Phần I: TẾT NGUYÊN ĐÁN (tiếp)Phần 16

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Làng Đáp Cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh ngày xưa, hàng năm vào ngày 30 tháng Chạp, dân làng đều đi viếng mộ khấn mời gia tiên về ăn Tết.

Tục này có ở rất nhiều nơi khác.

o Súc sắc súc sẻ

Tối hôm 30 Tết, ngày xưa tại các làng xã, các trẻ em nghèo, họp nhau thành từng bọn rủ nhau đi chúc Tết, tuy chưa hẳn là ngày Tết.

Các em, mỗi bọn có một chiếc ống trong đựng tiền, thường là ống tre. Các em tới từng gia đình, và các em cùng nhau hát, vừa hát vừa lắc ống tiền:

“Súc sắc súc sẻ,

Nhà nào còn đèn còn lửa,

Mở cửa cho chúng tôi vào:

Bước lên giường cao

Thấy đôi rồng ấp;

Bước xuống giường thấp,

Thấy đôi rồng chầu;

Bước ra đằng sau

Thấy nhà ngói lợp

Voi ông còn buộc,

Ngựa ông còn nằm.

Ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ

Vợ ông sinh đẻ

Những con tốt lành:

Những con như tranh,

Những con như rối.

Tôi ngồi xó tối.

Tôi đối một câu.

Đối rằng:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ:

Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh

Các em vừa súc sắc súc sẻ vừa hát, trong lúc gia đình chủ nhà chăm chú nghe, và sau câu hát gia đình nào cũng tặng các em chút ít tiền, tiền đó các em bỏ luôn vào ống. Tục cho rằng, các em đến đem sự may mắn lại. Không gia đình nào không tặng tiền các em. Nhiều ít ai cũng tặng các em một số

tiền trước khi các em rời sang nhà khác.

o Đòi nợ cuối năm

Các chủ nợ có lệ cuối năm thường thúc con nợ, cố đòi cho được số tiền đã cho vay, dù rằng đòi được tiền về để đấy. Người ta cho rằng, nếu không đòi được tiền trước giao thừa, ngày hôm sau, món tiền đã ra nợ cũ, và ngày mồng một đầu năm và những ngày sau nữa, người ta không dám đòi nợ, vì con nợ

kiêng “sợ giông”. Đòi nợ vào ngày Tết, không những con nợ không trả nợ, mà có khi còn mắng lại chủ nợ vì không biết kiêng cho mình.

Tục lệ như vậy nên cái ngày tất niên này, những người có nợ làm ăn kém may mắn không có tiền trả mà khất chủ nợ không chịu, đành phải đi trốn nợ cho đến lúc giao thừa mới trở về.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 106

Ta có câu:

“Khôn ngoan, đến cửa quan mới biết,

Giàu có, ba mươi Tết mới hay”

Đến cửa quan, người khôn ngoan đủ lý lẽ để đối đáp còn người giàu có, 30

Tết không có chủ nợ tới ngõ thúc.

o Cúng gia tiên

Chiều 30 Tết, mọi việc sửa soạn đã xong xuôi, sau khi đã đi viếng mộ gia tiên về, người ta sửa lễ cúng gia tiên, và sau đó đèn nhang, nhất là nhang phải giữ thắp suốt mấy ngày Tết cho tới khi hóa vàng.

Trong mấy ngày này, trên bàn thờ luôn luôn có sự hiện diện của tổ tiên. Để

giữ cho hương khỏi bị tắt, từ chiều 30 Tết, người ta thường dùng hương vòng hoặc hương sào. Hương vòng là một cuộn hương thắp được suốt đêm tới sáng, còn hương sào là một cây hương thật to, có thể thắp được suốt ngày đêm mới hết.

Ta cúng gia tiên lúc chiều 30 Tết, bởi vậy, lúc cúng giao thừa, ta không cúng gia tiên nữa.

Cùng với lễ cúng gia tiên, lẽ tất nhiên phải có cúng Thổ công.

