Phần IV: TẾT HÀN THỰCPhần 19

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Tết Hàn thực vào ngày mồng ba tháng Ba âm lịch. “Hàn thực” là ăn đồ lạnh.

Tết này nguyên cũng là Tết của người Trung Hoa, và đã được truyền sang Việt Nam đã lâu.

o Nguồn gốc Tết Hàn thực

Nguyên về đời Xuân Thu vào năm 654 trước Công nguyên tại nước Tần, một nước chư hầu của nhà Chu có loạn. Vua Văn Công nhà Tấn, lúc đó là Công tử Trùng Nhĩ phải rời khỏi nước Tấn đi lánh nạn. Cùng đi theo với Trùng Nhĩ có một số các bầy tôi tòng vong trong số đó có Giới Tử Thôi. Mấy chúa tôi long đong chạy khắp nước này qua nước khác, đầu tiên sang nước Địch, rồi trốn đi qua nước Vệ, tới nước Tề, lại sang nước Sở, suốt 19 năm trời lận đận, nhiều lúc thật là khổ sở. Một ngày kia, nửa đường bị thiếu lương thực, đói quá, không kiếm được đâu ra thức ăn. Giới Tử Thôi liền cắt thịt đùi mình nấu nướng dâng cho chúa. Trùng Nhĩ ăn xong hỏi ra mới biết, rất lấy làm thương Tử Thôi đã hy sinh cho mình.

Sau 19 năm, nếm đủ mọi điều gian truân, Công tử Trùng Nhĩ mới khôi phục được nước, lên làm vua, tức là vua Tấn Văn Công. Nhà vua phong thưởng cho tất cả những người đã có công theo mình trong lúc tòng vong, nhưng cố ý quên mất Giới Tử Thôi không phong thưởng gì. Giới Tử Thôi cũng 143

không oán giận, vì tự xét mình cũng không có công lao gì, nếu có đi theo giúp đỡ nhà vua, đó chỉ là bổn phận của một người bày tôi. Vì vậy, Tử Thôi về nhà, đem mẹ vào ẩn ở núi Miên Sơn.

Đến khi vua Tấn Văn Công nhớ ra công trạng của Giới Tử Thôi, cho người đi tìm không được, liền sai người đốt rừng Miên Sơn, có ý muốn cho rừng cháy, mẹ con Giới Tử Thôi không chịu được phải ra để nhà vua phong thưởng.

Mẹ con Giới Tử Thôi đã không ra và cùng chịu chết cháy ở trong rừng.

Nhà vua thương xót cho lập miếu thờ, và hàng năm tới ngày mồng ba tháng ba, tức là ngày hai mẹ con Giới Tử Thôi bị chết cháy, cấm dân không được dùng lửa để nhớ lại Giới Tử Thôi. Trong ngày này người ta phải làm đồ

ăn từ hôm trước để đến ngày hôm sau ăn lạnh, do đó gọi là Hàn thực.

Tục này được lưu truyền mãi về sau, và ngày mồng ba tháng Ba là tết Hàn thực.

o Tết Hàn thực tại Việt Nam xưa

Người Việt Nam ta xưa theo tục của người Tàu cũng ăn tết Hàn thực, một phần để nhớ tới lòng trung nghĩa của Giới Tử Thôi, nhưng cũng là một dịp để cúng gia tiên. Ta ăn Tết Hàn thực, nhưng ta không kiêng lửa, ta cũng không ăn đồ lạnh. Ta có làm bánh trôi, bánh chay nhưng không phải làm từ

hôm trước như người Trung Hoa.

o Bánh trôi, bánh chay

Tháng Ba còn được dân ta gọi là mùa Trôi nước vì bắt đầu với tháng Ba là có bánh trôi và bánh chay.

