Làng Xóm Việt NamPhần 12

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

“Riêng các xã trưởng, nếu trong làng có sự tranh tụng, phải vô tư phân xét và hòa giải. Không được xui nguyên giục bị rồi lại tự nắm lấy việc phân xử. Cũng không được tự đặt ra những luật lệ riêng rồi dựa vào những luật lệ ấy mà chiếm đoạt tài sản khiến cho các nạn nhân phải bán nhà đất cho khánh kiệt cô lập họ không cho tham dự các buổi tập họp hội hè mà trái với phép nước.

“Nếu những sự kiện trên xảy ra, các đương nhân có quyền khiếu nại lên quan sở tại để truy tố can phạm và trị tội.

“Bầu cử xã trưởng, dân làng phải kén chọn trong các hàng

danh giá, học thức, có khả năng, đủ niên kỷ, được sự tín nhiệm và quý mến của mọi người, không được vì tiền bạc hoặc tiệc tùng mà bầu lên những người không đủ tư cách hoặc tìm cách thành lập thôn, hộ riêng gieo rắc sự hiểu lầm và sự chia rẽ. Ai phạm tới luật này sẽ bị trừng phạt.”.

Ta thấy rằng trên đây cũng chỉ là những điều rất đại cương không mấy rõ ràng, do đó lệ làng vẫn luôn luôn chi phối mọi sinh hoạt trong làng.

Lệ làng do hương ước ấn định, và về mỗi vấn đề lại những tục lệ riêng. Thường những vấn đề chính mà hương ước làng nào cũng đề cập tới là những tục lệ về: bầu cử

khoán ước

tranh tụng

tài chính

tạp lệ

Bầu Cử

như đã trình bày tại chương “Tổ chức làng xã”, làng xưa nay đều có một hội đồng, đấy là hội đồng kỳ mục, hội đồng này từng được thay đổi danh xưng trải qua các thời kỳ lịch sử.

những nhân viên trong ban hội đồng do dân làng bầu lên theo lệ từng làng, nhưng thường căn cứ trên các tiêu chuẩn niên kỷ, kiến thức và tài chính.

Kén chọn theo niên kỷ, vì người có tuổi có nhiều kinh nghiệm, theo kiến thức vì đây là những người có học đã từng học qua Tứ

thư ngũ kinh, thâu nhập được sự hiểu biết và kinh nghiệm của tiền nhân, theo tài chính vì đây là một sự bảo đảm cho người nhận trách nhiệm lãnh đạo làng xã.

Thường ra, những nhân viên trong ban hội đồng là các hàng chức sắc đã nói trong chương “Dân làng”.

Diện hình và Tổ chức

Tại chốn đình trung, hàng chức sắc này, cũng như các nhân viên khác trong các hội đồng kỳ mục đều có chỗ dành riêng đã được ấn định rõ ràng bởi phép vua.

KhoáN ướC

Khoán ước là những điều dân làng ước hẹn với nhau và được đồng dân tôn trọng. Khoán ước đối với làng xã cũng như luật lệ đối với quốc gia.

Khoán ước chú trọng tới những việc nội bộ trong làng, còn những việc lớn đã có luật vua và phép nước.

Khoán ước trong làng, tức như một điểm khuyến trừng của nhà nước, khuyên người làm lành, ngăn kẻ làm dữ, nhờ có khoán ước mà nên thuần phong mỹ tục. (1) Trong khoán ước có thưởng có phạt. Khoán ước mỗi xã mỗi khác, nhưng về mặt đại cương thường có các điều sau đây: hộ tịch

Hộ tịch chi phối mọi việc về sinh, tử, giá thú.

Tại nhiều làng, sinh con ba ngày thì phải khai. Không khai thì phải phạt vạ, số tiền phạt vạ tùy theo từng làng(2); các chức dịch hoặc nhân viên trong ban hội đồng kỳ mục, bị phạt gấp đôi dân làng. Về việc tử cũng vậy, cũng phải khai trong thời hạn lệ làng ấn định. Việc cưới xin, nếu không khai, phải phạt vạ số

tiền gấp đôi tiền lệ phí ấn định. Không chồng mà chửa phạt vạ

nặng, có khi từ 10 đến 30 quan tiền.

