Làng Xóm Việt NamPhần 9

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

1. Trần Trọng Kim. - Sách đã dẫn.

Diện hình và Tổ chức

Ở làng xã rất ít người buôn bán lớn, và phần lớn chỉ là đàn bà, họa mới thấy mặt nam giới trong việc buôn bán này.

... Chốn nhà quê, nơi nào không có ruộng nương, không có nghề gì thì xoay ra làm hàng xay hàng xáo, lái trâu, lái bò, hoặc bán hàng quà, hàng bánh, kiếm ít lời đầu tôm râu cá, về

nhà cơm rau cơm cháo cho qua ngày. Nhà nào có được một vài trăm bạc, bỏ ra vốn đồng vốn để, hoặc chứa thóc chứa gạo, đồng lúa rẻ bán lúa đắt, cầm bát họ bát hàng, đã kể là nhà phong vận hơn người. (1)

Vì buôn bán nhỏ, vì không khuếch trương thương nghiệp như

các thương gia tại đô thị ngày nay, nên những người buôn bán ở

vùng quê thật là vất vả với sự cực nhọc không kém thợ thuyền hay những nông dân cày sâu cuốc bẫm.

cũng như những người trong làng, những người buôn bán, thường là đàn bà, phải dậy sớm theo tiếng gà gáy.

Dậy để lo thổi cơm nước, cơm nước để mình mang đi chợ, và cơm nước để chồng con ăn bữa sáng. Ở hoàn cảnh này cũng như

ở bất cứ hoàn cảnh nào, người đàn bà Việt nam bao giờ cũng thương chồng, thương con, lo tròn bổn phận đối với chồng con.

Trong lúc chồng con còn đang ngủ, nàng đã dậy sớm hơn, vo gạo thổi cơm, làm thức ăn. Khi mọi công việc xong xuôi, nàng sắp sẵn mâm bát để lát nữa chồng con dậy thì cơm nóng đó, canh ngọt đó, chồng con chỉ có việc ăn, sau đó các con lớn sẽ lo việc dọn mâm bát.

Riêng phần nàng, cơm đã chín, canh đã nấu, nàng ăn vội vàng vài bát cho no bụng lấy sức để còn quay gánh đi bộ trên quãng đường có khi dài tới hai chục cây số.

Một phụ nữ ở làng phú Thị, huyện Lập Thạch mà đi chợ tỉnh 1. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục. - Đông Dương Tạp chí, 1914.

Vĩnh Yên (Vĩnh phú), phải vượt một quãng đường thật dài, nói trên hai chục cây số không phải là ngoa. Đi bộ rảo cẳng cũng phải mất gần bốn tiếng, bắt đầu ra đi ở nhà từ năm giờ sáng, có khi mười giờ mới tới chợ. Ở chợ bán hàng cho tới trưa, giở cơm ra ăn, cơm mang sẵn đi từ ban sáng rồi lại tiếp tục việc bán hàng hoặc mua hàng cho tới gần ba giờ chiều mới lo quang gánh về.

Lúc về chợ, thế nào người phụ nữ Việt nam cũng phải nghĩ

tới quà chồng quà con, còn chính nàng, nàng rất hà tiện tiết kiệm với mình. nàng ăn miếng trầu ư, nàng ăn bằng chũm cau, còn những miếng cau ngon, nàng dành phần mang về cho chồng và cho mẹ chồng...

Bán hàng ăn những chũm cau,

Chồng con có biết cơ màu này chăng!

Một phụ nữ khác ở làng Thị cầu, thường đi chợ Yên phụ, gọi là chợ núi, huyện Yên phong Bắc Giang (Hà Bắc), cách làng mình cũng gần hai chục cây số, cũng phải dậy từ sáng sớm để

khi trở về đã chiều tối. có khi phụ nữ này, tuy Thị cần ở huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh, nhưng lại đi chợ Võ Dương, tục gọi là chợ Tri ở huyện Quế Hương, vào các ngày bốn, ngày chín, chợ Võ Dương cũng xã không kém chi chợ núi.

Dù đi chợ nào, bất cứ người phụ nữ nào, quê ở xã nào, đã buôn bán, nhất là buôn thúng bán mẹt đều phải đầu tắt mặt tối vất vả mới kiếm được đủ ăn, đủ lo cho gia đình, đủ đóng góp với làng xã cho chồng con.