Cúng gia tiên 30 Tết, sáng ngày mồng một cũng lại cúng. Và trong mấy ngày Tết cho đến khi hóa vàng, ngày hai buổi có lễ cúng gia tiên.

o Văn khấn gia tiên

Tục cúng tổ tiên cũng phải có văn khấn, như cúng Thổ công và cúng giao thừa. Dưới đây là một mẫu văn khấn tổ tiên trong ngày Tết thuở xưa:

“Duy Đại Việt Đinh Mùi niên, xuân thiên, chính nguyệt sơ nhất nhật Kim thần phụng sự Đàm Sĩ Nguyên, sinh quán Quất Động xã, Thường Tín phủ, Hà Đông tỉnh, toàn gia cư ngụ Tân Son Nhì xã, Tân Bình quận, Gia Định tỉnh, đồng gia quyến đẳng, khể thủ, đốn thủ bách bái.

Cẩn dĩ hương đăng, kim ngân hoa quả, mâm bàn cụ vật, phù lưu thanh chước, thứ phẩm chi nghi cảm kiền cáo vu.

Cung thỉnh:

Đàm môn lịch đại tổ tiên, tự cao, tằng, tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, tổ khảo, tổ tỷ, hiển khảo, hiển tỷ, thúc, bá, đệ, huynh, cô dì, tỷ, muội đồng lai lâm chứng giám.

Ngưỡng vọng

Bảo hộ gia đình, tự lão chí ấu, hạnh phúc an khang, vạn sự hanh thông, nhân tăng vật vượng.

Thượng hưởng”

LƯỢC DỊCH

“Nước Đại Việt, năm Đinh Mùi, tiết xuân ngày mồng một tháng Giêng.

Nay con giữ việc phụng thờ tên là Đàm Sĩ Nguyên, quán tại xã Quất Động phủ

Thường Tín, tỉnh Hà Đông, hiện nay toàn gia cư trú tại Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định, đồng gia quyến cúi đầu trăm bái.

Kính cẩn có hương đèn, vàng bạc, hoa quả, cỗ bàn, rượu nước, trầu cau cùng mọi phẩm vật dâng lên.

Kính mời các cụ họ Đàm, kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, anh, em, cô, dì, chị, em cùng về chứng giám.

Giám mong:

Tiên tổ bảo hộ gia đình, từ già đến trẻ, hạnh phúc an khang, vạn sự hanh thông, người tăng vật vượng.

Thượng hưởng”

Người gia trưởng khấn lễ tổ tiên xong, toàn thể người nhà đều lần lượt theo thứ bậc tới lễ trước bàn thờ. Trong lúc đó đến đón mừng tổ tiên về cùng con cháu. Mùi khói pháo quyện với mùi hương khói khiến cảnh Tết càng đượm vẻ tưng bừng trong sự thân mật, đầm ấm.

o Chúc Tết

Sáng ngày mồng một, các cụ sau khi đã làm lễ tổ tiên xong, ngồi ở nhà thờ

để con cháu tới lạy mừng chúc Tết. Con cháu chúc các cụ một năm mạnh khỏe bình yên khang thái. Các cụ cũng chúc lại con cháu những điều tốt đẹp.

Trong lúc chúc Tết các cụ, con cháu thường dâng các cụ hoặc một món quà Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 108

Tết như bánh trái, hoặc một món tiền đặt trong một bao giấy hồng. Tiền này gọi là “tiền mở hàng” đem may mắn lại cho các cụ.

Các cụ cũng mở hàng lại cho con cháu. Tiền mở hàng của cụ cho con cháu gọi là tiền mừng tuổi (lì xì).

Giàu nghèo các cụ cũng mừng tuổi cho con cháu, giàu thì nhiều tiền, nghèo cũng mừng tuổi tượng trưng một vài đồng tiền để cho con cháu được gặp tốt đẹp quanh năm.

Tại các xã, các cụ được đại diện dân làng mừng tuổi chúc Tết ngay tại đình, sau buổi lễ cùng đức thần linh sáng ngày mồng một. Trước người ta có những bài chúc Tết riêng trong những dịp này:

“Năm cũ đã qua,

Năm mới đã đến,

Bước vào đình trung,

Tôi xin kính chúc:

Trước tôi chúc thánh cung vạn tuế, tại thượng dương dương, bảo quốc hộ dân, lưu ân, tích phúc.

Tôi lại chúc kỳ lão sống tám chín mươi, thêm thọ.

