Làng Xóm Việt NamPhần 15

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Thường ở hai bên vách nhà bái đường, có xây mười động của Thập điện Diêm Vương, cũng nhiều chùa không có những động này.

hàNh lANg

Ở hai bên chùa là hai dãy hành lang, mỗi bên có chín pho tượng to bằng người thật: đây là Thập bát la hán.

TăNg ĐườNg

Hai dãy hành lang ăn thông vào Tăng đường còn gọi là nhà Tổ ở phía sau chính điện. Tại nơi đây có bàn thờ các vị sư tổ

đã truyền đạo sang nước ta, trong số đó có đức Bồ đề Đạt Ma gọi tắt là Tổ Đạt Ma hay Tổ Tây.

Lại cũng có bàn thờ các vị sư tổ đã tu tại ngôi chùa nhưng đã tịch.

Điều đáng chú ý là ở nhà Tổ, ngoài các bàn thờ trên lại có cả bàn thờ chư vị, các vị thần không liên quan gì tới đạo phật như Đức Ông, Thánh Mẫu, ông Hoàng, bà chúa, bà cô v.v...

Nhà hậu

phía sau chùa, có nhà hậu để thờ những người mua hậu chùa.

Ở hai bên nhà tổ là các tăng phòng của tăng ni và phương trượng để tiếp khách.

Đại để, mỗi ngôi chùa đều được xếp đặt qua các kiến trúc

trên, tuy có nhiều chùa rộng lớn hơn hoặc hẹp hơn được xếp đặt hơi khác, nhưng bao giờ cũng gồm chính điện với bàn thờ

phật, nhà bái đường, hai dãy hành lang, nhà thờ Tổ, các tăng phòng, và đằng trước có nhà tam quan.

Đứng đầu mỗi ngôi chùa là một vị hòa thượng được gọi là sư cụ nếu là chùa có các sư nam hoặc một sư cụ bà nếu là chùa có các sư nữ.

hỆ ThốNg TăNg NI

các tăng ni có một hệ thống trật tự giống nhau tại khắp các chùa.

Lúc mới quy y là sa di hay tiểu sa môn gọi là chú tiểu, hay diệu.

Trên hạng sa di là hạng trung sa môn, tục gọi là sư bác, sư

thầy. Trên nữa là sư ông được gọi là thượng tọa, đã là bực kỳ

cực trong tăng hội.

Trên sư ông là sư cụ, còn gọi là hòa thượng hoặc kiết ma, đứng đầu chùa, chịu trách nhiệm về công việc điều khiển nhà chùa, cắt đặt nhiệm vụ cho các tăng ni.

nhiều chùa cùng ở một địa phương chịu sự chi phối của một vị Hòa thượng đứng đầu các vị Hòa thượng khác(1) Muốn lên đẳng cấp trong nhà chùa các vị sư thường phải qua các kỳ thi trong môn giáo.

Tăng ni tu riêng chùa, chùa nào của sư nữ chỉ có toàn sư nữ, chùa nào của sư nam chỉ có toàn sư nam.

Tu ở chùa các tăng ni phải lo việc đèn nhang, trông nom việc thờ phụng, ngày ngày học kinh kệ, làm những công việc của nhà chùa.

Dân làng thường đến chùa lễ phật, nhất là trong những ngày tuần tiết. những gia đình có tang ma thường cúng tuần tứ cửu ở chùa.

1. Về trật tự tăng ni, có người cho vị hòa thượng đứng đầu các hòa thượng này là Thượng tọa, còn sư ông cũng chỉ là sa môn.

Diện hình và Tổ chức

nhiều chùa hàng năm có mở hội vào ngày lễ vị sư tổ đầu tiên. Hội chùa thường chỉ có lễ bái và kinh kệ. Kẻ tu hành thường ăn chay, phải theo năm điều cấm tức là ngũ giới: không sát sinh, không trộm cắp, không gian dâm, không vọng ngôn, không dùng rượu thịt.

các tăng ni khi thường thì bận áo nâu ở miền Bắc áo chàm ở miền Trung và áo vàng ở miền nam.

Khi làm lễ, các nhà sư mặc áo cà sa, đội mũ tỳ lư, tay phải cầm pháp trượng, tay trái cầm bông sen giả.

ngày ngày, sớm và chiều, các tăng ni phải thắp hương đèn lễ phật, đánh chuông, gõ mõ, tụng kinh.