Thưởng

những người có công với làng đều được thưởng: bắt được kẻ

trộm, kẻ cướp, kẻ hung nghịch có tội. Tùy việc khó dễ và công to nhỏ, có thể được thưởng tiền hoặc thưởng chân khán chủ

1. Phan Kế Bính. - Sách đã dẫn.

2. Tiền phạt xưa từ một quan trở lên.

trương tuần, hoặc được chân nhiêu, chân xã dự vào hàng quan viên hay miễn trừ tạp dịch.

Phạt

người có lỗi với làng thì bị phạt vạ nặng nhẹ tùy theo tội: say rượu trong khi hương ẩm, nói càn xúc phạm tới bậc tôn trưởng, hành hung các người này, đánh nhau vỡ đầu, trộm cắp từ con gà, cái măng trở lên, hoặc có hành động gì bất kính với các nơi thờ tự, hoặc phạm tội để quan phải đòi tới dân làng.

Và đặc biệt những nhà nào có con gái không chồng mà chửa đều bị phạt vạ.

Tùy lỗi nặng nhẹ, đương sự hoặc bị phạt hai ba quan tiền kẽm, hoặc phải nộp vạ gà lợn để Hội đồng làng sử dụng, hoặc tước ngôi thứ không cho dự chiếu hương ẩm. những chức dịch bị lỗi nặng có thể bị làng truất bỏ cả chân chức dịch, không cho hưởng quyền lợi của hàng viên chức.

Chu tuất

Khi trong làng có cướp hoặc cháy, tuần đinh và dân làng trong khi đánh cướp hoặc chữa cháy chẳng may bị thương sẽ

được làng cấp tiền điều dưỡng thuốc men, nếu bất hạnh qua đời, làng sẽ tổ chức long trọng lễ an táng và chu cấp cho vợ con.

có thể thưởng cho con cái chân nhiêu chân xã, hoặc cho miễn phu phen tạp dịch.

Tinh biểu

những người làm lợi cho dân làng, hoặc xuất của hoặc xuất lực trong các công cuộc công ích, làng nhờ ân nghĩa, sống được làng kính trọng, chết được làng khắc bia để đời đời ai ai cũng nhớ.

Cấm lệnh

Làng có những điều cấm, mọi người đều phải theo: có khách lạ phải trình với lý dịch, không trình sẽ bị phạt. Tụ

họp đánh bạc, hoặc làm điều phạm phép vua luật nước hoặc tụ

Diện hình và Tổ chức

tập kẻ hung đồ đều bị cấm. phạm những điều này, nhẹ, lý dịch bắt ra điếm giữ một vài giờ hoặc một ngày một đêm, nặng thì nộp quan trên định tội.

Trai gái giở trò dâu bọc bị bắt, phải phạt vạ.

*

* *

Đại để trên đây là mấy điều chính về khoán ước tại các xã.

có thể có những điều khác.

TRANh TụNg

Dân làng họp nhau, chính ra là các vị chức sắc, như thành một pháp đình nhỏ để phân xử những việc tranh tụng không quan trọng và không cần phải đưa tới quan trên, cũng như để trừng phạt những tội phạm vi cảnh ở trong làng.

Thời xưa quyền hạn về tư pháp của pháp đình làng xã có lẽ một thẩm quyền rộng rãi, nhưng dần dần triều đình thu hẹp quyền hạn này lại, và tới dưới triều nguyễn, về hình sự, dân làng chỉ được phép xử những tội phạm vi cảnh phạt tiền, còn về

dân sự đây chỉ là một cơ quan hòa giải. các viên chức đối với dân làng phải dịu dàng khéo léo, khuyên bảo mọi người tránh sự

kiện tụng, và muốn kiện tụng, việc gì cũng phải qua làng trước, nếu không sẽ bị phạt theo hương ước.

Ta có câu “Được kiện mười bốn quan năm, thua kiện mười lăm quan chẵn” để răn bảo những người muốn đưa nhau tới chốn tụng đình. chính vì sự khuyên răn của các hương chức mà những sự kiện tụng trước đây rất ít xảy ra tại các làng quê, và người dân quê không ai ưa gì kẻ “xui nguyên giục bị” và chính những kẻ này nếu có, tục lệ cũng không dung.

“Bảo nhau làm phúc, không ai giục nhau đi kiện”, câu tục ngữ

trên đủ nói lên cái tâm lý của dân ta đối với các việc kiện tụng.