Tôi lại chúc quan viên trùm lão, niên tăng, phú quý, nhập trưởng vinh hoa.

Tôi lại chúc quan lại binh viên ta đột pháo xông tên, công thành danh toại.

Tôi lại chúc đồng trang thượng hạ, già sức khỏe, trẻ bình yên, nhà no người đủ... ”

Trên đây là lời chúc Tết chung tại đình làng, tại các thôn xóm, các phường, dân chúng cũng có họp nhau để cùng chúc

Tết các ông trùm phường, đây là các phường buôn bán, các phường nghề

nghiệp và các thủ chỉ thôn cũng như mọi người đồng thôn đồng phường.

o Chúc Tết vọng

Thuở xưa, tại triều đình, nhân ngày Nguyên Đán, các quan đại thần họp nhau lại chúc Tết nhà vua. Tại các tỉnh, các quan tỉnh cũng cùng nhau họp tại vọng 109

cung để chúc Tết vọng nhà vua.

Đối với những người ở xa xôi không về tận nhà, đến tận nơi chúc Tết được, người ta thường dùng thư để chúc Tết, đây cũng là một lối chúc vọng, như

ngày nay người ta dùng thiếp gửi cho nhau để chúc mừng năm mới vậy.

o Tục mừng tuổi

Với năm mới, người ta thêm một tuổi. Đó là một điều đáng mừng: đối với người già là tăng thêm tuổi thọ, đối với các em bé là thêm tuổi để thêm lớn.

Bởi vậy, như trên đã trình bày, trong lúc chúc Tết người ta có lệ “mừng tuổi”.

Tiền mừng tuổi phong bao trong những giấy hồng, bao giờ cũng có tiền lẻ

có ý là tiền đó sinh sôi nảy nở thêm nhiều.

Tiền mừng tuổi còn gọi là “tiền mở hàng để lấy may”. Bạn bè gặp nhau cũng thường “mở hàng” cho nhau để lấy may mắn.

Tiền mở hàng, người ta thường giữ cất đi, ít khi lấy ra tiêu dùng, trừ trường hợp bất đắc dĩ.

Trong Nam mừng tuổi các trẻ em gọi là lì xì.

Ngày Tết các chú các cô dì thường mừng tuổi cho các cháu, và những khi tới nhà một người bạn chúc Tết, có trẻ nhỏ người ta cũng thường mừng tuổi cho các em, hay khi một người bạn tới nhà mình chúc Tết, có em nhỏ đi theo, chủ nhà thường mừng tuổi cho các em nhỏ, mừng tuổi để em hay ăn chóng lớn, học hành thông minh, sáng láng, khỏe mạnh và ngoan ngoãn.

o Tục xông nhà

Tục này đã trình bày ở trên khi nói về mấy tục lệ trong đêm trừ tịch.

Trong trường hợp, người nhà không có ai tự xông nhà lấy, người ta phải kén người xông nhà. Người được kén là người “tốt vía” là đàn ông nhanh nhẹn dễ dãi để sáng mồng một tới xông nhà, mang lại ảnh hưởng tốt đẹp cho nhà chủ quanh năm.

Người đến xông nhà, chúc tụng nhà chủ những điều may mắn quanh năm.

Nhà chủ cũng chúc tụng lại khách xông nhà và cảm ơn khách đã mang lại sự

may mắn cho nhà mình.

Xông nhà còn được gọi là “xông đất”. Nay không còn.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 110

o Tục xuất hành

Tục này cũng đã trình bày ở trên về tục lệ đêm trừ tịch, nhưng có nhiều người không xuất hành vào đêm trừ tịch, mà người ta còn kén ngày kén giờ.

Những người làm ăn quanh năm phải ra đi, nhân ngày Tết thường chọn ngày giờ để xuất hành và thường người ta đi ra khỏi đất làng xã mình, hay ít nhất cũng ra khỏi thôn mình.

Người ta chọn hướng, theo quan niệm cũ, mỗi năm chỉ có một hướng hợp.

Ra đi theo hướng tốt bằng một lối và lúc trở về làng mình lại theo một lối khác.

Không ai xuất hành nghịch hướng vì e gặp sự không may mắn trong năm.