Thường buổi chiều, đi chợ về, nàng lại vào bếp làm cơm, và hàng ngày chỉ bữa cơm tối nàng mới được ăn cùng chồng cùng con, còn sáng và trưa nàng đều ăn một mình, và bữa trưa bao giờ cũng là cơm nắm cơm nguội mang ở nhà đi.

cơm nước xong, nàng dọn dẹp công việc nhà và khi dọn dẹp công việc nhà đã xong, nàng lại phải tính đến việc buôn bán của mình.

Diện hình và Tổ chức

nàng tính tiền hàng, nàng sửa soạn gánh hàng để sáng hôm sau đi chợ sớm, nàng phải xem hàng nào còn, hàng nào hết tính chuyện buôn thêm bán bớt, xếp những món hàng ra riêng biệt để biết lỗ lãi.

Mọi việc xong, trời thường đã về khua, lúc đó nàng mới có thể

đi ngủ để sáng hôm sau lại dậy sớm với công việc hàng ngày.

Nàng chỉ ăn với chồng một bữa,

Ngủ với chồng nửa đêm.

Và để nói lên sự cần cù chịu khó và nhất là sự hy sinh của nàng, ca dao có câu:

Nửa đêm ân ái cùng chồng,

Nửa đêm về sáng gánh gồng ra đi!

nàng đã vất vả chợ búa, nàng đã hai sương một nắng không nghĩ đến sức khỏe của mình, nhưng đến tình yêu đằm thắm đối với người bạn trăm năm, nàng cũng phải hy sinh, và mỗi ngày chỉ ăn với chồng có một bữa và mỗi đêm chỉ ân ái với chồng có nửa đêm.

nàng đã vất vả như vậy, không phải chồng con ở nhà có nhàn nhã đâu. Sự vất vả là lẽ sống của người dân quê, người dân quê có vất vả mới quen chịu đựng và có quen chịu đựng, mỗi khi có nạn nước, họ mới sẵn sàng đồng tâm đoàn kết chịu gian nan để chống với ngoại xâm. những cuộc chống Tống, dẹp nguyên, đuổi Minh, bình Thanh và một trăm năm luôn luôn nổi dậy dưới gót sắt của người pháp đủ chứng tỏ sự bền bỉ chịu đựng, sự đồng tâm nhất trí của dân Việt nam trước những cơn phong ba bão táp của non sông. người dân quê Việt nam lúc nào cũng sẵn sàng chịu hy sinh, miễn sao sự hy sinh phải xứng đáng và các cấp lãnh đạo phải biết vì dân vì nước.

Trở lại những gia đình buôn bán, phải nhận rằng, đây cũng là những người làm lụng và họ cũng không nhàn nhã hơn những thợ thuyền hoặc những nông phu. nếu những người đàn bà buôn

Phơi khô quạt sạch ấy là

xong công!

(Ảnh: Trần Cao Lĩnh)

Ông đồ bán chữ

(Ảnh: Nguyễn

Mạnh Đan)

Diện hình và Tổ chức

bán chịu thương chịu khó thì những người đàn ông theo phương pháp ở làng xã cũng phải có đức tính ấy mới mong kiếm đủ ăn nuôi gia đình; đóng góp với xóm làng. Bất cứ buôn bán thứ gì, từ buôn gánh hàng xén đến buôn rau buôn đậu, làm hàng xay hàng xáo, họ đều phải chú tâm đến việc buôn bán của mình và phải chịu thương chịu khó luôn luôn tất bật mới mong có lời.

có những người gọi là buôn bán, nhưng sự thực là đem bán sức khỏe của mình đổi lấy miếng ăn. Thí dụ làm nghề bán bún phải xay gạo phải đổ khuôn bắt bún, làm nghề bán giò chả, phải lấy sức mình để giã giò giã chả, làm nghề bán quà phải vất vả nấu bánh trái v.v...

nông công thương, ở vùng quê, so sánh ra ai cũng như ai, có làm thì mới có ăn, không ai có thể ăn dưng ngồi rỗi được.

gIA ĐìNh Kẻ Sĩ

Xét qua tứ dân, có lẽ công việc kẻ sĩ là nhàn nhã hơn, nhưng gia đình của kẻ sĩ, ngoài người chủ gia đình theo nghề nghiệp của mình, mọi người khác cũng phải làm việc để sống theo nhịp sống của dân làng.