TàI ChíNh

Dân quê phải đóng thuế cho nhà vua, nhưng ngoài ra còn phải đóng phần thuế làng, tức là phần phụ thu của thuế chính ngày nay.

Mỗi năm theo lệnh triều đình mỗi làng phải nộp một số tiền thuế được ấn định tùy theo số dân đinh và điền thổ trong làng.

các hương chức phải lo thu đủ số thuế này. còn về thuế làng mỗi làng tùy theo hoàn cảnh kinh tế của dân xã mà thêm, nhưng việc thu này, các hương chức cũng phải căn cứ theo tục lệ, không phải có quyền tự do muốn ấn định bao nhiêu cũng được.

Thường số thu còn tùy theo từng người giàu nghèo, địa vị cao thấp trong làng xã, và cũng tùy nhu cầu hàng năm của dân làng.

những năm trong làng có việc cần thiết phải chi tiêu, thì ngoài tiền thu trong dịp thu thuế dân làng có thể bổ thêm vào dân đinh và điền thổ hoặc thu thuế bến đò, thuế chợ để lấy tiền đủ

chi dùng cho việc làng, và đây chỉ là những việc cần thiết như

đắp đê, sửa đường, sửa đình, chữa chùa làng v.v... Lại còn các tiền lệ phí khác nữa.

Theo tục lệ, làng thường thu các sắc thuế và lệ phí sau đây.

Thuế thân

Thuế thân là một thứ thuế đánh vào các dân đinh khỏe mạnh từ 18 tuổi đến 60 tuổi, ngoại trừ những người tàn tật hoặc những người đã được miễn theo luật lệ. Đàn bà không phải chịu thuế

này. Thuế này trước thời pháp thuộc, tô thuế thay đổi tùy từng thời đại, nhưng đến thời pháp thuộc cho đến năm 1937, mỗi xuất thuế là 2$50, không phân biệt giàu nghèo.(1) Thuế này nộp cho nhà nước, nhưng theo lệ làng, làng có thể thu thêm của mỗi xuất một món tiền phụ thu cho quỹ làng. Tiền phụ thu này, có xã thu đồng đều, nhưng thường thì phân làm nhiều hạng, giàu nghèo đóng khác nhau.

Diện hình và Tổ chức

Từ năm 1937, thuế thân được người pháp ấn định lại, và những cùng đinh phải nộp mỗi năm 1$00, những người giàu có phải nộp tối đa 250$, cho quỹ nhà nước. Số phụ thu nộp cho làng được tính theo thuế chính, và do chính quyền ấn định, không cho dân được phép tự ý thu như trước.

Trên thực tế, sổ đinh của mỗi làng không ghi đủ số dân đinh nên vẫn có sự ẩn lậu, và sự ẩn lậu này, sở dĩ có vì dân làng cần thu đủ số thuế theo sổ đinh để nộp cho nhà nước, nhưng có nhiều người dù chỉ là 2$50 một năm cũng không có tiền nộp, và làng phải gánh phần của những người này. Số đinh ẩn lậu để bù vào chỗ những người có tên trong sổ đinh mà không tự

đóng thuế nổi.

Thuế điền trạch

Đây là thuế đánh vào ruộng nương, vườn tược đất cát. ngoài phần thuế phải nộp cho triều đình, mỗi mẫu đất, mỗi mẫu ruộng đều phải nộp thêm thuế cho làng, số thuế căn cứ theo hoa màu và nhà cửa đất trên các thửa đất, không kể chủ ruộng chủ đất giàu hay nghèo.

Về thuế ruộng tuy căn cứ theo hoa màu, nhưng cũng lại thay đổi theo hạng ruộng tốt xấu, mỗi mẫu ruộng một năm theo hương ước phải nộp cho làng một số thóc là bao nhiêu, số thóc này được tính thành tiền theo thời giá, và mỗi làng sẽ thu thuế của chủ ruộng theo giá biểu này. còn về các hoa màu khác, trong hương ước cũng ấn định số hoa màu phải nộp cho làng tùy theo loại ruộng màu và tùy theo loại hoa màu được trồng. Hoa màu cũng như thóc tính thành tiền theo thời giá, và các chủ vườn ruộng phải nộp thuế theo giá biểu đã tính.

cũng có làng, các chủ ruộng đất không phải nộp tiền mà nộp 1. Đồng tiền ngày xưa có giá. 2$50 tương đương với 2.500$ vào năm 1967.

thẳng thóc lúa và hoa màu. Làng thu số thóc lúa và hoa màu rồi đem bán, tiền xung quỹ làng.