Người ta lại kén ngày kén giờ, vì trong ba ngày đầu năm có ngày xấu, có ngày tốt, và một ngày có giờ xấu có giờ tốt. Người kiêng kỹ chỉ xuất hành nhằm hôm tốt ngày vào giờ hoàng đạo.

Trong một làng, thường thường dân làng theo một hướng xuất hành, cùng đi trên một nẻo đường. Họ gặp nhau vui vẻ lắm, chúc tụng lẫn nhau, nói nói cười cười, áo quần xúng xính.

Đi xuất hành, người ta đồng thời hái lộc như đã nói ở trên. Đến nay hiện tượng này hầu như không còn.

o Lễ Tết

Dân ta thờ phụng tổ tiên. Người ta thờ phụng tổ tiên nhà mình, lại tôn trọng cả tổ tiên người khác. Nhân ngày Tết, người ta đến nhà nhau, trước là để lễ Tết, sau là để chúc tụng lẫn nhau.

Việc lễ Tết các cụ là một việc rất hệ trọng. Ngày Tết, các cụ đi lễ hết các nhà họ xa họ gần trong làng, và khắp hết các nhà lân bang hàng xóm. Các cụ đi không hết, các cụ cắt con cháu đi thay.

Đừng ai tưởng đi lễ Tết như vậy là nhẹ nhàng. Rất mệt. Thuở xưa đến mỗi nhà phải trước bàn thờ bốn lễ, ba vái, phải lên gối, xuống gối cúi đầu. Có nhiều nhà có ông bà mới mất, thờ riêng một bàn thờ, khách đến lễ Tết phải lễ cả bàn thờ này. Đi lễ như vậy, đi suốt buổi, khắp họ hàng bè bạn, hàng ngày phải “lên gối xuống gối” mấy trăm lần. Tới mỗi nhà lại chúc Tết nói 111

chuyện, ăn trầu uống nước. Có nhà lại ép mời khách nếm bánh chưng, xơi chè bánh nóng, mứt kẹo do nhà làm ra. Khách không dám từ chối vì sợ làm

“giông” chủ nhà.

Người mỏi mệt vì lễ bái, bụng luôn no vì ăn uống, môi cắn chỉ vì nhai trầu.

Lại thêm suốt ngày phải bận quần áo chỉnh tề, khăn đóng áo dài, chân đi giày đi dép. Tuy vậy, vẫn không ai nhãng việc Tết. Đây là một bổn phận đối với họ hàng bè bạn. Người ta đến lễ tổ tiên mình, mình phải đáp lễ.

Đi lễ Tết không như ngày nay đi chúc Tết ở thành thị. Ở thành thị, bây giờ

người ta đến chúc Tết nhau vì xã giao, còn xưa kia, mục đích chính của việc đi chúc Tết là lễ Tết trước rồi mới chúc Tết sau.

Con rể đến lễ Tết nhà bố mẹ vợ, học trò đến lễ Tết nhà thầy, người dưới đến lễ Tết nhà người trên, kẻ hàm ơn đến lễ Tết nhà người đã ra ơn cho mình...

o Khai bút

Nhà văn, nhà thơ thường có lệ khai bút đầu năm vào ngày Nguyên Đán.

Các văn nhân, thi sĩ sẵn sàng son mực bút nghiên giấy tờ, đốt bình trầm trước án thư kén giờ hoàng đạo khai bút viết văn làm thơ.

Thơ làm xong, gặp có khách đến nhà hoặc khi đến bạn hữu chúc Tết, người nọ đọc cho người kia nghe rồi cùng ngâm vịnh.

o Chơi cành đào

Hoa đào màu đỏ nhạt rất hợp với cảnh xuân. Ngày Tết người ta thường kén hoa đào để cắm ở trong nhà. Tục còn tin rằng đào trừ được ma quỉ do tích cũ đã lưu truyền.

o Của vào như nước

Nhân ngày mồng một Tết, tại các thành thị cũng như thôn quê, thuở xưa thường có những người đi gánh nước thuê, gánh nước tới đổ vào mọi nhà và chúc những nhà này quanh năm làm ăn phát đạt “của vào như nước”.