Kẻ sĩ nhàn, vì đó là hạng người làm những công việc không phải vất vả tới chân tay. Đây gồm những người đi học để đi thi, những ông đồ dạy học, những ông lang bốc thuốc, những thầy bói thầy số. Và cũng có thể kể vào hàng kẻ sĩ những người trong ban hội đồng kỳ mục, đảm đương chức vụ trong làng, vì công việc của họ không phải là những công việc làm bằng chân tay, mà chính là công việc làm bằng trí óc.

Kẻ sĩ không vất vả lại được sự trọng vọng của dân làng, và luôn luôn được coi là bậc thượng lưu trong hàng xã.

Dân làng tuy vất vả, nhưng thấy kẻ sĩ nhàn, không bao giờ

một ai có ý nghĩ ganh tị, mọi người đều nghĩ rằng địa vị của kẻ sĩ đáng được hưởng sự nhàn nhã phong lưu, vì họ chính là

tầng lớp đưa đường dẫn lối cho dân quê, và những sự giúp đỡ

của họ đối với dân quê được dân quê luôn luôn ghi nhớ và coi những sự giúp đỡ đó rất là đáng kể.

Ông đồ dạy học thì học trò đều là con cái dân làng. Vả các ông đồ xưa, dạy học đâu có lấy tiền, bố mẹ học trò, những ngày sóc vọng tết nhất, muốn đưa biếu cái gì cũng được, nhiều ít không nề. Đạo Thánh là đạo rộng, cửa Khổng sân Trình luôn luôn mở đón các học sinh, dù giàu dù nghèo. người dân nghèo, cho con đến nhập môn các ông đồ, ăn mày dăm ba chữ, lẽ tất nhiên họ quý trọng ông đồ, không nói chi đến trường hợp con họ học hành tấn tới có thể đỗ đạt nên ông nọ ông kia hoặc mai sau có thể làm đàn anh trong làng trong tổng được.

Ông đồ được tất cả dân làng kính nể và lệ làng đối với ông đồ

cũng có sự biệt đãi: ông đồ được miễn hết sưu thuế, được miễn hết phu phen tạp dịch, và ở trong làng khi nhà nào có giỗ chạp cỗ bàn, họ đều mời ông đồ, và luôn luôn ông đồ được ăn trên ngồi trước ở những nơi này. Và những lời ông nói ra, thường dân làng đều lấy làm phải và nghe theo.

Trong hàng kẻ sĩ, ông lang cũng được mọi người tôn kính, vì học vấn cũng có, mà nhất là vì sự ra ơn của ông lang đối với dân làng. Đối với ông lang, họ cũng kính trọng như đối với ông đồ.

Ông lang tuy không dạy con họ học, nhưng ông lang đã chữa thuốc cho con họ và cho cả chính họ nữa. Đã đành chữa thuốc thì lấy tiền, nhưng ở đây không phải là một việc buôn bán, không ai đem tiền mà đổi lấy tính mệnh được. nếu ốm đau không có người cắt thuốc chữa bệnh, làm sao mà khỏi được bệnh. Không thể nói ốm no bò dậy!

Vì quan niệm như vậy nên các ông lang đối với dân quê rất được kính nể, và những người nào đã được ông lang nào chữa bệnh cho, cứu cho thoát bệnh hiểm nghèo, họ ghi ơn suốt đời không quên và họ thường sống tết chết giỗ.

Diện hình và Tổ chức

ngay các vị đàn anh trong làng, đối với các ông lang cũng có sự nể vì, và những khi tết nhất nếu người ta nghĩ tới các ông đồ, người ta cũng không quên các ông lang. Và cả những khi đám xá tiệc tùng tại các tư gia, người ta đều có mời các ông lang quen chữa bệnh cho gia đình và có những nơi ông lang cũng được ăn trên ngồi trước như ông đồ. các ông lang cũng hiểu sự kính trọng của dân làng đối với mình, các ông thường bao giờ cũng tỏ ra xứng đáng với sự kính trọng này. chữa bệnh thì lấy tiền, nhưng các ông chỉ lấy tiền trong giới hạn nào, thường là tiền thuốc men, chứ tiền công các ông tính rất ít. Ấy là chưa kể, có những trường hợp, có ông lang chữa bệnh làm phúc cho những người nghèo khổ.