Về nhà cửa, tức là thuế thổ trạch của nhà nước, các chủ nhà phải nộp một số thuế ấn định cho mỗi loại nhà ngói hoặc nhà tranh.

Tiền lệ phí

Làng nào cũng vậy, ngoài những món tiền trên, có những món tiền dân làng phải nộp gọi là tiền nộp lệ. Tiền nộp lệ có nhiều loại: lệ cheo, lệ tang, lệ khao vọng v.v...

lệ cheo là lệ phải nộp khi trai gái thành hôn.

lệ cưới xin phải nộp tiền lan nhai cho làng, tục gọi là nộp cheo. Người trong làng lấy nhau thì nộp độ một vài đồng bạc gọi là cheo nội; người ngoài lấy gái làng thì bao giờ cũng phải nộp nặng hơn, hoặc dăm sáu đồng, hoặc mười đồng, hoặc một vài chục tùy theo tục riêng từng làng gọi là cheo ngoại. Có nơi không lấy tiền, bắt nộp bằng gạch bát tràng, hoặc nơi thì nộp mâm đồng bát sứ, tùy làng cần dùng thức gì thì nộp thức ấy, nhưng chiếu giá tiền thì sơ sẩn như nhau.(1) Đây là lệ cheo làng, có nhiều địa phương ngoài cheo làng, còn lệ cheo xóm, cheo bản tộc, cheo bản thôn v.v... Tiền lệ cheo xóm, cheo bản tộc, cheo bản thôn thường ít hơn tiền lệ cheo làng. Đối với việc hôn nhân lệ cheo công nhận sự phối hợp của đôi bên nam nữ. chưa nộp cheo, làng chưa cấp phái cheo, việc cưới xin kể như chưa hoàn tất cũng như thời nay chưa làm giấy giá thú vậy. ca dao có câu:

Có cưới mà chẳng có cheo,

Dẫu rằng có giết mười heo cũng thừa.

lệ táng phải nộp môi khi có đám táng. nhà nào có người chết phải trình làng để xin phép chôn. có trình làng mới được phép 1. Phan Kế Bính. - Tài liệu đã dẫn.

Diện hình và Tổ chức

động thổ đào huyệt. phải nộp cho làng một món tiền, to nhỏ tùy theo lệ từng xã. có nơi phân biệt tiền lệ táng phải nộp để được làm ma với tiền lệ động thổ để đào huyệt. những người nghèo không làm ma chay đám tang to tát, không phải nộp tiền lệ táng, mà chỉ

phải nộp tiền lệ động thổ. Đối với những người cùng đinh nghèo quá, không có tiền nộp, làng có thể cho miễn, nhưng vẫn phải trình làng trước khi an táng người chết. những trường hợp người quá nghèo, có khi dân làng còn giúp đỡ tiền bạc trong việc tang.

lệ khao vọng là lệ phải nộp khi lên ngôi thứ, khi nhận chức việc, khi ăn mừng thi đỗ v.v... Tóm lại, mỗi khi có việc vui mừng, các đương sự mở tiệc ăn khao thì phải nộp cho làng một món tiền gọi là tiền lệ vọng. Món tiền này to nhỏ tùy theo từng xã và cũng tùy theo từng việc khao vọng. Thí dụ như một người đến tuổi lên lão theo lệ làng phải nộp món tiền, khi ra chốn đình trung mới được ngồi vào chỗ dành cho bậc lão lại thí dụ như một người nhận một chức việc trong ban hội đồng làng, cũng phải nộp cho làng một món tiền lệ mới được công nhận, và như vậy ở chốn hương ẩm mới được ngồi vào chỗ dành cho hàng chức việc. những người đi thi đỗ, được thưởng phẩm hàm cũng vậy, muốn được làng công nhận cũng phải nộp tiền lệ vọng.

phải nộp lệ vọng rồi mới được làm lễ khao. Vọng là bắt buộc theo tục lệ của làng, còn khao tuy cũng theo tục lệ nhưng đây là tùy các đương sự. những người túng bấn có thể chỉ nộp lệ

vọng mà không cần khao, nhưng vì vấn đề sĩ diện nên những ai đã nộp lệ vọng là có ăn khao. Việc ăn khao có thể linh đình cỗ

bàn mời làng nước hoặc làm đơn giản mời một số bạn bè với một số các hàng chức sắc trong làng. Và khi ăn khao, ngoài tiền vọng đã nộp, còn có các món lệ phí khác phải nộp nếu hương ước bắt buộc như lệ phí đốt pháo, lệ phí mổ gia súc, lệ phí mượn đồ thờ của làng để rước văn, rước sắc v.v...

