Phần III: LÀM NHÀ CỬAPhần 13
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Tục ngữ ta có câu: Sống nhờ nhà, chết nhờ mồ.
Sống phải có nhà ở cũng như chết phải có mồ chôn. Vấn đề nhà ở là một vấn đề quan trọng đối với dân ta. Một gia đình phải có ít nhất một ngôi nhà để ông bà, cha mẹ, anh em, con cái ở. Sống vô gia cư, sống không có nhà ở, là một điều bất hạnh cũng giống như tử vô địa táng.
Những cặp vợ chồng trẻ, ngay từ khi mới lấy nhau, tuy ở chung với cha mẹ, nếu không là con trưởng, cặp nào cũng nghĩ đến một ngôi nhà riêng của mình.
Một ngôi nhà với một tấm lòng vàng, bất cứ ai bắt đầu xây tổ uyên ương mà không mong ước như vậy.
Ngôi nhà liên quan mật thiết tới đời sống con người. Người bạ đâu là nhà, ngả đâu là giường, sống không có một thước đất cắm dùi là người rất đáng thương hại trong xã hội ta.
Nghèo đến đâu, người bần cùng lắm cũng phải có một túp lều để ở, dù đấy chỉ là túp lều tranh vách đất. Ban ngày đi xa về gần, muốn làm lụng công việc gì thì làm, tối cũng phải có nơi để trở về quây quần với gia đình, để nghỉ
ngơi lúc đêm hôm.
Có một ngôi nhà, nhưng một ngôi nhà thường được kén chọn, xây cất qua biết bao tục lệ.
o Kén đất chọn hướng
Tục lệ ta tin về phong thủy không những chỉ chi phối việc để mồ mả mà còn chi phối cả về việc xây cất nhà cửa nữa.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 74
Trong việc xây cất nhà cửa, cần kén một miếng đất, và miếng đất này gọi là dương cơ.
Thứ nhất dương cơ, thứ nhì mồ mả.
Ta vẫn thận trọng trong việc để mồ mả, trong việc xây cất nhà cửa, việc kén đất ta càng thận trọng hơn, các cụ thường đặt dương cơ trên mồ mả, các cụ vẫn nói nhất dương thắng thập âm, nghĩa là một ngôi nhà đúng đất, đúng hướng bằng mười ngôi mộ phát. Các cụ thường nhắc lại chuyện những người thất cơ lỡ vận chỉ vì ở một ngôi nhà không hợp với mình, cũng như
chuyện bao nhiêu người làm ăn phát đạt vì ở một ngôi nhà đúng đất, đúng hướng.
Chọn đất, chọn hướng là cần thiết, nhưng trước khi làm nhà, người ta còn xem tuổi để biết tuổi có hợp với việc xây cất và có hợp với hướng đã kén không, nếu không được tuổi làm nhà phải đợi năm khác.
Đất thường chọn nơi cao ráo có thể lợi dụng được cái khí của trời đất, núi sông, nhưng cùng với một dương cơ tốt, hướng nhà phải hợp với lẽ âm dương thuận nghịch.
Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam, hướng Nam đối với ngôi nhà là một sự cần thiết dĩ nhiên, cũng như khi lấy vợ tất nhiên phải lấy một người đàn bà. Hướng Nam được coi là tốt vì đón gió Nam mát mẻ, tuy vậy nhiều khi cũng còn tùy địa thế ngôi nhà.
Hướng nhà, dương cơ và tuổi người phải sao cho hợp với lý tam tài phối hợp của người xưa, tức là sự hòa hợp giữa Đất, Trời và Người vậy.
Phải tránh góc ao đao đình, nếu góc ao đao đình chiếu thẳng vào nhà sẽ
có sự bất lợi. Cũng lại phải tránh những con đường đâm thẳng vào nhà.
Người xưa, trong trường hợp không tránh được những điều kiêng kỵ trên, thường chôn một con chó đá trước cửa, hoặc treo trên nhà một tấm gương, chôn bốn góc nhà bốn lọ thủy tinh hoặc vẽ bùa treo trước nhà hay trước cửa ngõ để yểm trừ ma quỉ tà khí. [4]
[4] Thạc Nhân, xã hội Việt Nam với vấn đề Gia tộc, xã hội Nguyệt san số 10, tháng 8-1966.
o Vật liệu xây cất
Đất đã chọn xong, hướng nhà đã định, tuổi đã hợp, việc làm nhà không còn điều gì trở ngại nữa. Giờ đây việc đầu tiên là phải sắm sửa vật liệu.