Giữa thầy thuốc và con bệnh do đó có sự thân tình, có ân nghĩa mà tiền tài không thể xen vào. nền đạo đức Đông phương cổ truyền ở đây cũng như trong nhiều trường hợp khác đã không bị đồng tiền chi phối.

các ông lang cũng được hàng xã miễn cho phu phen tạp dịch, còn về sưu thuế nếu có phải đóng, sự đóng góp cũng không đáng kể.

ngoài các ông đồ và các ông lang, những học trò đang đi học cũng được coi là kẻ sĩ, và cũng được sự kính trọng của mọi người, nhất là những người học trò giỏi, những người học trò trưởng tràng của các ông đồ.

Trai thì đọc sách ngâm thơ

Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.

Ở nhiều làng, xưa có những học trò có tiếng là hay chữ, được mọi người kính trọng; ở đây, qua sự kính trọng người học trò, chính là sự kính trọng văn học. Và thời xưa, người học trò, hôm nay còn là một hàn sĩ, nhưng ngày mai, qua một cuộc thiên tử

cầu hiền, chàng hàn sĩ bạch đinh có thể trở thành một chân khoa cử, rồi với ơn vua lộc nước sẽ có thể là một vị lương đống của triều đình, của quốc gia.

Đi học cũng như những người đi dạy học được miễn phu phen tạp dịch; dân ta quý trọng văn học và do vậy quý trọng cả những người dạy học và những người đi học. những vị lãnh đạo các cấp bậc của quốc gia đều kén chọn trong đám học trò qua những kỳ thi, và việc thi cử của ta coi như việc nhà vua lựa nhân tài.

Tại các cổng trường thi bao giờ cũng có bốn chữ “Thiên tử cầu hiền”, nghĩa là nhà vua cầu người hiền tài.

Và chính cũng vì lẽ trong văn học, nên kẻ sĩ đứng đầu tứ dân.

Người ta trăm nghệ tùy thân,

Nhưng mà văn học phải cần đầu tiên.

Thi thư là báu dõi truyền,

học trò là kẻ sĩ hiền trọng thay.(1) Cũng được coi là kẻ sĩ những bốc sư, những thầy địa lý, những người bán chữ, viết câu đối, thảo văn tế, văn khấu v.v... vì nghề

nghiệp những người này đều phải dùng đến chữ nghĩa. Và đã là kẻ sĩ, họ cũng được dân làng kính trọng và được hưởng những sự biệt đãi dành cho kẻ sĩ.

Trong khi kẻ sĩ được hưởng sự nhàn nhã thì gia đình họ, vợ

và các con vẫn phải làm việc khác.

các bà đồ, vợ các ông đồ vẫn phải thắt lưng bó que, tất tưởi buôn bán kiếm lời nuôi gia đình, hoặc trông nom vài sào ruộng của gia đình, đảm đương công việc vất vả của nhà nông. Bà đã lấy đó làm vui vì lấy chồng học trò là lòng bà đã toại.

Bà đồ lo nuôi chồng; chồng vừa dạy học vừa luyện tập văn bài, khoa thi tới sẽ lại ứng thí với hy vọng bảng hổ đề danh, chồng nên danh, vợ cũng thơm lây, chồng võng đào, vợ võng tía. nhiều khi ông đồ, bà đồ sống trong cảnh thanh bạch, nhưng 1. Phạm Ngọc Khuê. - Dịch Minh Đạo gia huấn.

Diện hình và Tổ chức

luôn luôn bà đồ chịu khó cần cù tảo tần để giúp đỡ chồng, việc ruộng nương, việc buôn bán và có khi lại dệt vải guồng tơ.

Dăm thước vườn trống trải,

Nhà rơm một mái xiêu,

Nhưng mộng lòng đã toại,

Đâu dám quản chi nghèo

Đảm đang xuôi ngược sớm chiều,

lòng mơ một chiếc võng điều mai sau.

giọng ấm chàng đọc sách,

Thao thao tưởng nước nguồn.

Văn chàng hay nức tiếng.

lòng nàng như pha son.