Gia chủ vui vẻ mở hàng cho người gánh nước một món tiền gấp mấy lần ngày thường và cũng mong của sẽ vào như nước quanh năm như lời chúc tụng của người gánh nước.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 112

o "Giông"

“Giông” theo quan niệm người xưa nghĩa là gặp sự không may quanh năm.

Ngày đầu năm người ta tránh mọi sự có thể “giông”.

Đứa trẻ phải ngoan ngoãn kẻo phải mắng, phải đòn, “bị giông” sẽ phải mắng, phải đòn quanh năm.

Người lớn phải giữ gìn trong mọi cử chỉ, luôn luôn vui vẻ để quanh năm vui vẻ, không cau có, giận dữ sợ “bị giông” sẽ cau có giận dữ suốt năm.

Tóm lại, người ta tránh tất cả những cái gì có thể là một điềm gở đem lại sự

không may quanh năm, nghĩa là tránh để khỏi bị “giông”. Ngày nay không còn lối nghĩ ấy.

o Kiêng quét nhà

Trong ngày Nguyên Đán, người ta kiêng quét nhà, và nếu nhà cửa có bẩn quá, người ta chỉ quét sơ. Vun rác vào một xó, đợi ra ngoài ngày rồi mới đem đổ.

Tục này do ở trong Sưu Thần Ký về sự tích thần Tài mà ra. Nay không còn.

o Những điều kiêng khác

Ngày Tết còn rất nhiều điều kiêng cữ theo thói tục cũ, như: Kiêng mặc áo trắng, e có điều tang tóc.

Kiêng nói tiếng “khỉ” e làm ăn xúi quẩy.

Kiêng nói những điều tục tĩu, kiêng nhắc tới những chuyện chết chóc v.v...

o Hóa vàng

Sau ba ngày Tết, sáng mồng bốn, người ta cúng tiễn các cụ và “hóa vàng”.

Bao nhiêu vàng đã cúng trong ngày Tết, do người gia trưởng mua hay do con cháu và các ngành thứ đem gửi Tết đều được đem đốt sau tuần cúng tiễn các cụ.

Những nghìn vàng dành riêng cho người mới chết trong năm qua sẽ được hóa riêng một đống.

Khi vàng hóa gần hết, người ta đổ vào những đống tro vàng, mỗi đống một 113

chén rượu cúng. Tục tin rằng có như vậy ở dưới cõi âm các cụ mới “nhận”

được vàng, và vàng mã mới biến thành vàng tiêu được ở nơi âm phủ.

Rồi người ta đem hai cây mía đã mua trong năm và đã để thờ trong ba ngày Tết ra hơ trên những đống tàn vàng còn đang đỏ ối.

Hai cây mía đó, theo tín ngưỡng xưa, người ta bảo là gậy của các cụ. Các cụ

sẽ dùng hai cây mía này để “gánh” vàng về cõi âm, và cũng dùng làm khí giới chống lại bọn quỉ sứ muốn ăn cướp vàng.

Lễ “hóa vàng” chấm dứt ngày Tết tại các gia đình. Trong buổi cúng tiễn các cụ ngày mồng bốn, các con cháu thường tề tựu tại nhà gia trưởng, và sau lễ

“hóa vàng” họ cùng nhau ăn uống để kết thúc ngày Tết. Sau bữa cơm hóa vàng này, những con cháu làm ăn nơi xa lại ai đi phương nấy.

Ngày nay, một số nơi còn giữ tục này thì thường người ta hóa vàng sớm hơn, nhất là tại các đô thị, rất ít nhà cúng các cụ cho hết mấy ngày Tết.

o Viếng mộ đầu xuân

Có nơi thay vì đi thăm mộ trước Tết, người ta đợi đầu xuân sau khi hóa vàng tiễn các cụ, mới cùng nhau đi viếng mộ.

Ở làng Thị Cầu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, có lệ đi viếng mộ vào ngày mồng bốn tháng Giêng.

Sáng hôm đó, mọi nhà trong làng đều làm lễ gia tiên từ sáng sớm. Sau cuộc lễ, có hóa vàng đốt pháo rồi nhà nhà đều rủ nhau đi thăm mộ.