Ta vẫn thường cho rằng bánh trôi và bánh chay là bắt chước người Trung Hoa, nhưng theo các cụ, bánh trôi, bánh chay, ta có từ đời Hùng Vương, và tục làm bánh trôi nhắc lại sự tích “trăm trứng trăm con”.

Trước đây, những khi ngày hội đền Hùng vào ngày mồng 10 tháng Ba, cũng như ngày hội đền Hát Môn, nơi thờ Hai Bà Trưng vào ngày mồng năm tháng Ba, dân làng đều làm một mâm bánh trôi 100 chiếc để cúng, cúng xong chia đôi, đem 50 chiếc thả xuống sông đặt trên bè sen, còn 50 chiếc đem đặt lên núi để nhắc lại tích cũ 50 con vua Lạc Long Quân theo mẹ lên núi, và 50 con theo cha xuống biển.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 144

Những chiếc bánh trôi này, người ta tranh nhau giành lấy sau khi đã thả

bè sen xuống sông hoặc đặt lên núi vì người ta tin rằng ăn những bánh trôi này sẽ được phước.

Bánh trôi làm bằng bột nếp nhào nặn với nước trong có nhân bằng đường phèn. Bánh nặn xong, được thả vào nồi nước sôi. Bánh chìm xuống rồi nổi lên, ba chìm bảy nổi chín lênh đênh thì vớt ra bày vào đĩa.

Bánh chay cũng làm bằng bột nếp nhào nặn với nước và cũng có nhân, nhưng nhân bằng đậu xanh nấu chín, bỏ vỏ, giã nhỏ. Bánh chay làm xong cũng thả vào nước như bánh trôi, và cũng đợi bánh chìm xuống, nổi lên mấy lần mới vớt ra.

Bánh chay không bày ra đĩa mà để vào bát và có đổ nước đường ở ngoài.

Hai thứ bánh tuy cùng làm bằng bột gạo nếp, nhưng mỗi thứ có mỗi vị

và mỗi thứ ăn mỗi ngon riêng.

Trước đây, ta không ăn bánh trôi bánh chay trước ngày mồng ba tháng Ba, vì ngày hôm đó, bánh mới bắt đầu cúng tổ tiên, cũng như mới cúng Thổ

Công. Vì lòng kính trọng đối với thần linh và tổ tiên mỗi khi tới một mùa nào, có thực phẩm gì của mùa đó, người ta không ăn nếu chưa làm lễ cúng. Bánh trôi, bánh chay cũng vậy, là của mới, của mùa trôi nước, người ta đợi cúng trước rồi mới ăn sau.

o Lưu trường khúc thủy

Ông Tân Việt Điển (trong Văn Hóa Nguyệt san số 28 ra trước đây) nói về

Tết Hàn Thực có viết lễ này là lễ Lưu Trường Khúc Thủy, được cử hành vào mồng ba tháng Ba.

Theo cổ tục nước Tàu, vào ngày tháng này dân chúng rủ nhau đi xem mực cao thấp ở bờ sông, bờ ao, bờ hồ. Các quan tỉnh, hàng năm sức cho dân phải bày hương án trên các bờ sông để làm lễ Lưu Trường Khúc Thủy.

Về đời nhà Hán, các Hoàng Hậu, Công Chúa, tôn nhân... đều ra bờ sông làm lễ, nhân dịp hái lá dâu về cho tằm ăn để kén được thêm tốt tươi.

Trong ngày này, con trai thi nhau đuổi thỏ, con gái thi nhau thả hoa xuống nước. Nếu các nhánh hoa thả xuống nước kết thành hình con vật gì, mọi 145

người sẽ tán thưởng, và các cậu con trai sẽ kén chọn, về xin phép cha mẹ

cưới làm vợ chính thức.

Ngày nay không còn Tết Hàn Thực, nhưng với tháng Ba, mùa trôi nước vẫn xuất hiện và người ta vẫn thấy các bà, các cô đi bán bánh trôi, bánh chay ở vùng nông thôn miền Bắc.