Nhường chàng nửa đĩa dầu con,

Kề trăng quên ngủ tay giòn quay tơ.(1) Từ sĩ nông công thương, với sinh hoạt trình bày trên, ta thấy rằng người dân trong làng luôn luôn tận tụy với công việc. Đây chỉ là những sinh hoạt cá nhân vì sinh kế, nhưng chính sự sinh hoạt tuy gọi là cá nhân này, đã góp phần vào sự thịnh vượng chung của làng xã. Và, từ trên mới chỉ nói tới công việc làm ăn, nhưng nếu có làm lụng vất vả thì người dân quê cũng có những lúc chơi bời với những thú chơi cao nhã như cầm, kỳ, thi tửu, hoặc tham dự vào những hội hè đình đám. Và ngoài ra còn nhiều sinh hoạt cộng đồng khác mà thường thường tất cả

dân làng hoặc một phần dân làng tham dự vào.

có nhiều sinh hoạt tuy là những sinh hoạt cá nhân nhưng lại được sự tham dự của nhiều người làng, những sinh hoạt này không kể là sinh hoạt cộng đồng được, vì không phải là công việc chung của cả làng, mà chỉ liên quan tới một gia đình hoặc 1. Bàng Bá Lân. - Bà Đồ, trích trong “Xưa” - Thơ Bàng Bá Lân, Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê.

một cá nhân, và đây cũng không phải là những sinh hoạt về sinh kế, và cũng không phải là những công việc thường xuyên hàng ngày, đây là những công việc vui mừng hoặc tế tự mà người dân quê, gọi là việc hiếu hỷ.

SiNh hoạt hiếu hỷ

Đây là tất cả những công việc liên quan đến sự vui mừng hay đau buồn của dân làng. Tinh thần đoàn kết đã khiến mọi người dân trong một xã gặp vui thì cùng chia vui và gặp sự đau buồn thì cùng san sẻ làm cho sự đau buồn được dịu bớt phần nào.

Trong các việc hiếu hỷ ta phải kể ra việc cưới xin, khao vọng, giỗ chạp, tang ma v.v...

những công việc trên đều là những biến cố vui buồn xảy ra cho từng gia đình, nhưng không phải chỉ riêng gia đình liên hệ

được hưởng sự vui hoặc phải chịu sự buồn.

CướI XIN

Trong đám cưới, lẽ tất nhiên có hai gia đình liên hệ là nhà trai và nhà gái. Ở đây tôi không nói tới những tục lệ về cưới xin, những tục lệ này trước đây tôi đã trình bày trong tập Nếp cũ Con người Việt Nam, nay tôi chỉ nhắc tới trên phương diện sinh hoạt của dân làng trong lệ làng.

cưới xin là sự phối ngẫu của một đôi trai gái, và đứng lên lo việc cưới xin là hai gia đình của đôi trẻ, nhưng không phải người làng không tham dự vào việc vui mừng và không phải là không liên quan gì tới làng xã.

Trước hết, đôi bên phải trình với hội đồng kỳ hào trong làng biết để xin phép làm tiệc với việc mổ trâu bò dê lợn, và lại phải đóng lệ làng về các khoản hội họp, đốt pháo, giết thịt gia súc v.v... Và trong đám cưới, tùy tiệc to nhỏ, nhà trai nhà gái đều 158

Diện hình và Tổ chức

có mời họ hàng làng mạc tới dự tiệc, và ngày cưới phải có lễ ra đình làng để làm lễ đức thành hoàng.

Trong ngày cưới họ hàng bạn bè đôi bên kéo nhau tới làm giúp ăn cỗ. Đây là tinh thần tương tự vị tình không phải vị thực.

Và lân bang hàng xóm cũng tới làm giúp và tới mừng cô dâu hoặc chú rể.

những người đến làm giúp mỗi người một tay, ngay từ lúc sửa soạn đám cưới. Họ cùng nhau giúp gia chủ dựng rạp, mổ

trâu bò, gà lợn, làm cỗ hoặc hầu hạ khách khứa trong bữa tiệc.

Lại có người đảm nhận hẳn việc liên lạc với hội đồng hàng xã để lo mọi việc xin phép theo lệ làng. Đối với những người đến làm giúp này, gia chủ coi như người nhà và chỉ cần có cơm rượu cho họ ai nấy đều tận tình lo như chính công việc của họ vậy.

ngoài việc làm giúp, họ còn mừng gia chủ, có người mừng bố

mẹ cô dâu chú rể, có người là bạn của cô dâu chú rể thì mừng hẳn các đương sự. Họ mừng đồ đạc, những đôi câu đối, những bức đại tự, nhưng phần nhiều để tiện dụng và giúp đỡ một cách thiết thực cho gia chủ, họ mừng tiền, mỗi người một món tiền to nhỏ

tùy theo khả năng tài chính của họ. Gia chủ hân hoan nhận những đồ mừng cũng như nhận tiền và sự mừng ở đây, ngoài sự chia vui còn có ý nghĩa giúp đỡ cho gia chủ trong lúc cần sự tiêu pha.