Mỗi năm vào ngày vía phật, tức ngày phật đản và ngày tết Trung nguyên các chùa làm lễ rất to, ngày phật đản để kỷ niệm đức phật ra đời, tết Trung nguyên để giải oan và siêu độ cho các linh hồn.

ngoài việc lễ phật ở chùa, các tăng ni thường được dân làng mời tới làm lễ ở các nhà riêng, trong những khi có người đau yếu thì mời làm lễ tụng kinh để cầu bình an, và trong những đám táng thì mời làm lễ siêu độ.

Mỗi năm vào tuần kết hạ từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy và vào tuần kết đông từ rằm tháng mười đến rằm tháng chạp, các tăng ni phải cấm túc, nghĩa là phải ở luôn trong chùa mà tụng niệm.

Thỉnh thoảng tăng chúng lại tổ chức những buổi hội lớn để mời các vị cao tăng đạo đức đến thọ giới cho các sa di để lên sa môn.

cuộc hội này gọi là Trường kỳ. các vị cao tăng được gọi là Đại đức.

gIà lAm

có chùa thì thường có sư, nhưng cũng có nhiều chùa thanh vắng quá, người lễ bái không bao nhiêu, chùa lại nhiều không có ruộng đất để một vài vị sư có thể sinh sống được, nên không

có tăng ni trụ trì. Tuy vậy chùa vẫn không bị bỏ hoang và vẫn có người sớm tối đèn nhang, và khi có khách tới lễ chùa, vẫn có người thỉnh chuông đánh khánh.

những người giữ việc đèn nhang ở các chùa này là các thầy già lam. các thày già lam không phải ở chùa và không bắt buộc phải ăn chay, có thể ở nhà mình, ngày ngày tới chùa lo việc hương đăng.

những lộc của chùa thày già lam được hưởng.

Trong những ngày sóc vọng tuần tiết, thày già lam phải giữ

mình cho thanh tịnh.

Cư Sĩ

Tin theo phật, dân làng tới chùa lễ phật. Không đi tu mà tin theo phật là những ưu bà, nam là ưu bà tắc hoặc ưu bà sa, nữ là ưu bà di.

các ưu bà thờ phật ở nhà. Trong những ngày tuần tiết sóc vọng, các ưu bà tới chùa lễ phật tụng kinh. ngày nay, danh từ

cư sĩ được dùng thay cho hai chữ ưu bà. ngoài các cư sĩ, lại còn các phật tử là tất cả những người tin theo đức phật. cư sĩ

thường ăn chay một tháng mấy ngày, còn các phật tử không bắt buộc phải ăn chay.

Đạo phật ngày nay đang trong thời kỳ chấn hưng, tại các làng quê, việc thờ phật vẫn được dân quê theo giữ, và các chùa luôn luôn có các thiện nam tín nữ tới nghe kinh và lễ phật.

Trong việc thờ phật, dân làng luôn luôn rất chân thành. Hàng năm, vào đầu mùa hạ, để cầu sự bình an cho dân làng, người ta có làm lễ kỳ an, tục gọi là lễ cầu mát. Trong lễ này, người ta có lễ phật và cầu chư vị thần thánh phù hộ cho dân làng được bình yên, không bị những chứng bệnh thiên thời mà người ta tin là do các Ôn chúa gây nên để bắt binh lính.

Việc cúng cầu mát để mong cho dân làng tránh được các chứng bệnh thiên thời là một điều thành khẩn của mọi người 254

Diện hình và Tổ chức

dân quê. Với sự tin tưởng ở thần quyền, việc cúng bái này có một ảnh hưởng tinh thần tốt đẹp là gây lòng tin tưởng ở người dân; với sự tin tưởng này, con người khả dĩ có thêm sức mạnh để kháng bệnh. Tuy nhiên, tại nhiều nơi sự cúng cầu mát đã biến thành một tục mê tín dị đoan có hại và đã làm đầu đề cho nhiều sự chế giễu của nhiều người, vì nhiều khi thay vì đem lại sự yên ổn lại cho dân làng, lễ cúng cầu mát đã là nguồn gốc cho các chứng bệnh thiên thời bắt đầu, vì trong lễ cúng này có các đồ lễ bị phơi bày cho ruồi nhặng bu vào; những đồ lễ này, sau đó dân làng cùng hưởng, đã có những người mắc bệnh thiên thời do ruồi nhặng truyền vào thức ăn. Lại có khi, có một số người lợi dụng lễ cầu mát để thủ lợi cho mình.

thờ ĐứC khổNg tử

Về tế tự tại các làng xóm, còn phải kể tới việc cúng tế của dân làng tại văn chỉ hoặc văn từ nơi thờ phụng đức Khổng Tử, các vị tiên hiền và các bậc khoa hoạn trong làng, hàng năm vào các dịp xuân tế và thu tế.