Phần đông gia đình, già trẻ lớn bé đều đi viếng mộ hết. Gia đình nào cũng mang theo hương để cắm lên mộ, mang theo vàng lá để đốt tại mộ, và nhất là mang theo cuốc xẻng đi đắp lại các nấm mộ cho cao, vun lại các nấm mộ

cho đẹp, đánh nhổ hết những khóm cây dại mọc lấn vào mộ.

Ở nghĩa địa đủ nam phụ lão ấu với áo màu sặc sỡ của ngày xuân.

Thăm mộ là một tục rất đẹp và có ý nghĩa. Tục này còn, gia đình còn và con người sẽ không bao giờ “mất gốc”.

Tết Nguyên Đán là Tết trọng đại nhất trong năm. Với Tết này không những người ta thêm tuổi mà chính là một dịp để có sự đoàn tụ toàn thể gia đình sau một năm mỗi người mỗi ngả. Cũng là dịp để nhớ lại công đức tổ tiên đã Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 114

tạo dựng nên trong mỗi gia đình.

Phần II: NGÀY TẾT CỦA CÁC DÂN TỘC TRONG ĐẠI GIA ĐÌNH VIỆT

NAM

I.

NGÀY TẾT CỦA ĐỒNG BÀO THƯỢNG MIỀN NAM[5]

Mỗi độ xuân về chúng ta lại đón mừng một năm mới. Xuân tưng bừng đến, lòng người rộn rã vui, cầu chúc cho nhau những điều may mắn. Bao nhiêu những điều không tốt đẹp đã lui trở lại với năm cũ để cho năm mới được tinh hảo, đem lại cho con người toàn những niềm hy vọng.

Trong lúc chúng ta mừng xuân, chúng ta cũng nên tìm hiểu xuân của một số dân tộc anh em chúng ta, đồng bào Thượng, mà gần đây một số các nhà nhân chủng học đã xác nhận đồng nguồn gốc với chúng ta.

Chúng ta ăn Tết, đón xuân, các sắc dân đồng bào Thượng cũng mỗi năm một dịp mừng xuân mới, tùy theo phong tục từng sắc dân. Xuân và Tết của các đồng bào này nhiều khi không cùng đến với xuân và Tết của chúng ta, đến sớm hơn hoặc đến muộn hơn, tuy từng địa phương, nhưng sớm muộn họ đều coi đó là một dịp ăn mừng trong năm.

Ở đây tôi chỉ đề cập tới ít điều sơ lược của vài ba sắc tộc. Chính ra muốn nói đầy đủ về Tết của các đồng bào Thượng phải một tập sách dày mấy trăm trang mới mong trình bày được hết. Việc làm này, xin thú thực tôi không làm nổi và xin dành riêng cho các nhà nhân chủng học, ở đây tôi chỉ muốn nhân dịp nói tới Tết Nguyên Đán của người Kinh, tôi không quên các đồng bào Thượng.

Tôi xin bắt đầu bằng một số ít các sắc tộc miền Nam.

[ 5] Người Thượng, hay đồng bào sắc tộc, là danh từ được dùng tại miền Nam trước năm 1975, gọi chung những nhóm sắc tộc thiểu số sinh sống trên cao nguyên miền trung. Ngày nay chúng ta gọi là người dân tộc thiểu số. trong tập sách này, chúng tôi giữ nguyên văn cách dùng từ của tác giả.

o Tết của người Koho

Người Koho là một sắc dân ở Cao nguyên Trung bộ, tập trung nhiều nhất tại tỉnh Lâm Đồng.

Người Koho không ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh. Tết của họ đến sau Tết Nguyên Đán một tháng và gọi là Tết Lir bong, tức là Tết Mừng lúa về.

Tết này bắt đầu vào khoảng tháng Ba dương lịch và kéo dài hàng tháng.

Dân Koho đón mừng ngày Tết một cách thảnh thơi. Lúa họ vừa gặt xong, việc canh nông đã chấm dứt. Họ tha hồ nhàn rỗi, chờ đợi mùa xuân để cày cấy vụ sắp tới.