Sự mừng cưới này nói lên tinh thần tương thân tương ái của dân làng với nhau, và đây chỉ là một sự đồng lần. Gia chủ thường bao giờ cũng biên sổ cẩn thận, để những người đã mừng mình, khi có việc vui buồn mình sẽ tới giúp lại.

Họ mừng, họ ăn, họ ở lại làm giúp, và những người bạn thân lại tham dự cả vào việc đưa rể đón dâu ngoại trừ những người có đại tang, những người này vì tục kiêng kỵ của ta không muốn trong lúc mang trọng tang lại tới dự một đám vui mừng. Trước hết họ kiêng cho cô dâu chú rể vì họ sợ mang sự không may tới,

sau nữa là đạo hiếu của ta ngăn cản không cho họ được tham dự những việc vui mừng trong khi có đại tang, có đại tang là đang mang sự đau khổ vì mất người thân, nay lại dự vào đám vui mừng tức là kẻ mang tang đã quên nỗi buồn, nỗi thương tiếc của mình đối với người chết.

những người làm giúp thường rất tận tình nên khi đám cưới đã đón dâu đưa rể xong, ngày hôm sau họ còn đến giúp đỡ gia chủ trong việc dỡ rạp và dọn dẹp nhà cửa. Đây thường là những hàng xóm thân tình hoặc họ hàng con cháu.

gIỗ ChạP KhAo VọNg

nếu trong đám cưới, dân làng có sự tương trợ và giúp đỡ

gia chủ, thì trong đám giỗ, việc giúp đỡ tương trợ này cũng sốt sắng như vậy.

Một gia đình nào có giỗ thường thường có con cháu tới, và có một số dân làng hàng xóm được gia chủ mời tới làm giúp ngay từ hôm tiên thường. Đây là nói những đám giỗ lớn, có cáo giỗ

và có làm giỗ mời hàng xóm làng mạc. những người tới làm giúp, họ cũng tận tình và làm những công việc như trong một đám cưới. cũng làm rạp, cũng mổ lợn, mổ bò, cũng làm cỗ, và trong việc làm giúp đàn ông có, đàn bà có.

Đàn bà thường làm những công việc như bổ cau têm trầu, bày cỗ và phục dịch khách khứa. những người làm giúp trong đám giỗ, sau khi làm giúp cũng lên lễ bàn thờ nhà chủ, và họ cũng có đồ lễ, như những khách khứa tới ăn cỗ. Đồ lễ thường là trầu cau vàng nến trà rượu. Không có tiền như trong đám cưới, tuy nhiên, con cháu người hưởng giỗ phải gửi giỗ cho nhà trưởng, và trong việc gửi giỗ có thể dùng tiền để giúp đỡ cho gia trưởng.(1) 1. Về những tục lệ liên quan tới ngày giỗ, tới sự cúng giỗ, xin xem trong cuốn Tín Ngưỡng Việt Nam Chương Thờ Phụng Tổ Tiên.

Diện hình và Tổ chức

cũng như khi cưới xin giỗ chạp, gia đình nào có việc khao vọng, dù là khao nhiêu xã, khao thượng thọ, khao nhận chức vụ

trong làng như Lý trưởng, chánh Hương hội v.v... khao phẩm hàm, khao thi đỗ, dân làng hàng xóm, những người thân mật cũng tới chia vui, làm giúp và có đồ mừng. có khi, một người xây chiếc sân gạch, làm ngôi nhà mới cũng được hàng xóm tới giúp đỡ, bởi vậy khi ăn mừng nhà mới, gia chủ thường có cỗ

bàn thết đãi, có mời cả ca nhi hoặc phường chèo tới xướng hát để mua vui cho mọi người.

TANg MA

Lại những gia đình có tang lễ, người làng cũng tới giúp đỡ

và chia buồn. Trong việc giúp đỡ này, có những trai làng, xung các ban hàng giáp, hàng xóm dự các chân đô tùy trong việc đưa đám. các cụ già, các người đứng tuổi, mỗi người giúp mỗi việc trong lễ nghi, cũng như trong nghi trượng đi đường, các tay văn tự thảo hộ văn tế, viết hộ đối trướng, các nhân viên trong ban tư văn tham dự các buổi tế.