Văn chỉ hoặc văn từ là một đàn xây thường ở đầu làng. nơi đây thay vì hương án có bệ xây. Đàn có mái hoặc lộ thiên, có mái là văn từ, lộ thiên là văn chỉ.

Văn từ và văn chỉ thường được xây trên một gò cao, ở nơi phong cảnh thanh nhã êm đềm.

Văn từ hoặc văn chỉ có ba lớp:

Lớp trong cùng thờ đức Khổng Tử, được mọi người tôn làm Tiên thánh sư, chủ trương cho việc văn học trong làng. Lớp này gồm một ban xây thay cho hương án, hai bên có những đôi câu đối, và ở trên nếu là văn chỉ thì viết ngay vào tường, nếu là văn từ thì có hoành phi mang mấy chữ đại tự “Vạn Thế Sư Biểu”

hoặc “chí Thánh Tiên Sư”.

Trên ban có bình hương riêng. Không có bài vị nhưng mấy chữ đại tự trên đủ thay cho bài vị.

Lớp thứ hai gồm ba ban, một ban ở giữa và hai ban ở hai bên.

cả ba ban này đều xây bằng gạch thay cho hương án.

Ban ở giữa thờ những người làng đã đỗ Đại khoa từ Tiến sĩ

và những người làm quan từ tam, tứ phẩm trở lên.

các bậc tiên hiền nước ta như chu Văn An, Hàn Thuyên đều được thờ ở ban này. các người Trung Hoa có công truyền bá nho giáo sang Việt nam như nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ nhiếp cũng được thờ ở đây.

Ban bên phải thờ những người làng đã đỗ Trung khoa từ cử

nhân và những người làm quan từ lục, thất phẩm trở lên.

Ban bên trái thờ những người làng đã đỗ Tiểu khoa từ Tú tài và những người làm quan cho đến bát, cửu phẩm.

Việc phân biệt ba ban trên gọi là liệt tự, nghĩa là liệt hạng để thờ phụng. Ba ban phân các hạng được dân làng thờ làm ba hạng nhất, nhì, ba có bia ghi rõ ở văn từ hoặc văn chỉ.

Lớp thứ ba là Bái đình, sân dùng trong việc tế tự.

Trong việc phụng thờ liệt tự, các hào mục, tổng lý, các ông đồ

trong làng không có chân khoa bảng không được ghi tên trong bia của dân xã nhưng trong khi tế tự, thường dân làng vẫn khấn mời cả các vị này tới phối hưởng.

như trên đã nói, tại các văn chỉ và văn từ hàng năm dân làng có tế hai lần gọi là xuân tế và thu tế. ngoài ra trong dịp kỷ niệm đản sinh đức Khổng Tử, cũng có làng làm lễ tại văn từ hoặc văn chỉ.

ngày xưa, năm nào có khoa thi, các sĩ tử trong làng họp nhau tới lễ tại văn từ hoặc văn chỉ, gọi là lễ kỳ khoa. có nhiều nơi cả

làng đều làm lễ để cầu cho xã mình được nhiều người đỗ đạt.

Khi thi xong, các ông tân khoa đều ra lễ tại văn từ hoặc văn chỉ để tạ ơn đức chí thánh tiên sư và các bậc tiên hiền.

Diện hình và Tổ chức

Tục lễ lễ văn từ văn chỉ của các thí sinh và tân khoa còn được giữ dưới thời pháp thuộc cho cả các kỳ thi của nền học mới tại nhiều nơi.

các người có con đi học vỡ lòng cùng với đồ lễ tới nhà ông đồ, xưa kia, cũng dắt con mang đồ lễ tới văn từ hoặc văn chỉ

để khấn xin cho con được học đạo Thánh. Đứa trẻ sắp đi học khai tâm sau khi người cha khấn lễ xong, cũng lễ trước bàn thờ

các vị thánh hiền.

Đạo Khổng duy trì đạo đức cho con người, dân chúng thờ

phụng đức Khổng Tử và tôn trọng đạo ngài.

ngày nay, mặc dầu thời thế đổi thay, ảnh hưởng đạo Khổng tuy bị suy giảm trong dân chúng, nhất là trong bọn người mất gốc bị mù quáng bởi cái vỏ của nền văn minh xảo kỹ của người Tây phương, nhưng đạo đức vẫn là đạo đức, và những người có căn bản dân tộc không bao giờ quên sự duy trì đạo đức, và mặc dầu phải hòa mình với nếp sống hiện tại, cái tinh thần đạo đức vẫn vững trong bất cứ trường hợp nào.

thờ CáC tháNh Sư

ngoài các sự thờ cúng đã trình bày ở trên, tại Việt nam còn một sự sùng bái nữa rất trọng yếu là việc thờ cúng các tổ sư

bách nghệ.