Ý nghĩa Tết Mừng lúa về là để dân chúng hân hoan vui sướng sau khi đã đóng kho lúa lại. Hai chữ “Lir bong” nghĩa đen là “bịt cót thóc”, vậy mừng lúa về là mừng thóc đã đóng vào trong cót. Ăn Tết Lir bong, người Koho mừng vì kết quả thu hoạch được và tỏ lòng cảm ơn Thượng đế YANG (theo quan niệm của họ) vì đã ban ơn cho họ, cho mưa thuận gió hòa để họ có thóc lúa sinh sống quanh năm.

Đối với người Koho, thóc lúa quý lắm. Toàn dân họ sống về nghề nông.

Thóc lúa là căn bản, nên để cảm ơn YANG đã ban ơn cho họ, họ không tiếc các sinh vật. Họ giết trâu, lợn, dê, gà để tạ ơn đức YANG. Họ cúng rẫy, cúng ruộng, cúng gieo hạt và khi lúa lên họ cúng “dưỡng lúa” để cây lúa khỏe mạnh. Lúc lúa gặt về tất nhiên họ phải cúng “Mừng lúa về”.

Để tổ chức Tết Lir bong, sau khi thóc đã đóng cót, dân làng tụ họp dưới sự chủ tọa của các bô lão để tổ chức ngày Tết. Trước hết họ rào làng cho kín để tránh sự cướp bóc, rồi họ sửa sang đường sá, sửa sang các giếng trong làng, trồng cây nêu v.v... Sau đó họ họp nhau lại để ấn định ngày chính thức khai lễ. Họ cắt đặt người đi mời các bạn bè quan khách tới khai lễ. Thanh niên trong làng chuẩn bị chuông, trống, kèn, sáo để sẵn sàng làm lễ.

Đến ngày lễ đã được ấn định, lễ sẽ được khai mạc theo tục lệ vào buổi chiều khi mặt trời đã lặn. Họ tiếp rước quan khách, họ hàng bè bạn bằng những hồi chiêng trống rầm rộ. Mọi người được xếp ngồi theo thứ bậc thành hàng lối. Chiêng trống rung đổ hồi, cho tới khi mọi người an tọa mới tạm ngưng.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 116

Lúc đó vị chủ tế, thường là chủ gia đình, đứng giữa đám đông đốt hương, bắt gà vịt, dê lợn đặt dưới bàn thờ. Sau đó họ mời quan khách cùng hướng về phía bàn thờ cầu nguyện đức YANG, đại ý:

“Khẩn cầu Thượng đế nhận lời cảm tạ của mọi người. Thượng đế đã ban phúc cho dân làng, dân làng có thóc lúa ăn quanh năm, sức khỏe được dồi dào để làm việc nhiều hơn ngõ hầu mùa sau, kết quả lại tốt đẹp hơn nữa”

Lời cầu nguyện xong, chủ tế chém con vật hy sinh, lấy huyết nó vẩy lên nhà cửa, các cót thóc, các giạ lúa, các vò rượu.

Rồi các sinh vật được ngả ra làm cỗ dân làng đãi khách và cùng ăn. Suốt đêm tiếng chiêng, trống, thanh la, kèn, sáo vang lừng lẫn vào trong tiếng hát.

Lễ này được cử hành tại tất cả các gia đình cùng trong một đêm. Trong các thôn xã Koho đêm đó thật là ầm ĩ, vui vẻ. Họ tin tưởng vào YANG đã phù hộ cho họ và sẽ phù hộ cho họ mãi mãi.

Sau lễ cúng tại gia đình, họ kéo nhau từ nhà này qua nhà khác để ăn uống vui chung cho tới sáng.

Khách lạ họ gặp trong đêm này, họ tin là mang may mắn tới cho dân làng họ, cho nên ra đường, nếu họ gặp được người khách lạ, họ sẽ hân hoan cố

mời sao cho được người đó vào dự tiệc với dân làng. Người khách sẽ được đón tiếp nồng hậu trịnh trọng lắm. Họ cố lưu người khách lại càng lâu càng hay.

Người khách sau khi vui chơi tại nhà người chủ đã mời mình, sẽ được mời tới các nhà khác để vui chơi ăn uống. Có thể khách sẽ được mời đi khắp thôn bản. ở nhà nào khách cũng được quý trọng, thỏa thích ăn uống.