Tới chia buồn trong đám tang, ngươi ta có đồ phúng viếng: vàng nến hương hoa trầu rượu, câu đối trướng... người ta cũng dùng tiền làm lễ phúng viếng, và đây cũng là một hình thức tương trợ.

CáC VIỆC KháC

cũng coi là sinh hoạt về hiếu hỷ những buổi làm chay cầu siêu cho người khuất, những lễ cải táng, những lễ bắc cầu giải oan cho những người gặp tai nạn bị bất đắc kỳ tử, và trong những dịp này đều có sự tham dự giúp đỡ của dân làng hàng xóm.

Tóm lại, những sinh hoạt về hiếu hỷ, tuy là những sinh hoạt tư

riêng nhưng có sự tham dự đông đảo của dân làng với tinh thần tương trợ hòa đồng để cùng vui hoặc để chia xẻ nỗi đau buồn

với các gia đình đương sự. Đây chính là những dịp để dân làng tỏ tình thân với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, biểu dương sự đoàn kết của làng xã và nói lên sự ràng buộc của dân làng với dân làng.

người dân quê Việt nam không ích kỷ, và họ sẵn sàng luôn luôn giúp đỡ những người làng trong mọi hoàn cảnh và tùy theo khả năng của mỗi người. Qua những sinh hoạt hiếu hỷ sơ lược trình bày trên, tinh thần tương trợ đã được biểu lộ, nhưng tinh thần càng rõ ràng hơn trong nếp sống hàng ngày của người dân trong hàng xã.

TINh ThầN TươNg TRợ TRoNg NếP SốNg hàNg Ngày Đời sống người dân quê vất vả cực nhọc, nhưng nhờ sự tương trợ với tình tương thân, tương ái giữa mọi người, sự vất vả cực nhọc này như giảm bớt được đi nhiều. người trong làng lúc nào cũng như sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau từ việc nhỏ tới việc lớn, về

tinh thần cũng như về vật chất.

Sự giúp đỡ trong các sinh hoạt hiếu hỷ đã nói nhiều lên sự

tương trợ này, nhưng trong nếp sống hàng ngày luôn luôn có những dịp dân làng giúp đỡ lẫn nhau.

Một nhà đến bữa ăn thiếu chút muối ư? nhà đó có thể xin ngay nhà hàng xóm một cách rất dễ dàng! có thể nhà đó thiếu hẳn thức ăn trong một bữa cơm vì không gặp phiên chợ, và trong nhà không sẵn đồ ăn dự trữ! cũng không sao, một nhà hàng xóm có thể sẵn sàng giúp đỡ mấy quả cà, đĩa mắm để nhà này dùng tạm trong bữa cơm. Và cũng thế, nếu nhà thiếu muốn sang ngay một nhà khác trong xóm, xin mấy cây rau, nhà hàng xóm sẽ vui lòng mời người thiếu tới vườn rau nhà mình tự cắt lấy số rau cần thiết cho bữa cơm.

Và nếu một nhà, bố mẹ đi vắng, đến bữa cơm, các con ở nhà chưa có gạo thổi, nhà hàng xóm biết, họ sẵn sàng cho vay số

gạo cần dùng để các em thổi cơm.

Diện hình và Tổ chức

Trong làng, có một nhà có chai mật ong tốt, có thể chữa được các chứng bệnh cam của trẻ em, thế là người làng mỗi khi trong nhà có trẻ bị cam răng, tưa lưỡi, họ đều mang chén tới xin, và nhà có của không hề bao giờ từ chối. con người cũng như con mình, mình sẵn có, người thiếu thốn, tại sao mình lại không giúp.

Đây chỉ nói về những việc nhỏ, việc nhỏ giúp nhau được thì việc lớn người ta cũng giúp nhau.

Trong xóm có một người bị cháy nhà ư? cả xóm sẽ cùng xô lại cứu chữa, người xách nước, người dọn đồ, và có thể nói được rằng, sự hôi của thật không khi nào xảy ra.

Một nhà có một con lợn sổng chuồng chạy ra đường ư? lập tức có vài người giúp chủ nhà đón bắt ngay con lợn lại.

Một người vô ý bị ngã xuống ao xuống sông chăng? người làng lập tức hè nhau lội xuống vớt, và khi vớt được lên, mỗi người một tay, cùng nhau lo cứu chữa nạn nhân.

Và còn rất nhiều trường hợp, sự giúp đỡ của dân làng bao giờ

cũng tận tình, và không hề ai nghĩ tới sự đền công của những người được giúp đỡ.

Một người nhận được một giấy quan đòi, không biết chữ, lập tức có người biết chữ đọc giùm.

Về mặt tinh thần sự tương trợ của dân làng càng rất đáng quý.

Một người không may bị oan khuất một điều gì, dân làng tìm cách minh oan, và nếu không minh oan được thì cũng có sự an ủi đương nhân.

Một người đi thi, cả làng đều cầu chúc cho may mắn đỗ đạt.

Sự tương trợ nhiều khi là một sự đồng lần. Thí dụ trong dịp Tết đến, nhà nào cũng có gói bánh chưng ăn Tết; ngày hôm nay, nhà này gói bánh, ba bốn người khác tới gói giúp, và ngày mai, ngày mốt, đến nhà người khác gói bánh, thì lại cũng được sự giúp đỡ như vậy, của những người mình đã giúp và của cả

những người khác nữa.

Ở trong làng, nhà này đi vắng, gửi nhà người hàng xóm là chuyện thường, và người hàng xóm khi đã nhận giữ nhà hộ, thường cho người nhà hoặc con cái sang trông nhà giúp người đi vắng. có khi người ta gửi nhau cả con cái, và người nhận trông nom giúp, họ trông nom con cái người như chính con cái họ.

Tình tương thân tương ái giữa người làng còn thể hiện trong sự biến xén lẫn nhau.

Một người đi chơi xa về, có quà cáp, ngoài việc kính biếu bố

mẹ, thường biếu cả hàng xóm láng giềng. Hoặc trong nhà có cây ăn quả, khi có quả chín, sau khi hái thắp hương cúng gia tiên và Thổ công, người ta thường mang biếu hàng xóm láng giềng.

Và trong những dịp lễ bái, có làm xôi nấu chè, người ta cũng không quên hàng xóm lân cận.

Không có việc gì có thể có lợi, người là điều mách nhau. Tính ích kỷ thật là ít có với dân quê.

Qua các điều trình bày trên, có lẽ có người sẽ cho rằng, như

vậy chẳng hóa ra dân quê Việt nam không có người nào xấu chăng? Sao vẫn có những vụ tranh giành kiện tụng nhau, sao vẫn có những vụ ăn trộm ăn cắp của nhau?

Xin thưa: trình bày như trên không phải nói rằng xã hội vùng quê Việt nam không có những người xấu, nhưng số người xấu này rất hiếm. Đạo đức phương Đông dù sao cũng hạn chế bớt được nhiều sự tham lam vô nghĩa bất nhân, và con người với tính bản thiện chỉ hư hỏng khi chung quanh mình có nhiều người hư hỏng.

Vả chăng còn lệ làng kia, những người xấu thường bị lệ làng trừng phạt, và người ta rất sợ mang tiếng với làng nước, nên trong cách ăn ở người ta thường giữ gìn.

NhữNg BàI Vè

Hơn nữa ở nhà quê, người ta thường hay làm vè để chế giễu những người có tật xấu. Một người làm gì không phải, không ai 164

Diện hình và Tổ chức

bảo ai, tự nhiên cả làng đều biết và lập tức có người đặt thành vè, nhiều khi những tật xấu đó chỉ là những tật xấu thông thường của con người.

Tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, làng tôi có ông nhiêu Bút, một người vào bậc thượng lưu trong làng, vì ông có chân nhiêu, và ở trong ban tư văn. Ông có tính hay rượu, và một lần, ông đã nổi máu hảo ngọt mò một cô thợ cấy, nhưng chẳng may bị bà nhiêu bắt được. chuyện xảy ra ở trong nhà ông, vậy mà cả làng đều biết và đã có bài vè như sau:

làng ta có sự nực cười,

Có ông nhiêu Bút là người rượu say!

Mỗi ngày một lít như bay,

Rượu say, ông mới làm bây giở trò!

Bà nhiêu sao chẳng biết lo,

Mướn lũ thợ cấy ông mò một cô,