Làng nào theo nghề nào thường có miếu thờ vị tổ sư của nghề

đó, và riêng những người hành nghề, trong nhà đều có bàn thờ

Thánh sư còn gọi là Nghệ sư.

Vị tổ sư một nghề, hoặc là người thủy tổ phát minh ra nghề

ấy, hoặc là người thứ nhất đem nghề ấy ở nơi khác truyền lại cho dân chúng làng nào hay miền nào. Thường người ta không biết vị tổ sư ấy là ai, và người ta cứ coi vị tổ sư như một vị thần bảo hộ cho nghề nghiệp.

Bởi vậy, thờ Thánh sư tại nhà gặp những ngày tuần tiết sóc vọng, giỗ tết, ngoài lễ cúng gia tiên và Thổ công, gia chủ còn cúng cả Thánh sư.

Trong một năm, lễ cúng Thánh sư quan trọng nhất nhằm vào ngày kỵ nhật của Thánh sư, đối với những vị mọi người đều biết, hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường hoặc trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của ông Tổ nghề mình.

những người cùng làm một nghề thường sống thành phường.

Trong làng có thể có nhiều phường khác nhau nếu dân làng theo nhiều nghề.

ngày kỵ nhật của vị Thánh sư tại các phường còn được gọi là ngày giỗ phường. các phường có lập miếu riêng, trong trường hợp cả làng đều theo một nghề, thì cả làng chỉ có một miếu, và có khi vị Thánh sư lại chính là vị Thành hoàng làng.

ngày giỗ phường, các phường viên họp nhau tại miếu, làm lễ

Thánh sư, rồi cùng kéo nhau về một nhà đăng cai để làm cỗ ăn uống.

Mỗi khi bắt đầu kinh dinh một việc quan trọng cùng khi hoàn thành công việc người ta đều phải làm lễ tổ sư. (1) có nhiều nghề, ở một vài nơi, như thợ mộc, thợ nề làm nhà, thợ đóng ghe thuyền, thợ xe nước ở Quảng ngãi, ngoài hai lễ

bắt đầu và hoàn tất nói trên, trong khi đương làm công việc còn phải làm nhiều các lễ khác để cầu xin Thánh sư che chở cho.

ngày xưa, quân lính ta có lễ tế cờ, cũng có thể coi là một loại lễ Thánh sư của nghề chinh chiến vậy.

nhân nói về sự thờ cúng Thánh sư, xin đơn cử một vài thí dụ

về các vị Thánh sư đã dạy nghề cho dân nhiều làng xã tại nước ta: 1. Đào Duy Anh. Sách đã dẫn. Làm lễ để cầu Ngài phù hộ cho công việc được xuôi xẻ, buôn may bán đắt, hoặc lúc đi đường xa tránh được mọi sự rủi ro, cũng như làm lễ tạ ơn khi công việc đã có kết quả tốt đẹp.

Diện hình và Tổ chức

Ba anh em các ông Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền, người làng Đinh công, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (Hà Tây), đã truyền cho dân nghề kim hoàn từ đời Lý nam Đế.

Ông phạm Đôn, người làng Thanh nhạn, huyện Kim Anh, tỉnh phúc Yên (Vĩnh phú), mang nghề dệt chiếu từ làng ngọc Hồ tỉnh Quảng Tây bên Tàu về truyền cho dân Việt nam, bắt đầu là làng Hải Thiện, tỉnh nam Định (Hà nam ninh) vào cuối thế kỷ thứ X.

Hòa thượng Khổng Lộ cùng hai học trò là phạm Quốc Tại và Trần Lạc trụ trì tại chùa phả Lại, Hải Dương (Hải Hưng) dạy dân ta nghề đúc đồ đồng về đời vua Trần Thái Tôn, 1226.

Ông Trạng Bùng tức phùng Khắc Khoan dạy dân nghề dệt the lụa vào đời vua Lê Kính Tôn, 1600.

Trên đây chỉ là mấy thí dụ. các nghề khác còn có các vị

Thánh sư khác.

những người hành nghề, ngoài các trường hợp cúng lễ đã nêu trên, mỗi khi gặp sự trắc trở đều làm lễ kêu khấn Thánh sư để

được phù hộ cho gặp may mắn. Ta có các thành ngữ Tổ độ và Tổ trát để chỉ những người gặp may mắn được Tổ sư thương phù hộ cho hoặc không may bị thua lỗ bởi sự trừng phạt của Tổ.

thờ Chư thầN thiêN NhiêN và CáC thầN kháC

Trong việc thờ cúng của ta, ta còn thờ tất cả các thần thiên nhiên đã phù hộ giúp đỡ ta với sức mạnh vô hình: sấm, sét, gió, mưa, nước, lửa, núi sông v.v...