Thuế chợ, thuế bến đò

những làng có chợ có thể thu thuế chợ, hoặc tính vào chỗ

ngồi của những người bán hàng, hoặc tính vào các hàng hóa và gia súc bày bán tại chợ.

Tiền thuế này, hoặc ban hội đồng cử người thu lấy, hoặc cho đấu thầu. Từ hồi pháp thuộc tới nay, lối đấu thầu được thông dụng hơn. Theo các tục lệ xưa, chỉ những người làng mới được trưng thầu thuế chợ, nhưng ngày nay, tục lệ đã thay đổi, và người nào chịu nộp thuế trưng thu nhiều có lợi cho quỹ làng là được đứng trưng thầu.

những làng ở bên cạnh sông, có khi lại thu thuế bến đò của các thuyền bè tới đậu, hoặc thu thuế của các lái đò chở khách sang ngang.

cũng như thuế chợ, thuế bến đò cũng thường được cho đấu thầu.

Trong việc đấu thầu, lẽ tất nhiên chủ thầu thường tìm cách bóc lột những người phải nộp thuế và hay có sự lạm thu, và việc lạm thu này đã gây ra nhiều sự kêu ca của dân chúng, nếu không có sự kiểm soát kỹ lưỡng của hội đồng làng.

Các lệ phí khác

Đây là tất cả lệ phí lặt vặt khác, ấn định tùy theo từng địa phương, làng này làng khác không giống nhau, có làng lấy những lệ phí này lại không lấy những lệ phí khác hoặc trái lại.

Ta có thể kể lệ phí về sát sinh mà mỗi người phải nộp khi mổ thịt một gia súc, lệ phí về đốt pháo, đánh trống đánh chiêng trong những việc vui mừng hay tang ma, lệ phí khi xin phép lợp nhà, lát sân gạch v.v...

có làng, mỗi khi dân làng đào ao, đào giếng đều phải nộp cho làng một món tiền lệ phí, không thể phải sửa lễ ra đình để

khấn xin đức Thành hoàng cho phép động thổ.

Đại khái những lệ phí lặt vặt trên thường được thu tại nhiều 206

Diện hình và Tổ chức

xã, nhưng cũng còn nhiều lệ phí khác nữa, và những lệ phí này tùy theo từng xã, như những xã ở ven rừng có thể thu của dân làng vào rừng đốn gỗ một món lệ phí cho một loại cây nào, hoặc những làng có đầm lớn hồ rộng thu của những người đánh cá một món lệ phí.

Tiền bán nhiêu, bán xã, bán hậu v.v...

nói đến nền tài chính của một xã, không thể bỏ qua những món tiền bán nhiêu, bán xã, bán hậu v.v...

chân nhiêu, chân xã, làng thường chỉ cấp cho những người có ân nghĩa với làng, và khi đã là nhiêu, là xã thì được dự hàng quan viên và được miễn các điều phu phen tạp dịch.

nhiều làng, vì cần tiền để sung vào công quỹ làm việc công ích, thường hàng năm hoặc ba bốn năm bán một số các chân nhiêu chân xã để những người giàu có trong làng bỏ tiền ra mua cho mình hoặc cho con cái.

Số tiền ấn định cho mỗi chân nhiêu chân xã tùy theo từng làng, nhưng thường là những số tiền lớn đủ dùng cho một việc công ích đáng kể.