Trong thời gian Tết Lir bong, nếu khách muốn ra về, khách phải trở lại nhà người chủ đã mời mình lúc đầu để cảm ơn và từ giã, khách không thể rút lui khi đang ở một nhà khác.

Ngày cuối cùng của Tết Mừng lúa mới, mỗi gia đình trở lại làm lễ cầu nguyện riêng với Thượng đế YANG.

Sau ngày này dân làng lại bắt tay làm việc.

Tết Mừng lúa mới được tổ chức hàng năm. Ngoài Tết này, cứ bảy năm 117

đồng bào Koho lại tổ chức một ngày đại lễ, đại lễ này không cử hành vào một ngày nhất định nào. Tới năm có đại lễ dân làng mới họp để ấn định ngày cụ thể.

o Tết của đồng bào Thượng Di Linh

Đối với đồng bào Thượng Di Linh, một năm không nhất định bao nhiêu ngày. Đối với họ năm trở lại với mùa lúa. Họ không biết ngày nào nhất định là năm mới trở về, ngày Tết với họ, thay đổi từ làng này sang làng khác: sự

thay đổi này khiến họ có thể dự Tết ở nhiều nơi, tại các nhà bạn bè họ hàng.

Trong một làng, dân làng hàng năm hội họp để cùng ấn định ngày Tết.

Tết là một lễ hoàn toàn gia đình, mỗi nghi lễ đều chỉ tổ chức trong phạm vi nhà cửa và vựa thóc. Người gia trưởng chủ tọa mọi cuộc lễ, họ hàng thân cận đều tham dự. Bà nội trợ phải lo sao cho đủ cỗ bàn mời khách khứa của gia trưởng.

Buổi chiều hôm đầu tiên, cả nhà tụ họp dưới vựa thóc, nơi đây đã được các bà các cô dọn dẹp sạch sẽ, xếp gọn mọi đồ đạc rồi. Chiếu đã được trải xuống đất. Một chum rượu cần đã sẵn sàng.

Trong lúc đó, người con rể của gia đình đi giết lợn, dùng dao nhọn đâm vào dưới bả vai con lợn. Con lợn được đem thui ngay, ruột gan đựng riêng để cúng thần.

Đêm xuống. Trong vựa thóc chỉ còn được soi sáng bằng lò lửa thui lợn.

Cuộc lễ bắt đầu. Gia trưởng cầm chiếc cần uống rượu đưa qua hết mọi người trong gia đình để cùng cầu nguyện thần linh bằng điệu hát đều đều.

Cầu nguyện xong, các vị thần linh coi như đã hưởng rượu, xôi, lòng gan con lợn, lúc ấy gia trưởng cắm cần rượu vào chum rượu, rồi bắt đầu uống rượu, sau đó tới lượt các người khác, bắt đầu từ những người đáng tôn trọng nhất trong nhà.

Lễ ở dưới vựa thóc lúc này đã xong. Đến lượt lễ trên vựa thóc. Gia trưởng và mọi người leo ngồi trên đỉnh vựa thóc. Sự kiện leo từ dưới lên trên vựa thóc này là một dấu hiệu mừng ngày xuân mới.

Người gia trưởng quỳ trên đống thóc giống, đây cũng là một dấu hiệu Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 118

mừng xuân, cầu khấn và giết một con gà lấy máu vẩy trên thóc với thần linh để cho những hạt giống này sinh sôi nảy nở mau chóng để tránh những vụ

giáp hạt.

Sau đó, người này uống mấy bát rượu cần, và vẫn quỳ như vậy, đầu chấm mái nhà, gối quỳ trên hạt giống. Mọi người trong nhà cũng uống rượu theo, mỗi người vài bát.

Uống rượu xong, họ kéo nhau đi xuống. Người gia trưởng lấy một chiếc bát trộn lẫn trong đó một ít vỏ bàng, một ít dây leo, máu con gà đã cắt tiết, đất tổ mối và rượu, đoạn dùng chất trộn lẫn này để phết lên cót thóc, cột nhà, cửa vựa thóc và tường nhà. Đôi khi chất đó được phết lên người để lấy may. Đó là nghi lễ quan trọng của ngày Mừng lúa mới. Sau lễ này, mọi người rời khỏi vựa thóc để đi lên trên nhà.