Ta lại cho là các cây to, đá lớn cũng có thần. những hòn đá hình thù kỳ quái ở trong hang động hay ở trước cửa đình cửa chùa đều có thần và đều có sự thờ phụng; ta hằng bắt gặp trước những hòn đá một bát hương kê trên mấy trăm vàng mã, lại có bên cạnh đôi hài, cái nón, con ngựa mã v.v...

những người đi sông biển gặp những hòn đá ở giữa ghềnh hoặc

ở bờ biển, có thể gây tai nạn cho ghe thuyền đều cho là có thần, và mỗi khi đi qua những nơi này người ta thường đốt vàng hương khấn vái. Dân các xã ven sông biển, tại những nơi này, thường lập miếu thờ. Ta lại thờ cúng cả thần Sóng, như trước đây tại phá Tam Giang, tục truyền có ba thần Sóng Ông, Sóng Bà và Sóng con.

Tại nhiều làng vùng núi ta lại bắt gặp những miếu thờ Thần Hổ, và nhiều làng ven biển thường có những miếu thờ nam Hải tướng quân, tức là cá Ông.

những người mắc bệnh, cho nhiều chứng bệnh có những thần hoặc ma riêng như thần cúm gieo bệnh cúm, ma Tịt gây bệnh tịt v.v... thường cúng ông cúm bà co, ông Tịt bà Tịt hoặc các thần và ma khác để cầu hỏi bệnh.

Đối với các vị thần thiên nhiên cũng như các vị thần khác nói trên, việc tế tự có khi do cả dân làng, hoặc có khi chỉ do một vài tư nhân. Tại những làng có thờ cá Ông như làng Kiến phước, quận Hòa Tân, tỉnh Gò công (Tiền Giang), việc tế tự

do toàn xã phụ trách, và hàng năm vào ngày rằm tháng sáu âm lịch dân làng có mở hội tế cá Ông.

Việc thờ cúng các vị thần thánh là do tín ngưỡng và việc tế

tự chỉ là cách cụ thể hóa lòng tín ngưỡng, tuy nhiên, nhiều khi với lòng chân thành chất phác của người dân quê, trong sự sùng bái tin tưởng không khỏi có lẫn tính chất mê tín dị đoan! nhưng làm sao được, nói đến tín ngưỡng tất nhiên có nhiều điều mâu thuẫn và huyền hoặc, nhưng thường tất cả những điều huyền hoặc và mâu thuẫn lại là thể chất của tín ngưỡng. Và trên lãnh vực tín ngưỡng, có nhiều lý lẽ riêng mà lý lẽ và cả khoa học nữa không giảng giải nổi dù đủ sự chứng minh.

Vậy, đối với sự tế tự của dân chúng các làng xã, chúng ta nên thận trọng để tránh phạm tới tín ngưỡng của mọi người.

những điều mê tín dị đoan, ta phải chờ sự giác ngộ của chính những người đang tin.

Diện hình và Tổ chức

TàI LIệU Đọc THêM

lễ Cầu mát

S ự cúng cầu mát, như đã để dân làng được yên trong vụ

trình bày, đã biến thành

nắng hè, nghĩa là trong vụ các

một tục mê tín dị đoan ở nhiều

quan âm đi bắt lính.

nơi, và đã làm đầu đề cho

Nhớ lại mùa hè năm ngoái,

nhiều sự chế giễu. Dưới đây

dân làng chỉ chậm cúng cầu

xin trích một bài về lễ này,

mát mà có ngay mấy người đi

rút trong cuốn “Trong lũy tre

tả, các người này có kẻ chết

xanh” (xuất bản lần thứ hai tại

người sống, ai khéo lễ bái van

Sài Gòn vào năm 1960).

xin thì sống còn ai không chịu

Trời đã sang đầu tháng tư.

cầu cúng đều bị các quan bắt

Nắng đã bắt đầu gắt và trên cây chết.

đàn ve đã ra rả kêu.