Và tiền bán hậu cũng là những món tiền lớn. Mua hậu của dân làng, tức là nộp cho làng một món tiền để sau này khi mình chết, làng sẽ cúng giỗ. những người không con kế tự để lo việc hương hỏa thường mua hậu làng. nhiều người con gái, bố mẹ

không có con trai, không người cúng giỗ, bỏ tiền ra mua hậu để làng cúng bố mẹ.

nhiều nơi, những người giàu không con có nhiều ruộng nương thay vì mua hậu, cúng cho làng một số ruộng, số ruộng này làng sẽ sử dụng và hàng năm hoa màu thuộc về làng. Làng nhận số

ruộng này, khi người cúng ruộng qua đời, làng sẽ cúng giỗ. Ruộng này gọi là ruộng hậu. Ruộng hậu được giao cho dân làng canh tác, người canh tác hàng năm nộp cho làng một món tiền hoặc

một số thóc như tá điền nộp cho chủ điền, làng sẽ trích một số

tiền để làm giỗ cho người đã cúng ruộng cho làng.

Việc cúng giỗ những người mua hậu hoặc cúng ruộng như

trên gọi là giỗ hậu.

ngoài các khoản bán nhiêu, bán xã, bán hậu, nhiều làng còn bán thủ từ, bán đăng cai v.v...

Các khoản chi

Từ trên mới nói tới các khoản thu của làng, nhưng có thu thì phải có chi, và những việc chi phải hợp với tục lệ mỗi làng.

có thể kể các việc chi như sau:

chi về tế tự

chi về tiệc làng

chi về sửa sang nơi thờ tự và mua sắm đồ thờ

chi về khai báo

chi về nuôi lính, nuôi tuần và phụ cấp cho lý trưởng chi về cứu tế.

Trên đây là những việc chính cần phải chi, nhưng ngoài những món chi trên, cũng còn nhiều món chi linh tinh khác nữa.

Chi về tế tự

chi về tế tự gồm những món chi thường xuyên hàng ngày và những món chi về hội hè đình đám. chi tế tự thường xuyên, đó là tiền hương đăng, trầu quả hàng này tại các nơi thờ tự trong làng, còn tiền chi tiêu về hội hè đình đám là tiền bỏ ra để làng tổ chức vào đám hàng năm. Món chi hội hè này tùy theo từng năm năm nào làng mở hội to, vào đám linh đình thì khoản chi nhiều hơn những năm khác.

Chi về tiệc làng

chi về tiệc làng tức là tiền chi vào những ngày giỗ hậu và sóc vọng, hoặc trong những dịp xuân tế, thu tế làng sửa lễ tế

thần cúng hậu xong, dân làng thừa hưởng lộc thánh. Mỗi khi dân 208

Diện hình và Tổ chức

làng ăn uống, món chi đều chiếu theo tục lệ mà tiệc tùng to nhỏ, và cũng tùy từng làng. Thí dụ như giỗ hậu, làng có xôi gà trầu rượu cúng giỗ, người mua hậu lại có lễ cúng đức Thành hoàng và Thổ thần của làng. Lại tỷ như năm được mùa, lúc vào đám lớn có cúng tam sinh, tiền chi phí tất nhiên phải nhiều. những khi sóc vọng thường chỉ có vàng hương trầu rượu và trái cây hoặc vài đĩa xôi, con gà. Đồ lễ này cũng xong, chia phần cho các quan viên thụ lộc ngay tại đình.

Chi về sửa sang nơi thờ tự và mua sắm đồ thờ

Khoản chi về sửa sang nơi thờ tự và mua sắm đồ thờ là một khoản chi được dân làng hết sức lưu ý. những nơi thờ tự là đình, đền, miếu và cả chùa làng nữa.

những nơi này khi bị hư dột, nứt lở v.v... dân làng phải lo chữa ngay, để hư hỏng mang tội bất kính với Thần linh.

phải kể thêm các nơi công quán, điếm sở, khi bị hư hỏng cũng cần sửa chữa, và thuộc vào các khoản chi này. Tóm lại đây là khoản chi về tu tạo cho những công ốc, công sở của làng, mà phần chính là những nơi thờ tự.

Về những đồ thờ phải sắm, gồm các đồ thờ tại đình đền như

kiệu thần, đồ bát bửu, đồ lộ bộ. các đồ thờ này làng sắm một lần thường dùng được nhiều năm mới hư hỏng, và khi hư hỏng dân làng cũng sửa chữa, dân làng chỉ sắm đồ mới khi cần thiết.

Đồ thờ phải kể cả những hoành phi câu đối của các nơi thờ

tự, bình hương đài nến v.v... trên các bàn thờ, nhưng các tự khi này cũng ít khi phải mua sắm. Thường chỉ cờ quạt, tàn, tán, lọng và các nhạc khí như trống chiêng là dễ bị hư hỏng và mỗi khi hư hỏng không thể không sắm đồ mới được.

