mùi hình vuông, một góc buộc chỉ để đeo vào túm “bùa”

còn ba góc kia có ba rua chỉ ngũ sắc và một hạt bóng màu. Hạt mùi rất thơm có tính chất kỵ gió;

Một quả ớt màu xanh, đỏ, vàng...

Một quả khế mỗi múi một màu;

Một quả na;

Một quả hồng v.v...

Có khi túm “bùa” được đeo vào một chiếc vòng cổ tết bằng chỉ ngũ sắc cùng với một chiếc khánh bằng giấy hoặc bằng chỉ ngũ sắc.

Theo sự tin tưởng cũ thì chỉ ngũ sắc kỵ được ma quỷ.

“Bùa” được khâu thành hình trái cây, vì trái cây được dùng để giết sâu bọ

trong dịp tết Đoan Ngọ. Tục này bỏ đã lâu, nay nhắc lại để tìm hiểu thêm.

Tục tắm nước lá mùi

Cây mùi là loại cây nhỏ lá lăn tăn có hạt và lá có mùi thơm.

Trong ngày tết Đoan Ngọ người ta lấy cây mùi đun nước tắm để trừ độc.

Người ta cho rằng, tắm nước lá mùi trong ngày mồng năm tháng Năm sẽ

tránh được gió máy, cảm mạo và sẽ được khỏe mạnh.

Sự thực tắm nước nóng giữa mùa nóng, mồ hôi toát ra, người được nhẹ

nhàng thư thái, như khi bị cảm xông nước lá đun lên, lá mùi cũng lại là một vị thuốc nam dùng để trị cảm, nên tắm nước lá mùi thấy dễ chịu.

Tết mồng năm tháng Năm mỗi nhà đều nấu một nồi nước lá mùi. Ông già bà cả trong dịp này khi tắm xong đều tự lấy làm khoan khoái.

Ngày nay, tục tắm nước lá mùi ngày tết Đoan Ngọ không còn ở nơi thành thị, nhưng ở vùng quê một số nơi người ta vẫn chưa bỏ tục xưa.

Tục này xét ra có điều hay là các trẻ em ở nơi bùn lầy nước đọng thường bẩn thỉu, quanh năm tắm nước rạch nước ao thiếu vệ sinh, nhân dịp tết Đoan Ngọ tắm bằng nước đun lá mùi, người chúng trở nên sạch sẽ thơm tho, và cũng nhờ sự sạch sẽ này chúng đỡ đau yếu.

Tục khảo cây lấy quả

Có nhiều cây trồng được nhiều năm vẫn không có quả, tuy đúng ra những cây đó phải có quả từ một đôi năm rồi. Người xưa cho rằng đó là những

“cây” phải “khảo” mới chịu có quả.

“Khảo cây lấy quả” là một tục cử hành vào dịp tết Đoan Ngọ: một người leo lên cây, một người đứng dưới gốc.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 158

Người đứng dưới gốc “hỏi” cây tại sao không có quả và “dọa” nếu mùa tới không có quả sẽ chặt cây đi. Người trên cây van lạy xin đừng chặt và “hứa”

đến mùa tới sẽ có quả!

Người đứng dưới gốc lại “hỏi” mùa tới sẽ cho bao nhiêu quả, người trên cây “trả lời” nói số quả là mấy thúng tùy theo sức vóc của cây. Sau đó người trên cây đi xuống.

Người ta bảo rằng sau kỳ “khảo” cây này, cây thường có quả! Không biết có phải cây sợ bị chặt đi mà có quả, hay tại năm đó cây mới đủ sức bói để ra quả! Điều này nay không còn, tuy nhiên ta cần biết thêm cách sống của người xưa.

Tục hái thuốc mồng năm

Theo Đông y mỗi cây đều là một vị thuốc, và trong các vị thuốc Nam người ta dùng lá rất nhiều.