Năm nay để tránh sự tai hại

Sau mấy tháng xuân ấm áp,

cho dân làng, các cụ định cúng

cái nắng đầu hạ thật là khó

cầu mát ngay từ đầu tháng

chịu. Nhiều người như thấy mỏi tư. Việc lễ bái càng sớm càng mệt, và đã lác đác có người đau

hay vì càng chứng tỏ được lòng

ốm. Ở một đôi xóm trong làng,

thành của người cúng lễ.

có một vài bà đi chợ về tự nhiên

Năm nào chẳng vậy, từ đầu

đau bụng, phải cúng lễ và xoa

tháng tư là các quan Ôn ở dưới

dầu nóng mới khỏi! Cái tháng

âm được lệnh đi bắt lính ở trên

tư năm nào cũng mang theo sự

dương gian. Tốt lễ dễ van, nơi

đau ốm như vậy.

nào chịu cúng kiến thì có thể

Ban Hội đồng trong làng

được các quan tha cho và đi bắt

đã họp bàn về lễ cúng cầu mát

lính ở nơi khác.

Việc bổ bán đóng góp và trích chác được một món. Rõ bọn quỹ làng đã xong. Bàn thờ cúng

buôn thần bán thánh.

cầu mát đã được thiết lập ngay

Người dân, trước những lời

gần chợ, trên một bãi đất rộng,

dèm pha của vài kẻ xấu miệng,

rất tiện cho dân làng tụ họp.

chỉ gạt đi và bảo:

Dân trong làng, kẻ giàu

Ai gian trá người đó có tội

người nghèo, ai nấy đều vui

với thánh thần. Mình là dân

lòng gom góp suất tiền ban Hội

làng chỉ biết đóng góp cho thành

đồng bổ cho và ngoài ra còn rất

tâm để việc lễ bái được chu đáo.

nhiều người cúng thêm tiền để

Những kẻ xấu miệng cứ dèm

việc lễ bái được rộng rãi.

pha, ban Hội đồng vẫn cứ thu

Một vài kẻ xấu miệng nói

tiền, dân làng vẫn cứ đóng tiền

dèm ban Hội đồng:

và lễ cầu mát vẫn cứ thành tựu.

Cầu mát với cầu ấm, mấy

Bàn thờ đặt trang nghiêm

lão trong ban Hội đồng chỉ

trên một hương án sơn son thiếp

chuyên thu tiền dân nhiều mà

vàng. Giữa bàn thờ là mấy cỗ

tiêu ít.

mũ ngũ sắc đặt trên những

Rồi họ làm phác con tính số

trăm vàng thoi cũng ngũ sắc.

tiền thu được theo đầu người,

Một đỉnh trầm nghi ngút tỏa

chưa kể những người hằng tâm

hương thơm ngào ngạt đặt trước

hằng sản cúng thêm. Họ lại

những cổ mũ này. Một bên là

phác cả con số chi về lễ vật, về

một mâm bồng đầy hoa quả,

vàng mã và về cả các chi phí

một bên là cỗ xôi con gà và trầu

lặt vặt. Số thu chênh lệch số chi

rượu. Lại có những nghìn vàng

nhiều quá. Thu nhiều, tiêu ít,

hoa bầy ở hai bên, màu óng ánh

có lẽ tiêu chưa hết một nửa số

rất hoa mỹ.

thu. Rồi họ kết luận:

Dưới hương án, trên mấy

Chỉ béo mấy lão trong ban

chiếc nong là những thoi vàng

Hội đồng. Ngồi mát ăn bát

đã gỡ ra, có thoi xanh, có thoi

vàng. Mỗi việc lễ bái lại kiếm

trắng, có thoi tím, có thoi vàng

Diện hình và Tổ chức

vứt lẫn trong đám quần áo

nhân để thế mạng cho dân làng.

giấy ngũ sắc, những bộ quần

Dân làng mong các quan nhận

áo rất nhỏ, chiếc nọ lồng vào

lễ rồi đi bắt lính nơi khác và ra

chiếc kia mà người ta đã gỡ ra

ơn đại xá cho dân làng trong

một cách quấy quá nên chưa

vụ này.

rời hẳn nhau. Theo tín ngưỡng

Cạnh những lớp voi ngựa và

thì những bộ quần áo tuy nhỏ,

hình nhân, trải dọc mãi về tận xa

nhưng các quan âm có phép

xa là những bồ đài lá đa cài trên

thần thông, có thể biến hóa

những quê tre, cắm la liệt hai

thành lớn để âm hồn nào cũng

bên. Mỗi bồ đài đều có mấy giọt

mặc vừa.

cháo. Đấy là cháo cúng âm binh

Xen lẫn vào những thoi vàng

và các oan hồn đi theo các quan.