Chi về khai báo

chi về khai báo tức những việc chi khi làng cần khai báo gì với quan trên. Trong việc khai báo này, như làng xin phép mở

hội, làng xin phép sửa chữa, đình đền làng xin phép mở chợ

v.v... thường phải nộp một số lệ phí ấn định bởi luật lệ quốc gia.

cũng kể là chi phí về khai báo, tiền chi tiêu vãng phản của các chức việc khi đi trình báo quan trên về những việc trong làng, những việc khai báo trên hoặc những việc khác, như trong làng có cướp bóc, có dịch trâu bò hoặc có bệnh thời khí v.v...

Mỗi khoản chi phí về khai báo, ngoại trừ những món tiền ấn định bởi luật lệ quốc gia, đều do lệ làng ấn định. Một viên lý trưởng đi lên quan tiền chi phí vãng phản khác với món tiền này khi đó chỉ là một người dân phải lên quan vì việc làng.

Chi về nuôi lính, nuôi tuần và phụ cấp cho lý trưởng Đây là những món tiền dân làng chi tiêu khi có lính tráng của quan về làng, hoặc để mang một tờ sức, hoặc để bảo vệ làng trong một thời gian nào. Lính tráng của quan tuy có lương nhưng khi tới làng vì đường sá xa xôi thường được dân làng mời dùng bữa, và tiền chi tiêu này do làng đài thọ.

còn gọi là nuôi lính, khi nhà nước bắt lính, dân làng cử một số

người xung quân ngũ, trong khi chờ đợi lên quan, những người này ở tại công quán của làng, và làng phải đài thọ sự ăn uống của họ.

Trong khi những người bị làng cử đi lính thì vợ con ở nhà được làng chu cấp hoặc bằng tiền hoặc bằng ruộng để lấy hoa màu.

ngoài tiền nuôi lính, làng lại phải chi tiền lương tuần phiên, trả tiền phụ cấp cho Lý trưởng. Lý trưởng được phụ cấp, vì Lý trưởng là nhân viên thừa hành của ban Hội đồng làng, phải chịu trách nhiệm về các việc trong làng. có làng trả lương tuần phiên và phụ cấp lý trưởng bằng cách cấp cho ruộng công để lấy hoa lợi.

Chi về cứu tế

Trong làng thường có những người bệnh tật không có sinh kế, lại có những người vì việc làng mà mang tật nguyền. Đối với những người này, làng trích quỹ giúp đỡ.

Diện hình và Tổ chức

Hoặc trong làng có tai nạn như đổ nhà, đổ tường làng cũng giúp đỡ các nạn nhân nghèo khó.

Hoặc trong làng có cướp bóc, có người hết lòng đánh cướp bị

bỏ mạng, cũng như khi nước lên có người vì cứu đê mà bỏ mạng, những người này được làng lo ma chay, và chu cấp cho vợ con.

có nhiều làng lại dành cả tiền để giúp đỡ học trò nghèo nhưng học giỏi. ngày xưa mỗi khoa thi, những sĩ tử đi thi phải tốn kém vì tiền lộ phí. Đối với những người quá túng bấn mà được tiếng là học giỏi, không lo nổi món tiền lộ phí, làng cũng giúp, nếu người này thi đỗ, làng được tiếng với các xã lân cận.

Kể cả về cứu trợ, làng còn chi nhiều món khác như tiền giúp đỡ tống táng những kẻ nghèo không con cái, tiền giúp đỡ các cô nhi quả phụ v.v...

*

* *

Dân làng có thu có chi, nhưng xưa kia không mấy nơi ai sổ

chi thu đồng niên. Khi nào có việc tu tạo to tát thì mới có sổ, đóng độ vài chục tờ giấy bản, biên những số tiền mua bán vật liệu hoặc chi phí sự gì, và các món nhập khoản. Đến lúc hoàn thành thì dân làng chiếu sổ hội tính một lượt, thừa thì để lại gửi một người giữ tiền, thiếu thì bổ thêm mà đóng với nhau, thế là xong việc, không cần gì đến sổ nữa. Còn như các việc tế tự thì lý trưởng, hoặc đăng cai hoặc phần thu phải thừa biện trước, chi tiêu những gì biên vào mảnh giấy, đợi dân làng họp đông thì tính toán, bổ bán mà trả lãi. (1) Sau này, dưới thời pháp thuộc, việc tài chính của các làng bắt đầu bị kiểm soát, và mỗi làng đều bắt buộc phải có sổ chi, thu, để tránh sự lạm thu cũng như những sự chi tiêu bừa bãi của Lý trưởng và của Hội đồng kỳ mục. Trên nguyên tắc thì như vậy, 1. Phan Kế Bính. Tài liệu đã dẫn.

nhưng trên thực tế dân làng sống với nhau đã quen lệ từ xưa, có nhiều việc chi thu không hề được ghi vào sổ chi thu, nhất là những việc chi thu về lễ bái.

Lễ bái cốt ở sự thành tâm, do đó, nhiều khi trong sổ chi thu chỉ ghi một món tiền nhỏ, nhưng thực việc chi tiêu có thể lên gấp năm mười lần. Dân làng đã tự động đóng góp, có khi có sự

kêu gọi của Hội đồng kỳ mục, có khi việc lễ bái cứ thực hiện rồi dân làng sẽ tự bảo nhau đóng góp.

nhiều khi trong những sự bổ bán đóng góp, người dân trong làng phải gánh vác một phần có thể coi là nặng nề, nhưng họ

không hề oán thán kêu ca, và họ vui lòng chịu phần làng đã bổ

bán. Họ tin ở sự phân chia hữu lý về trách nhiệm cũng như về

quyền lợi của dân làng của Hội đồng làng. nếu họ có thấy rằng họ phải gánh vách nhiều hơn các bậc đàn anh, họ vẫn cho đó là một điều hợp lý vì những người đã đóng góp về phần trách nhiệm nhiều, thì về phần tài chính họ gánh phần nhẹ hơn cũng chỉ là một sự công bằng. Về lễ bái, nhiều người còn đóng góp nhiều hơn phần bổ bán của làng. Ở đây, chính do sự thành tâm của họ đối với sự tế tự.

có người sẽ bảo rằng nếu dân làng cứ chịu phần gánh vác mà không kiểm soát sự chi thu của các bậc đàn anh, tránh sao khỏi sự hà lạm? Không phải sự hà lạm là không có, nhưng xưa kia trước thời pháp thuộc, khi căn bản đạo đức còn vững bền, các bậc đàn anh thường là những người xuất thân ở những nơi đạo đức, họ không nghĩ đến sự hà lạm. Và cả đến dân làng nữa, với nếp sống thuần phác, họ không bao giờ có ý nghi kỵ các bậc đàn anh, và cho rằng họ biết có sự hà lạm đi nữa, họ cũng chịu, và họ nghĩ rằng các đàn anh gánh vác việc dân việc làng, phải có quyền thụ hưởng ít nhiều quyền lợi vật chất. Kể từ thời pháp thuộc, nền đạo đức suy giảm, những tay sai của người pháp dần dần được đặt vào những địa vị lãnh đạo dân làng, sự hà lạm mới 212

Diện hình và Tổ chức

bành trướng và mới xâm phạm nhiều tới quyền lợi của người dân. Để kìm hãm một phần nào sự hà lạm này, sổ chi thu hàng xã được thiết lập với ngân sách xã.

TạP lỆ

Đây là các lệ khác của dân làng ghi trong hương ước, nhưng không xếp được vào các mục trên.

Tuy gọi là tạp lệ, nhưng có nhiều tục lệ rất quan trọng đối với đời sống người dân hàng xã.

Trong các tạp lệ này, có thể kể tới những tục lệ về an ninh, cũng như các tục liên quan tới thuần phong mỹ tục của dân ta.

Về an ninh, hương ước có những điều cấm tụ tập những kẻ

gian phi, cấm chứa gá cờ bạc, hoặc những điều bắt buộc phải khai báo khi có khách lạ tới ngủ đêm ở nhà.

những tục lệ liên quan tới thuần phong mỹ tục có thể kể được những điều bắt buộc đàn ông trong làng phải lấy luân lý mà sửa mình, phải có nghề nghiệp làm ăn, không được du thủ du thực, còn đàn bà con gái không được trăng hoa ong bướm làm mất giá trị con người vì những trò trên bộc trong dâu.