Vật liệu mua sắm tùy theo lối kiến trúc và cũng tùy theo sự xây cất. Nhà tranh vách đất, nhà tre, nhà gỗ, nhà gỗ lợp ngói, tường gạch mỗi lối nhà đều dùng vật liệu riêng.
Và vật liệu mua sắm cũng tùy thuộc kiểu nhà, kiểu nhà thay đổi tùy địa phương và tùy địa vị chủ nhân.
Chủ nhân có địa vị khá trong xã hội lại có tài chính dồi dào, lẽ tất nhiên ngôi nhà không giống ngôi nhà của một người tuy cũng có danh vọng nhưng tiền của ít, và do đó khác xa những ngôi nhà của người nghèo.
Một ngôi nhà xưa, khi cất nên lại cần phải hợp với luật lệ và tránh phạm vào những điều cấm kỵ bị trừng phạt:
Còn như việc cửa việc nhà,
Gỗ, tre, tranh, lá gọi là có thôi.
Nếu làm nhà ngói phải coi,
Đốc, đao, cấm ngặt, góc chòi cũng không.
Chữ môn cho chí chữ công,
Phạm vào phép nước tất không dung hoài.
Ở vùng quê, vật liệu xây dựng nhà thường là tre và gỗ, cũng có đôi khi dùng tới gạch ngói. Mái nhà lợp tranh, rơm rạ hay lá gồi nhiều hơn là lợp ngói.
Tường nhà thường là vách đất, đất vừa trộn với rơm rạ trét vào những sườn bằng tre hay nứa. Nền nhà là đất nện, đôi khi cũng có lát gạch, loại gạch rẻ
tiền.
Những nhà gạch lợp ngói thường nền lát gạch, có khi lát loại gạch hoa. Trong những năm gần đây, ở vùng quê nhiều nhà làm nền xi măng, tường vách bằng gỗ hoặc bằng đất trét hay đất đắp lên.
Dù nhà gạch hay nhà đất, xưa đều có cột, cột nhà bằng tre hoặc bằng gỗ.
Người ta thường dùng tre đực làm cột, và gỗ thường là gỗ xoan ở ngoài Bắc Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 76
và trong Nam là gỗ dầu. Nhiều nơi trong Nam thay tre bằng những cây tràm rất bền.
Mái nhà dựng lên trên tường và cột, có rui mè để giữ cho chắc, lại có những xà ngang bắc vào cột bằng những chiếc mộng, có đòn tay nâng đỡ.
Nhà tranh, vách đất thường không có móng.
Cột nhà, nhà tranh cũng như nhà ngói được kê trên những tản đá vuông hoặc tròn để tránh cho chân cột khỏi bị mục hoặc mối. Không có những tảng đá, người ta dùng những viên gạch xây chồng lên nhau.
Ngày nay, những vật liệu làm nhà, ngoài những thứ cổ điển xưa còn có tôn hay fibrociment để lợp mái thay ngói, lá, tranh và rơm rạ, có xi măng cốt sắt để làm cột. Những nhà xây cất theo kiểu mới chỉ dùng xi măng, gạch, không có đòn tay, xà như xưa.
o Kiến trúc nhà cửa
Khoa kiến trúc ngày nay, tại các nước Âu Tây cũng như tại các đô thị của ta, dựa trên khoa học, vật lý, hóa học và mỹ thuật để tạo nên những tiện nghi vật chất và tinh thần cho con người; Trái lại khoa tạo tác của ta xưa muốn đem lại sự yên ổn cho tâm hồn con người, nên các kiến trúc sư Viễn đông thời trước thường tìm cách lợi dụng cái khí của trời đất, núi sông hòa hợp với con người để hợp theo lý tam tài phối hợp như đã nói trên.
Thực vậy lối kiến trúc nhà cửa phương Đông, tức là có cả Việt Nam ta, không phải chỉ là công việc cấu tạo nên một ngôi nhà để lấy chỗ trú mưa, tránh nắng, dù ngôi nhà chỉ là một ngôi nhà lá, vách đất.
Cấu tạo nên một ngôi nhà, nhưng phải cấu tạo làm sao để ngôi nhà được nằm trong một khung cảnh thanh lịch, với cây cỏ dịu dàng biểu lộ được sự
yên tĩnh tâm hồn con người. Khung cảnh có khi tạo nên thi vị để tăng sự thư
thái cho tâm hồn.
Ở đây, tưởng cần nói thêm, dân chúng phương Đông, cả Việt Nam ta nữa, tin ở thần quyền, tin ở tài lực vạn năng của Đấng Tạo hóa, không bao giờ
dám ganh đua với tạo hóa, mà chỉ uốn mình dựa theo hoàn cảnh mà kiến trúc để tỏ sự phục tùng với Đấng Tối cao.
Ở đây có cái gì trái ngược với phương Tây. Ở phương Tây, con người muốn ganh đua cùng Tạo hóa, một công trình về kiến trúc, con người tự coi là một chiến thắng của mình đối với thiên nhiên. Con người phương Tây xây cao để
vươn lên, còn con người phương Đông chỉ dựng nhà cửa của mình không lên bề cao, mà chỉ cốt làm sao cho nhà cửa hòa hợp với khung cảnh thiên nhiên, tạo nên sự êm dịu cho cuộc sống.
Nếu người phương Tây muốn mỗi công trình kiến trúc của mình đều nổi bật trên khung cảnh của tạo hóa, thì người Đông phương lại mong những nhà cửa mình thuận với khung cảnh, những cây cỏ núi sông che chở cho ngôi nhà thêm ấm cúng, và như vậy tạo hóa sẽ phù trợ cho cuộc sống của mọi người trong gia đình.
Nhiều người ngoại quốc cho rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, nên trong lĩnh vực kiến trúc, người ta cũng nhìn thấy có cái gì đó là Trung Quốc tại Việt Nam. Nhận xét trên có thể là đúng và cũng có thể
là sai. Đúng vì Việt Nam đã du nhập văn hóa Trung Hoa, nhưng chúng ta đã Việt Nam hóa những cái gì chúng ta thu nhận.
Bề ngoài, nhà Việt Nam, nhất là những ngôi nhà sang trọng, có vẻ tương tự như nhà của người Trung Quốc, nhưng nhìn kỹ qua cái vẻ tương tự vẫn phảng phất cái gì khác biệt: sự khác biệt này chính ở chỗ ngôi nhà Trung Quốc đã bị Việt Nam hóa qua bàn tay kiến trúc của người Việt Nam, với cách xây cất, với vị trí định hướng cũng như với cách xếp đặt từ ngoài vào trong.
Nhà Việt Nam xưa có nhiều gian, nằm thành dãy, chia thành nhà trên, nhà ngang và nhà bếp. Những dãy nhà này vây chung quanh một sân rộng. Dãy nhà trên nằm ở giữa và có nhà thờ tổ tiên. Hai bên, chầu mặt vào nhau là hai dãy nhà ngang và nhà bếp.
Đằng sau nhà thường là vườn, đằng trước sân là ao: cổng đi vào nhà thường đi ở bên, cạnh dãy nhà ngang hoặc dãy nhà bếp, phía ngoài sân.
Người ta tránh cổng ngõ đi thẳng vào nhà giữa, nhất là vào gian nhà thờ, trung tâm của gia đình. Cũng có khi có những cửa mạch đi lối sau, hoặc thông sang những nhà bên cạnh của cha mẹ, anh em hoặc con cái.
Nếu nhà có bụi tre, bụi tre ở góc vườn hoặc ở bờ ao.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 78
Đống rơm cũng ở đằng sau vườn, cũng có nhiều nhà đánh đống rơm ở
cạnh hai chái nhà ở hai bên. Rơm này vừa dùng để đun, vừa để cho trâu bò ăn.
Trong công việc kiến trúc, người xưa trước hết dựng lên bốn cột cái của gian giữa cùng với đòn nóc, rồi mới đến cột cái và kèo các gian bên. Sau cùng là những cột phụ và cột hiên. Những cột kèo này, dù chỉ bằng gỗ hay bằng tre, được chằng chịt lấy nhau, hoặc bằng lạt hoặc bằng các mộng kèo, mộng cột thành một sườn nhà rất vững chãi.
Dựng xong sườn nhà mới đặt mái. Mái nhà có rui mè để giữ ngói, rơm, rạ
hay lá lợp lên trên. Người ta dùng lạt để buộc những con tranh, con rạ, tàu lá vào các mè của mái nhà. Rui mè làm bằng gỗ hoặc bằng tre, phần nhiều là tre ngâm, những cây tre đã được ngâm xuống nước một thời gian khá lâu để đủ tránh mối, mọt.
Sau khi đặt mái nhà là công việc lợp nhà. Nhà lợp ngói, rơm, rạ hay lá tùy khả năng tài chính của gia đình và cũng tùy hoàn cảnh địa phương, nơi nào tiện rơm thì dùng rơm, nơi nào nhiều lá gồi, lá dừa thì dùng lá.
Như trên đã trình bày, ngày nay ngoài ngói, rơm, rạ... người ta còn dùng tôn hay fibro-ximăng để lợp nhà.
Về ngói, xưa có nhiều loại: ngói âm dương, ngói mấu...
Nhà lợp bằng ngói, lớp mè thường dày, và người ta thường dùng dây kẽm để cột ngói vào mè, mặc dầu ngói đã có mấu để giữ nhau.
Cùng với việc đặt mái lợp nhà, là việc xây tường, dựng vách. Tường vách chỉ làm ba mặt còn mặt trước để trống vì khí hậu nóng nực Việt Nam.
Ở hai bên đầu hồi, cũng như ở những gian bên cạnh, tường, vách có thể
có cửa sổ. Gian chính giữa không bao giờ có cửa sổ ở đằng sau, nơi đây là nơi kê bàn thờ tổ tiên.
Mặt trước tuy không có tường vách, nhưng để che nắng, đỡ mưa, có kê những tấm dại, bằng gỗ hoặc tre, tùy theo nhà ngói lợp gỗ hay nhà tre lợp rơm rạ.
Những nhà gỗ có xây tường gạch, chỗ kê những tấm dại này là những 79
cửa lùa, cửa xếp, mỗi lần mở thì treo mành mành. Có khi có cửa liếp, ban ngày chống cao lên, tối hạ xuống. Hoặc nếu có che bằng dại, tấm dại này ban ngày cũng đẩy sang bên, tối mới đóng vào.
Gian giữa nhà là nơi tiếp khách, có kê một bộ trường kỷ ngay trước bàn thờ, có khi giữa bộ trường kỷ và bàn thờ có thêm chiếc sập.
Nhà ít nhất có ba gian, số gian nhà bao giờ cũng là số lẻ, tục ta tin nếu gian nhà số chẵn sẽ có một gian ở không tốt. Nhà ba gian thường có thêm hai chái.
Ở hai bên bàn thờ tổ tiên, có khi có kê những bàn thờ khác: bàn thờ Thổ
Công, Thánh Sư, Bà Cô, Ông Mãnh v.v... Trước những bàn thờ này thường có những bộ phản hoặc ghế ngựa, nơi ban ngày người nhà ngồi chơi, trò chuyện, ban đêm dùng làm chỗ ngủ cho đàn ông, và đấy cũng là nơi họ hàng ngồi ăn uống những khi giỗ chạp.
Ba gian nhà giữa, khi là nhà năm gian, thường có vách tường ngăn cách với hai gian đầu thường là buồng ngủ hoặc là nơi chứa đồ đạc thóc lúa.
Ở hai chái hai đầu, thường dùng đặt cối xay lúa, cối giã gạo hoặc là nơi để
cất những nông cụ ban đêm.
Trước nhà có một mái hiên, có khi chạy suốt cả mấy gian, có khi chỉ che ba gian nhà chính. Nhiều nhà thay mái hiên bằng một giàn hoa, thường là hoa lý vừa thơm vừa mát, cũng có khi là giàn hoa ớt, màu đỏ vàng rực rỡ.
Những nhà gạch, hoặc những nhà tre khi xây hoặc đắp tường thường có đào móng để giữ cho vững. Tục ngữ có câu: Nhà không móng như bóng không người
Nhà phải có móng thì tường mới chắc.
Cũng nên nói thêm, nhiều nhà thường có vườn hoa ở đằng trước, còn vườn đằng sau thường trồng cây ăn quả hoặc trồng rau:
Nhà anh có dãy vườn hoa,
Có thêm dãy nhãn với ba dãy dừa.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 80
o Cổng ngõ
Nhà phải có cổng ngõ ra vào. Nhà không cổng thông thống trông vào.
Cổng có kiến trúc riêng và thay đổi tùy theo nhà ngói hay nhà tranh. Người xưa rất chú trọng tới việc xây cổng ngõ như mặt của ngôi nhà.
Lối làm nhà của ta chịu ảnh hưởng của người Trung Quốc, và khi ta làm nhà, ta thường theo phương pháp của vị tổ sư nghề thợ mộc xưa là Lỗ Ban.
Phương pháp này có mấy điểm đặc biệt về cổng ngõ.
1. Ván cửa nhiều kẽ hoặc bị thủng bất lợi: tiền của trong nhà ra đi. Phải sửa chữa lại cho kín đáo để tránh sự bần hàn;
2. Vách thủng hư, ngói rơi rớt, trong nhà thường không vui; 3. Vách bên phải mỏng, vách bên trái dày, thay đổi vợ chồng, nhà gặp kiện tụng. Bên phải dày, bên trái mỏng, con cái sẽ mồ côi bần khổ. Hai bên vách cổng phải đều nhau;
4. Cửa ngõ cao hơn nhà chính, đời sau tuyệt tự; cửa cao hơn vách, người hay có việc buồn.
Qua mấy điểm đặc biệt về cổng ngõ của phương pháp Lỗ Ban, ta thấy vị
tổ sư của nghề thợ mộc đã áp dụng thuyết tam vật đồng thể của phương Đông.
Cổng ngõ hư thủng do người bên trong không để tâm săn sóc gìn giữ, như vậy trộm cướp có thể dòm ngó. Người bên trong đây gồm cả cha mẹ
lẫn con cái, đều chỉ lo ăn chơi, không nghĩ gì đến nhà cửa, như vậy của cải trong nhà chẳng ra đi sao được?
Vách cửa lệch lạc tức là tâm người không chỉnh, dễ có sự đổi thay, và dễ
sinh tà ác để phải đi tới chốn tụng đình.
Cửa cao hơn nhà, con người có tâm kiêu ngạo, hay khoe khoang, coi thường bên trong. Ăn ở như vậy, ai có thể sống chung nổi, nạn tuyệt hậu do đó mà ra.
Cửa cao hơn vách là chuộng xa hoa, kiêu sa thường đưa tới hậu quả đau buồn.
Làm nhà, cẩn thận nơi nhà chính đã đành, nhưng cũng không nên cẩu thả
trong việc xây cất cổng ngõ. Cổng phải xứng với nhà, cũng như bộ mặt xứng với con người.
Người xưa kiêng cổng đi thẳng vào trong nhà như trên đã nói, và trong khi kén đất chọn hướng trước khi xây cất nên ngôi nhà, người ta đã nghĩ đến việc đặt cổng ngõ. Trong những trường hợp vì địa thế miếng đất, không thể
tránh cổng soi thẳng vào nhà, người ta thường xây tường hoa với bình phong để che cánh cổng với nhà, và để đường đi phải vòng theo tường hoa, không ăn thông thống hẳn vào nhà chính.
Nhân nói về cổng, ta nhận thấy cổng ngõ tại Việt nam có sự thay đổi từ
miền Bắc, qua miền Trung vào miền Nam.
Ở miền Bắc, nhà nào cũng có cổng. Cổng có khi xây, có khi chỉ là một tấm liếp dựng lên ban ngày và đóng xuống ban đêm gọi là cổng tán. Có khi cổng là hai cánh cửa ăn vào tường để đóng mở cho dễ.
Bên trong cổng có mái lợp ngói. Có cổng có gác, và ban đêm có nhà có người ngủ trên gác cổng để canh phòng trộm cắp.
Miền Trung từ Huế trở ra cũng có cổng. Tại Huế nhiều nhà xây cổng rất đẹp, tuân theo mấy nguyên tắc của Lỗ Ban nói trên.