và những quần áo giấy là hoa

Lễ bắt đầu. Ông thầy cúng

quả, nào nhót, nào mơ, nào

rung chuông đánh trống. Dân

đậu nành, nào dưa chuột, nào

làng xúm quanh xem hành lễ,

ổi, nào khoai lang v.v...

trên từ các cụ, dưới đến đàn bà

Ngoài hoa quả còn có kẹo

trẻ con. Người ta lần lượt vào

bánh, kẹo vừng, kẹo bột, bỏng

lễ sì sụp trước bàn thờ. Người

gạo, bỏng ngô, bánh phồng,

ta khấn vái cầu xin các quan

bánh đậu...

thương xót dân làng. Lũ trẻ mắt

Mấy nong đều đầy hoa quả

hau háu nhìn vào những nong

và kẹo bánh. Cúng lễ xong, con

hoa quả, bánh kẹo. Chúng nó

trẻ tha hồ thi nhau xô cướp.

chỉ mong cúng cho chóng xong

Gần ngay mấy nong ấy, có

để xô nhau vào cướp những

hai nồi cháo đại, khói bốc lên

nong này.

nghi ngút, đem theo mùi thơm

Chà! Những quả mơ mọng

của gạo mới ngạt ngào.

chín khiến chúng nuốt nước

Hai bên bàn thờ là voi giấy

miếng ừng ực! Lại những quả

ngựa giấy và hình nhân. Voi

nhót đỏ tươi, nhìn cũng đủ biết

ngựa để cúng các quan và hình

là chua! Kìa những chiếc kẹo

bột, kẹo vừng trông ngon lắm!

Dân làng ta sùng bái thế

Cả những nắm bỏng ngô trông

này, năm nay nhất định làng

cũng thật quyến rũ!

ta yên.

Bên cạnh chúng cũng có

Làng có yên không, đó là

những người lớn lăm lăm tay

chuyện sau, nhưng giờ đây, hãy

cầm những chiếc liễn, những

biết ông cùng mấy cụ ban hội

chiếc âu, chỉ chờ cúng xong

đồng sẽ được chè chén no say,

là ào vào múc cháo mang về.

được lấy phần về, lại còn được

Mất tiền đóng, tiền góp, cũng

chia nhau món tiền dân làng

phải được hưởng thụ chứ! Lẽ

góp chi tiêu không hết.

đâu chỉ có các cụ và ban Hội

Nghĩ đến món tiền cũng thấy

đồng là được chè chén thả cửa,

kha khá, ông bảo lý trưởng:

rượu ngon, xôi dẻo, thịt mềm

Ông lý ạ, lẽ ra làng ta hàng

hay sao? Chẳng được miếng thịt năm phải cúng cầu mát năm miếng xôi thì liễn cháo cũng đủ

bảy bận, cúng một lần ít quá.

bõ với tiền đóng góp vậy!

Có lẽ ông lý đã hiểu ý ông

Chỉ có đàn ruồi là sướng!

tiên nên ông gật gù cười đáp:

Chúng ở chợ kéo đến ào ào, con

Ông tiên chỉ nói phải lắm!

lớn, con nhỏ tranh nhau đậu

Hai ông đều phải cả. Mọi

trên kẹo, trên bánh, trên khoai,

sự không phải nếu có là ở dân

trên cháo. Có những con ngã

làng. Nếu dân làng, có người

vào nồi cháo rồi chết lăn kềnh

vì thụ hưởng lễ vật cầu mát mà

trong đó.

mắc bệnh tả rồi mạng vong,

Ông thầy cúng ê a đọc sớ.

đó là lỗi tại họ, họ đã vô phúc

Dân làng sì sụp lễ, con trẻ và

thiếu thành tâm, nên bị các

những người đi lấy cháo đợi chờ.

quan âm bắt lính, thì tiên chỉ

Lễ cầu mát năm nay long trọng

cũng như lý trưởng các ông còn

lắm. Ông tiên chỉ thấy dân làng

làm gì được nữa.

đến lễ đông cười ha hả:

Diện hình và Tổ chức

hội làNg

Như chương trên đã trình bày, ngoài việc cúng lễ hàng ngày, và trong những ngày tuần tiết sóc vọng, hàng năm dân làng còn có lệ vào đám để mở hội cho dân làng mua vui.

Vào đám nghĩa là mở ra những cuộc hội hè có cúng bái tế

lễ. Làng vào đám còn gọi là tổ chức trà nhập tịch, tức là tổ

chức tiệc hội để dân làng theo ngôi thứ dự việc tế lễ thần linh, rồi sau đó lại theo ngôi thứ mà ngồi ở chốn đình trung để thừa lộc thánh, nghĩa là để cùng nhau hưởng thụ đồ lễ sau các cuộc cúng bái tế lễ.

Khi làng vào đám thường có những cuộc vui để dân làng và dân các làng lân cận đến cùng mua vui, ngoài các cuộc tế lễ

theo nghi thức.

Làng quê thường vào đám vào dịp tháng giêng, tháng hai hoặc tháng tám.

Mùa thu có những hội làng,

Có cây đu buổi xuân sang dập dìu.(1) Trong những dịp này, dân làng nô nức xôn xao, nhất là các 1. Bàng Bá Lân. Miền Nam

trai gái làng lại được dịp công khai gặp gỡ nhau với quần là áo lượt, với sự chải chuốt đỏm dáng. những chiếc khăn vuông mỏ quạ ôm ấp những cặp má hây hây và những cặp môi hồng tươi nở thơm nức hương trầu và cũng thắm đượm mùi trầu cay.

những con mắt long lanh của những chàng trai khăn đóng áo dài thường gặp những cặp mắt ngây thơ lưu luyến của các thiếu nữ trong đám hội.

nói về hội làng phải phân biệt những lễ nghi tế tự với những trò vui trong ngày hội dành cho nam nữ thanh niên.

lễ Nghi tế tự

Làng thường vào đám vào hai dịp xuân thu, nhưng cũng nhiều làng tổ chức hội hè vào các ngày thần húy và thần đản.

Dù trong dịp nào, thường mỗi khi vào đám, dân làng đều theo đúng lễ nghi tục lệ về tế tự. những lễ nghi này bao gồm: lễ rước nước. Đây là đám rước được tổ chức đi lấy nước ở

một cái giếng hoặc một khúc sông nào trong sạch mang về đền để tắm thần vị.

Rước nước cử hành một ngày trước lễ chính thức.

cũng có khi nước được lấy ở hồ. Ở hồ hay ở sông thì khi lấy nước cũng phải chèo thuyền ra giữa hồ hay giữa sông để

lấy nước trong.

lễ mộc dục. Đây là lễ tắm thần vị. Một ngày trước khi vào đám, có khi nửa đêm hôm trước dân làng cáo yết thần linh để

xin tắm thần vị. Tắm thần vị bằng nước đã được dân làng rước mang về, nhưng thường tắm bằng nước này xong, dân làng lau lại thần vị một lần thứ hai bằng nước trầm hương.

Tại những làng có đền, nơi thần linh an ngự, lễ mộc dục cử hành tại đền; những nơi không có đền lễ này cử hành tại ngay đình.

Tế gia quan. Tế gia quan tức là tế mũ áo sau khi đã lau hết bụi.

Diện hình và Tổ chức

chính nghĩa hai chữ gia quan, theo Đào Duy Anh trong Hán Việt Từ điển là làm lễ đội mũ. Theo tục người Trung Hoa khi 20 tuổi thì làm lễ gia quan.

Theo lễ nghi vào đám của dân làng, sau lễ mộc dục thì những quần áo đại trào của thần linh, hoặc là quần áo của triều đình ban cho, hoặc quần áo bằng giấy, trong ngày thường vẫn thờ

tại hậu cung, nay được đem lau chùi và phong lại bởi người cai kiệu và những chân kiệu, nghĩa là những người được cử khiêng kiệu đức Thành hoàng trong những buổi rước. Thường là các trai làng trong hạng đại hạ. những người này phải trai giới từ mấy hôm trước, và chỉ những người này mới được tham dự việc lau chùi và phong mũ áo của thần linh.

Trong lúc lau chùi và phong mũ áo, mỗi người phải bịt miệng bằng một chiếc khăn điều để trần khí không xông tới Thánh cung mà mang tội bất kính.

Mũ áo, đai, mãng đã phong lại rồi được an phụng lên long kiệu, rồi tế một tuần, chờ đến sáng hôm sau thì rước từ đền về

đình. nếu mũ mãng ở ngay tại đình thì không có đám rước này, nhưng dân làng sẽ tổ chức những đám rước khác.

Rước. ngày hôm sau thần vị được rước từ đền về đình. Đám rước này được gọi là đám rước nghênh thần.

Đi đầu đám rước là cờ quạt rồi đến trống chiêng. Sau trống chiêng là voi ngựa có tàn lọng che và có người vác thanh long đao đi kèm. Kế tiếp là các chấp kích viên vác đồ lộ bộ và bát bửu đi ở hai bên, còn ở giữa là một vị quan viên mặc áo thụng xanh có lọng che mang một chiếc biển bầu dục có đề mấy chữ: