Làng Xóm Việt NamPhần 6
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
TạI BắC VIỆT
chế độ làng xã tự trị tại Việt nam là một chế độ tốt đẹp, và như trên đã trình bày có rất nhiều ưu điểm, nhất là về phương diện cai trị và an ninh trật tự xã hội. Hàng xã phải chịu trách nhiệm về hành động của dân làng đối với quốc gia. Khi người pháp đặt chân sang đất nước ta, họ cũng không phủ nhận những ưu điểm của nền tự trị này. paulin Vial, một viên quan cai trị pháp trong cuốn Trung và Bắc Kỳ (L’Annam et le Tonkin) đã viết: Đó là phương pháp duy nhất thích hợp với sự an toàn của chúng ta, vì nó chia rẽ dân bản xứ bằng cách thừa nhận cho họ sự tự trị các làng xã, một điều họ rất quan tâm đến. Phương pháp đó đã được đem ra thí nghiệm rồi.
Đó là phương pháp có kết quả tốt. Nó vừa thỏa nguyện vọng của người An Nam vừa mang lại an ninh cho các nhà cầm quyền Pháp, không cho nhân dân có thể liên kết với nhau trong một hành động chung để chống lại chúng ta. (1) (cést le seul système qui fut compatible avec notre sécurité car il divisait la population en lui laissant l’autonomie des villages à laquelle elle est attachée. L’expérience de ce système a déjà été faite.
1. Vũ Quốc Thông dịch, trong sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
c’est le seul ait donné de bons résultats. Il donne satisfaction aux Annamites et sécurité aux autorités francaises, ne permet pas aux habitants de s’unir contre nous dans une action générale).
Trong cuốn l’Annam d’Autrefois, viên Toàn Quyền pierre pasquier cũng cho sự tự trị làng xã Việt nam, là một lợi khí thống trị màu nhiệm.(1)
nhận thấy những ưu điểm của làng xã Việt nam, nhưng chính quyền pháp lại muốn những ưu điểm này phải là những công cụ
để họ thống trị dân Việt nam, như đã trình bày, chứ không phải đấy là những cơ cấu để thúc đẩy dân Việt nam chống đối lại họ.
Họ đã sửa đổi, đã cải cách có lợi cho họ như trong cuộc cải cách hội đồng hương chức tại nam Việt. Và ở Bắc Việt họ cũng nghĩ đến sự cải cách, nhưng thực hiện chậm hơn vì dân khí ở miền này. Họ muốn rút kinh nghiệm ở miền nam trước khi có sự cải tổ ở miền Bắc, và đồng thời họ muốn dùng thời gian để vuốt ve dân chúng Bắc Việt làm cho dân khí dịu đi, tinh thần chống đối họ bớt mạnh mẽ. Họ đã chờ mãi cho tới năm 1921 mới có sự cải tổ đầu tiên, trong khi ở nam Việt, ngay từ năm 1904, họ đã can thiệp vào nền tự trị của dân làng. Họ chờ để tạo nên được những yếu tố thuận tiện, và nhất là họ chờ cho lớp sĩ phu có khí tiết, có uy tín với tuổi tác phải lướt vào quá khứ, họ mới cải tổ làng xã để tránh sự phản kháng có thể rất hiệu quả của lớp sĩ phu này.
năm 1921, khi họ cải tổ cơ cấu làng xã Bắc Việt tuy mục đích chính là mục đích chính trị nhằm giảm bớt uy thế của các kỳ hào, tước bớt vây cánh của những người này, ngõ hầu có thể
ngăn giữ sự xúi giục dân xã nổi lên chống chính phủ bảo hộ, nhưng họ vẫn nêu ra lý do ngăn ngừa mọi lạm dụng để bài trừ
nạn cường hào ác bá.
1. Un organe qui est un merveilleux outil de gouvernement.
Thực ra, phải nhận rằng với sự hiện diện của người pháp, với ưu quyền của họ dành cho những tay em, với tình trạng nước nhà trong giai đoạn bị trị, làm sao mà tránh được sự lạm dụng, làm sao mà khỏi được nạn cường hào ác bá.
Dựa vào cớ bài trừ nạn lạm dụng và nạn cường hào ác bá, người pháp đã thực hiện một cách hết sức táo bạo sự cải cách các cơ cấu làng xã tại Bắc Việt, năm 1921.
Với sự cải cách này, trước hết họ thành lập hội đồng tộc biểu, có nhiệm vụ quản trị công việc làng xã, do dân xã bầu ra ba năm một lần, và gồm một số nhân viên gọi là Tộc biểu. Tộc biểu chính, nghĩa là đại biểu của từng gia tộc, nghĩa là của từng họ. Mỗi họ có quyền được bầu một số tộc biểu, và mỗi xã số
tộc biểu cũng thay đổi tùy theo dân số, nhưng không quá số tối đa là 20 người mỗi làng.
Muốn ứng cử tộc biểu, phải 25 tuổi và phải có tài sản trong làng. Tộc biểu do các dân đinh từ 18 tuổi trở lên mà chưa phạm án đến mất quyền công dân, bầu ra.
các tộc biểu chọn lấy một vị chủ tịch gọi là Chánh hương hội và một phó chủ tịch gọi là phó Hương hội. chánh, phó Hương hội thay cho tiên, thứ chỉ về thời trước.
Trong việc bầu cử tộc biểu nếu có sự tranh chấp phải do các viên tri huyện, tri phủ phân xử, nếu không xong. Tỉnh trưởng người pháp, viên công sứ, sẽ quyết định sau khi lấy ý kiến của vị tỉnh hiến người Việt là vị Tuần phủ hay Tổng đốc.
Ở đây ta thấy chính quyền pháp đã can thiệp rõ rệt vào việc quản lý làng xã, và đã lấn áp sự tự trị cổ truyền của đơn vị căn bản này của quốc gia.
ngoài ra, những tộc biểu được bầu phải có sự chấp nhận duyệt y của viên công sứ.
Hội đồng tộc biểu còn mang tên là hội đồng hương chính là 96
Diện hình và Tổ chức
cơ quan quyết nghị trong xã. chủ tịch Hội đồng là chánh Hương hội, giữ việc chấp hành, có phó Hương hội phụ tá. Dưới quyền chánh Hương hội có một số nhân viên giúp việc mà quan trọng nhất là Lý trưởng rồi đến phó lý, Thư ký và Thủ quỹ.
Lý, phó trưởng vẫn do dân bầu theo lệ xưa, còn thư ký và thủ
quỹ được lựa chọn trong hoặc ngoài hàng các Tộc biểu.
Với nghị định năm 1921, một làng có một ngân sách. Thành lập ngân sách này, chính quyền pháp nhằm sự kiểm soát tài nguyên của làng xã, nhưng vẫn nêu lên là để ngăn chặn mọi sự
lạm dụng.
Với chế độ 1921, chính quyền pháp đã xâm nhập vào việc quản trị làng xã ở Bắc Việt một cách rõ rệt, nhưng họ còn cho là chưa đủ, nên viên Thống sứ Bắc kỳ, năm sau đã ký nghị định ngày 25-6-1922 để ấn định các điều kiện được ứng cử Lý, phó trưởng. Ửng cử viên phải từ 25 đến 50 tuổi, biết đọc, biết viết, có hạnh kiểm tốt và nhất là phải trung thành với Chính phủ bảo hộ. ngoài ra lại phải có tư sản để bảo đảm.
Lý trưởng là người nắm nhiều quyền hành theo tục lệ trong làng mặc dầu trên vị này có vị chánh Hương hội, vậy mà những điều kiện ấn định cho ứng cử viên như trên, ta thấy rằng, người đắc cử tất nhiên phải đứng về phe chính quyền để giữ lấy quyền lợi của mình. nạn cường hào ác bá với sự lựa chọn này càng bành trướng mạnh, vì họ chính là những tay em của pháp và được pháp bênh vực, ấy là chưa kể, tuy nói rằng dân làng bầu cử lý, phó trưởng, nhưng chính ra chỉ những tay sai của pháp mới được ở trong cử tri đoàn; Hội viên Hội đồng Hương chính hiện dịch, hội viên hàng tỉnh, nghị viên hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ có ghi tên trong làng, đang làm việc hoặc đã nghỉ việc, các cựu Tổng lý và các Tổng lý hiện dịch có ghi tên trong xã và trương tuần.
Lý, phó trưởng được cử tri đoàn hạn chế trên bầu ra nhưng cũng phải được bổ nhiệm của vị công sứ qua một tấm bằng do viên công sứ và vị tỉnh hiến Việt nam đồng ký.
chính quyền pháp đã can thiệp một cách sâu rộng vào công việc quản trị làng xã như trên trình bày, nhưng vẫn chưa hết: viên công sứ đầu tỉnh còn có quyền đặc cách bổ nhiệm Lý, phó trưởng trong nhiều trường hợp.
Khi một xã chưa có Hội đồng Hương chính dự liệu bởi nghị
định 1921;
Khi chỉ có một người ra ứng cử hay được chấp thuận để ra ứng cử chức vụ Tộc biểu mà thôi;
Khi khuyết chân Lý trưởng và trong xã có một viên phó lý đã làm việc trong sáu năm rồi.
Qua các điểm trình bày trên, ta thấy rằng chính quyền pháp với nghị định 1921 đã bãi bỏ hẳn Hội đồng kỳ hào cổ truyền và gạt các nhân viên trong Hội đồng này ra ngoài công việc quản trị làng xã, công việc từ xưa vẫn do họ đảm nhiệm.
Việc cải cách của người pháp đã gặp sự phản ứng của dân chúng, trước hết là sự phản ứng tiêu cực của các cựu hương chức trong Hội đồng kỳ hào, không tham gia vào công việc làng xã.
Và từ sự phản ứng tiêu cực này đã chuyển sang thế khác: sự
xung đột có hại cho việc quản trị làng xã giữa các cựu hương chức này với nhân viên Hội đồng tộc biểu mới, phần nhiều kém tài đức và thiếu kinh nghiệm. Và hậu quả của sự xung đột là sự phản đối công khai hoặc ngấm ngầm chính quyền pháp, sự
thành hình của những đảng cách mệnh và sự hưởng ứng của phần đông dân chúng do sự tham gia của một số các cựu hương chức có uy tín.
Trước tình trạng này, người pháp hết sức bối rối. Họ thấy cần phải sửa đổi lại quy chế làng xã để xoa dịu bớt sự bất bình của 98
Diện hình và Tổ chức
dân chúng và nhất là của các cựu hương chức của Hội đồng Kỳ
hào cổ truyền.
Và ngày 25-2-1927, Thống sứ Bắc Kỳ đã phải ký một nghị
định sửa đổi lại quy chế quản trị làng xã, và quy chế 1927 này đã được áp dụng trong gần 15 năm, cho tới năm 1941.
nghị định 25-2-1927 phục hồi lại một phần những tục lệ cổ
truyền đã bị bãi bỏ bởi nghị định 1921, việc tái thiết lập bên cạnh Hội đồng Tộc biểu, hội đồng Kỳ mục, giữ vai trò kiểm soát hơn là quản trị, và thành phần gồm các cựu kỳ hào, cực kỳ lý, những người đã có thái độ chống đối Hội đồng Tộc biểu trước đây.
Tuy Hội đồng Kỳ mục được thành lập lại, nhưng thành phần có hơi chặt chẽ hơn xưa, chỉ gồm những người hoặc đỗ đạt, hoặc có phẩm hàm hoặc đã giữ các chức vụ cấp tổng hay cấp xã, riêng với hạng thứ ba này lại cần phải là những người cư
trú ngay trong xã.
Số kỳ mục không hạn chế và nhiệm kỳ cũng không hạn định.
chính quyền pháp, trong việc kiểm soát làng xã giữ quyền duyệt y danh sách Kỳ mục cho các viên công sứ, và danh sách này một bản được lưu giữ tại tòa sứ. Mỗi khi có sự thay đổi, các chức dịch hàng xã phải trình ngay với chính quyền.
Theo nghị định 1927, cơ quan chấp hành xã vẫn là chánh Hương hội có phó Hương hội phụ tá và có một số các chức dịch giúp việc: Lý trưởng, phó lý, Trương tuần, Thủ quỹ và Thư ký.
ngoài ra còn thêm hai hương chức mới là chương bạ giữ sổ địa bạ và Hộ lại giữ việc sinh tử giá thú.
Lý, phó trưởng vẫn do sự bầu cử như cũ cho đến năm 1930, mới có thể lệ chỉ định. Theo thể lệ chỉ định này, phương pháp bầu cử Lý trưởng càng ngày càng ít áp dụng. các phó lý có ba năm thâm niên có thể được đặc cách bổ nhiệm làm Lý trưởng.
chỉ còn hai trường hợp bầu cử Lý trưởng:
Trong xã có nhiều phó lý có đủ điều kiện để được đương nhiện bổ nhiệm Lý trưởng.
- Trong xã không có một phó lý nào đủ điều kiện để được đương nhiên cải bổ Lý trưởng.
nghị định 1927 vẫn để sự kiểm soát làng xã cho các viên chức hàng tỉnh, nhưng để tỏ ra tôn trọng hiệp ước Bảo hộ, chính quyền Bảo hộ trao quyền bổ nhiệm Lý trưởng cho các vị tỉnh hiến Việt nam và các viên công sứ chỉ duyệt y nghị định của các vị trên. Việc duyệt y nghị định này là tất cả, vì có thể có trường hợp viên công sứ từ chối việc duyệt y.
Mặc dầu người pháp khôn khéo, bề ngoài ra vẻ áp dụng hiệp ước bảo hộ Bắc Việt với sự tái thiết lập Hội đồng Kỳ mục, nhưng họ vẫn không đạt được kết quả mong muốn. Họ vẫn gặp thái độ
bất hợp tác của những người trí thức và có tiết tháo, cũng như
thái độ chống đối của phần đông dân chúng với các đảng cách mạng chống họ mạnh mẽ hơn (Việt nam Quốc Dân Đảng, 1930, Việt nam phục Quốc Hội, 1940 v.v...).
Rồi đến năm 1941, với tình trạng mới gây nên bởi cuộc đệ
nhị thế chiến tại Tây phương, bởi sự bại trận của nước pháp và nhất là bởi sự hiện diện của quân đội nhật Bản trên các bán đảo Đông Dương, họ nhận thấy cần phải cải tổ lại nền hành chính hương thôn ở Bắc Việt để nắm vững lấy dân chúng thôn quê, ngăn chặn mọi mưu mô nổi dậy lật đổ chính quyền Bảo hộ pháp.
Muốn như vậy họ phải đánh lạc hướng vấn đề và họ phải thỏa mãn một phần nào sự đòi hỏi của dân chúng, nhất là giai cấp trung lưu mà họ hy vọng có thể lợi dụng được bằng cách cho tham dự, trong một phần rất nhỏ, vào công việc điều khiển guồng máy hành chánh.
Với thâm ý trên, Thống sứ Bắc kỳ, đã đệ trình Hoàng đế Việt 100
Diện hình và Tổ chức
nam phê duyệt đạo dụ ngày 23-5-1941 tổ chức lại nền hành chính xã tại Bắc Việt.
Đây là cuộc cải lương hương chính lần chót của người pháp tại Bắc Việt.
Với sự cải lương này, Hội đồng Tộc biểu thiết lập từ năm 1921
bị bãi bỏ, cũng như Hội đồng Kỳ mục mới thiết lập năm 1927, và trong làng một Hội đồng Kỳ hào được ra đời, với một thành phần rộng rãi, gồm tất cả các dân đinh trong xã từ 21 tuổi trở
lên có đủ điều kiện văn bằng hoặc phẩm hàm, hoặc đã giữ các chức vụ tổng lý trong thời gian ít nhất ba năm, như vậy tổng số kỳ hào không hạn định; vị thứ các kỳ hào được ấn định theo tính cách quan trọng của phẩm hàm, và vị chủ tịch là người có phẩm hàm cao nhất.
Vì số kỳ hào không hạn định, nên nhiều xã rất đông, trên 20
người. Trong trường hợp này Hội đồng Kỳ hào có thể ủy quyền cho một Ủy ban Quản trị gồm có 7 nhân viên, chọn trong số
các Kỳ hào có phẩm hàm cao nhất.
Hội đồng Kỳ hào giống như Hội đồng Kỳ mục trước khi có mọi sự cải cách, chỉ khác ở chỗ bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính quyền Bảo hộ đối với việc chỉ định các kỳ hào, và danh sách kỳ hào phải đệ nạp chính quyền để tiện việc theo dõi. Trong trường hợp xã nào có Ban Quản trị, việc chỉ định cũng như mọi việc thay thế phải được chính quyền chuẩn y.
cơ quan chấp hành theo dụ 23-5-1941 vẫn là lý, phó trưởng với một số các nhân viên thừa hành khác: Hộ lại, chưởng bạ, thư ký, thủ quỹ và trương tuần.
Từ Lý, phó trưởng tới các nhân viên thừa hành đều là các nhân viên chỉ định và trường hợp bầu cử rất ít khi có, và nếu có cũng chỉ do nhân viên Hội đồng Kỳ hào bầu mà thôi, và
thường chỉ có bầu cử phó lý, còn Lý trưởng là do các phó lý được tuyển nhiệm lên.
Mọi việc bổ nhiệm các hương chức này đều do vị tỉnh hiến Việt nam và phải được sự chuẩn y của viên công sứ pháp, duy chỉ có Trương tuần thì do Hội đồng Kỳ hào tuyển lựa theo tục lệ trong làng.
Việc cải cách này cũng không mấy làm hài lòng dân chúng, tuy giai cấp trung lưu được tham dự nhiều vào công việc hàng xã, nhưng những nhân viên thừa hành, nhất là các Lý, phó trưởng, chưởng hạ, hộ lại và thư ký, với sự kiểm soát chặt chẽ, với sự
chỉ định thay cho việc bầu cử, người pháp đã nắm chặt quyền quản trị làng xã trong tay, và những người được chỉ định muốn làm hài lòng quan trên để hy vọng được chỉ định vào chức vụ
khác, như phó lý được chỉ định Lý trưởng, thường là những tay sai trung thành của pháp, và luôn luôn trung thành với chính phủ Bảo hộ, tức là đi ngược lại quyền dân. Sự chống đối trong dân chúng vẫn ngấm ngầm cho đến ngày 9-3-1945, ngày chính quyền pháp ở Đông Dương bị lật đổ do quân đội nhật Bản.
TạI TRuNg VIỆT
Trung Việt tức là Trung kỳ dưới thời pháp thuộc. Tuy là một xứ bảo hộ, cũng như Bắc Việt, nhưng ở đây có Triều đình Huế
với danh nghĩa cầm đầu Quốc gia dưới chính quyền Bảo hộ, nên người pháp tuy muốn xâm nhập vào các công việc của người nam vẫn phải tôn trọng quyền cai trị của các nam quan và chỉ
đành thiết lập những phương tiện để kiểm soát sự cai trị này.
Tôn trọng quyền cai trị của các nam quan, người pháp không dám vội vàng động tới việc cải cách các cơ cấu làng xã để nhúng tay vào việc quản lý những đơn vị căn bản này.
Họ phải đợi cho tới năm 1942 mới bắt đầu cải tổ nền hành 102
Diện hình và Tổ chức
chánh xã tại Trung Việt do chỉ dụ 5-1-1942 của Hoàng đế Việt nam. chỉ dụ Hoàng đế ký, nhưng nội dung do chính quyền pháp sửa soạn.
chỉ dụ 1942 về tổ chức hành chánh xã tại Trung Việt dựa trên những điều khoản của đạo Dụ 1941 về tổ chức làng xã tại Bắc Việt, nghĩa là công việc quản trị trong làng do hội đồng Kỳ hào.
Trước đây, tại các xã vẫn có một Hội đồng Kỳ hào, nhưng việc tuyển lựa các hội viên hoàn toàn do tục lệ mỗi xã quy định, do đó sự kiểm soát của các cấp trên hầu như vô hiệu. Với đạo dụ 1942, những điều kiện để tham dự Hội đồng Kỳ hào được ấn định rõ ràng cũng như thành phần của hội đồng này.
Muốn tham dự Hội đồng Kỳ hào phải là dân xã lương thiện không can án, trung thành với chính phủ Nam triều và chính phủ
Bảo hộ, có phẩm hàm, có khoa cử, tổng lý và ngũ hương, cựu tổng lý và ngũ hương đã từ dịch sau ba năm làm việc.
Hội đồng Kỳ hào ủy quyền cho một Ủy ban Thường trực để
giải quyết các công việc thường xuyên của xã - xã nào cũng có Ủy ban, không giống như ở Bắc Việt chỉ những xã lớn mới có.
cơ quan chấp hành của xã gồm lý trưởng, có phó lý và năm viên chức thừa hành gọi là ngũ hương giúp việc. ngũ hương là: Hương bộ:
có nhiệm vụ quản thủ văn khố xã.
Hương bản: giữ quỹ của xã.
Hương kiểm: giữ nhiệm vụ cảnh sát hành chánh và tư pháp trong làng.
Hương mục: trông coi, tu bổ các công sở, đường sá trong làng.
Hương dịch: thông tin xã và vệ sinh trong thôn.
Lý trưởng trước đây do dân bầu, với chế độ 1942 việc bầu cử
được thay thế bằng phương pháp đương nhiên chỉ định bởi vị
nam quan đầu tỉnh sau khi đã thỏa hiệp với vị công sứ pháp.
người được chỉ định là phó lý của xã có nhiều thâm niên công vụ, và khi có từ hai phó lý đồng thâm niên công vụ, người nhiều tuổi hơn sẽ được chỉ định. phương pháp bầu cử chỉ được dùng đến khi nào trong xã không có người phó lý nào cả.
phó lý và ngũ hương do Hội đồng Kỳ hào lựa chọn và các quan tỉnh duyệt y.
Trong việc cải cách nền hành chính làng xã Trung Việt, chính quyền pháp không ngoài mục đích kiểm soát chặt chẽ các viên chức làng xã và đã đưa dần vào cơ quan quản trị những người trung thành với họ giống như khi họ cải cách lại nền hành chính xã tại Bắc Việt vào năm 1941.
Trên hình thức, nếu không xét kỹ ta thấy thành phần như
không thay đổi vì cơ quan quyết nghị của xã vẫn là Hội đồng Kỳ hào, và cơ quan chấp hành vẫn chỉ gồm có Lý, phó trưởng và ngũ hương, nhưng nếu đi sâu vào việc tuyển lựa, ta thấy ngay dã tâm của chính quyền pháp muốn dần bãi bỏ phương pháp bầu cử bằng phương pháp chỉ định để có thể đặt tay sai của họ vào Hội đồng Kỳ hào và nhất là vào các chức vụ chấp hành. ngoài ra, họ cũng đặt ra sự kiểm soát chặt chẽ.
chế độ 1942 tồn tại cho đến ngày 9-3-1945 của Trung Việt cũng như chế độ 1941 tại Bắc Việt.
*
* *
Xét chung về việc tổ chức làng xã dưới thời pháp thuộc, ta thấy người pháp tuy bắt đầu sự cải cách ở ba miền nam, Bắc, Trung trong ba thời kỳ khác nhau, nhưng cuối cùng họ đã thống nhất việc tổ chức trên đại cương trên cả ba vùng qua sự tương đồng của nghị định ngày 5-1-1944 với các đạo dụ ngày 23-5-1941 và 5-1-1942, với phương pháp chỉ định các hương chức và kiểm soát chặt chẽ cơ quan quyết định của xã.
Diện hình và Tổ chức
tổ ChứC làNg xã Sau tháNg 8-1945 (1)
chính quyền pháp bị lật đổ, nhưng việc tổ chức làng xã Việt nam vẫn được duy trì trong khi người nhật thay thế người pháp tại Đông Dương. Mãi cho tới tháng 8-1945, Việt Minh nắm quyền, việc tổ chức làng xã mới được sửa đổi lại.
Việc tổ chức làng xã tại Việt nam, Việt Minh căn cứ vào bản hiến pháp năm 1946 chia nước Việt nam thành kỳ, tỉnh, thị xã tại các vùng đô thị, huyện và xã tại các vùng quê. Không có tổng, đơn vị giữa làng và huyện như trước.
Mỗi xã bất kể Trung, nam, Bắc có hai cơ quan đại diện là Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính. Hội đồng nhân dân do phổ thông đầu phiếu bầu lên, và hội đồng này lại tự bầu lấy Ủy ban Hành chính.
Tùy theo dân số, Ủy ban nhân dân gồm từ 18 đến 25 nhân viên từ năm tới bảy nhân viên dự khuyết.
những điều kiện ứng cử và bầu cử đều nhất loạt thay đổi. Bất cứ ai, 18 tuổi trở lên đều được ứng cử và bầu cử. Điều kiện cư
trú cũng rút, ứng cử thì sáu tháng, bầu cử thì ba tháng.
Ủy ban Hành chính xã gồm một chủ tịch, một phó chủ tịch, một thủ quỹ, một thư ký, một ủy viên phụ trách việc duy trì an ninh và hai ủy viên dự khuyết.
Theo nguyên tắc, ai đủ điều kiện cũng được ứng cử vào Ủy ban nhân dân.
cuộc bầu cử Ủy ban Hành chính xã phải được Ủy ban cấp tỉnh chấp thuận mới có hiệu lực.
cũng như dưới thời pháp thuộc, mọi quyết định của Hội đồng nhân dân xã phải được phê chuẩn của cấp tỉnh mới có giá trị, tuy rằng nhân dân theo nguyên tắc có quyền phế bỏ Hội đồng nhân dân để đòi bầu cử lại.
1. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (sau Cách mạng tháng 8-1945)
tổ ChứC làNg xã troNg thời kỳ PháP
trở lại Chiếm ĐóNg Nam kỳ
ngay sau khi trở lại nam Kỳ, người pháp thành lập chính phủ
lâm thời ở nam Kỳ, bác sĩ nguyễn Văn Thinh cầm đầu chính phủ này mệnh danh là chính phủ tự trị nam Kỳ.
Dưới chính phủ tự trị nam Kỳ, tại xã có ban Hội Tề gồm tám hội viên do phổ thông đầu phiếu bầu lên. Ban Hội tề tự
phân làm hai Ủy ban, một Ủy ban do vị Hương cả đứng đầu phụ trách các việc hành chánh tư pháp và các công tác xã hội, và một Ủy ban do vị Hương chủ đứng đầu phụ trách các vấn đề
tài chính, kinh tế và nghi lễ.
Ban Hội tề này không tồn tại bao lâu, vì sau đó, chính phủ
nam Kỳ tự trị không còn nữa, được thay thế bằng chính phủ
Lâm thời Việt nam do tướng nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, kế đó Bảo Đại trở lại Việt nam.
Thủ tướng nguyễn Văn Xuân trước tình thế rối bời của đất nước đã trao cho các Tỉnh trưởng quyền bổ nhiệm các Hội đồng xã để điều khiển công việc hành chính trong làng, và các chức dịch trong làng xã đương nhiên trở thành một bộ phận của toàn bộ hệ thống hành chính tập quyền.
Việc bổ nhiệm hương chức làng xã được tồn tại cho đến năm 1953. Sắc lệnh ngày 19-3-1953 được ban hành để tổ chức lại nền hành chính xã.
Theo Sắc lệnh này mỗi làng có một Hội đồng hương chánh gồm tối đa là chín người do dân chúng bầu lên bằng lối phổ
thông và trực tiếp đầu phiếu. Ba nhân viên đứng đầu là chủ tịch, phó chủ tịch và chánh thư ký.
Với tổ chức mới này, tổ chức làng xã đã trở lại khuôn mẫu Hội đồng xã cổ truyền trong một phần nào nhưng vẫn có sự
giám sát của cơ quan cấp tỉnh.
Diện hình và Tổ chức
Thực ra Sắc lệnh 1953 đã ra đời với ý muốn cố gắng thử tái lập một nền hành chính của thời kỳ pháp đô hộ với sự mở rộng quyền kiểm soát của các cấp trên, song song với việc gìn giữ
lại một vài tập tục cổ truyền về nền tự trị xã thôn.
tổ ChứC làNg xã dưới ChíNh quyềN
NgÔ ĐìNh diệm
Hội nghị Genève kết thúc và sự phân đôi nước Việt nam.
Ở Miền nam ngô Đình Diệm đã truất phế Bảo Đại để tổ chức bầu cử đưa mình lên ngôi vị tổng thống.
Làm Tổng thống, ngô Đình Diệm đã cải tổ nền hành chính Việt nam, trong đó có tổ chức hành chính xã.
ngày 18-6-1956, phủ Tổng thống đã gửi thông tư cho các Tòa tỉnh trưởng để thay thế Hội đồng Hương chính bằng một Ủy ban Hành chính, gồm một chủ tịch, một phó chủ tịch phụ
trách những vấn đề tài chính, xã hội và kinh tế và một Ủy viên cảnh sát. những làng lớn có thể có thêm hai phụ tá trông coi việc hành chính và tài chính. những nhân viên của Ủy ban Hành chính này do Tỉnh trưởng lựa chọn trong những người địa phương có lòng trung thành với chế độ.
ngày 24-10-1956, Ủy ban Hành chính lại được đổi thành hội đồng xã, với từ ba đến năm nhân viên do Tỉnh trưởng vẫn lựa chọn như trên, những xã lớn có thể có thêm một số phụ tá.
các tỉnh trưởng phải kiểm soát và theo dõi các Hội đồng xã để
ngăn cấm mọi hoạt động từ hành vi đến ngôn ngữ thiếu trung thành với chế độ.
chính quyền ngô Đình Diệm sau đó, với đạo dụ ngày 24-10-1956, đã chính thức đặt cho làng xã một pháp chế, nhưng tất cả mọi tổ chức về hành chính của ngô Đình Diệm đã sụp đổ
cùng với chế độ vào ngày 1-11-1963.
tổ ChứC làNg xã ở miềN Nam Sau Ngày 1-11-1963
chế độ ngô Đình Diệm sụp đổ kéo sụp đổ theo nhiều cơ cấu trước đây được thiết lập để phụng sự chế độ, và trong những cơ
cấu này phải kể các tổ chức hành chính tại làng xã.
chính quyền Sài Gòn sau ngày 1-11-1963, muốn tại các làng xã, người địa phương lo liệu công việc địa phương, hành chính địa phương gồm những nhà chức trách, xuất thân tại mỗi địa phận, đứng ra gánh vác những công việc riêng cho địa phận mình.
những công việc riêng này phát sinh từ những đặc tính của mỗi địa phận, từ những nhu cầu riêng của dân chúng trong vùng.(1) Để thực hiện ý muốn trên, ngày 31-5-1964, chính quyền Sài Gòn đã ban hành sắc lệnh để thay thế Hội đồng xã duy nhất của chế độ ngô Đình Diệm bằng 2 cơ quan, một cơ quan quyết nghị là Hội đồng nhân dân xã và một cơ quan chấp hành là Ủy ban Hành chính xã. Ủy ban nhân dân xã do nhân dân bầu lên, Ủy ban nhân dân đề cử Ủy ban hành chánh lên chính quyền tỉnh để chấp nhận.
Sắc lệnh 1964 tổ chức làng xã với các mục tiêu: phân quyền cho nhân dân xã quyền quyết nghị về các vấn đề của xã.
Dân chủ hóa hạ tầng cơ sở qua việc phổ thông đầu phiếu để
bầu Hội đồng nhân dân xã, các Trưởng ấp và phó trưởng ấp.
Giúp đỡ xã thôn phát triển đồng đều với phương tiện chung do ngân sách quốc gia cung ứng.
Với cuộc thí nghiệm, nhiều khuyết điểm đã được các cơ quan cấp trên nêu ra:
1. Tài liệu huấn luyện viên chức xã ấp, quyển I. - Tổng Bộ Xây dựng, Phủ Đặc Ủy Hành chánh, 1967.
Diện hình và Tổ chức
Hội đồng nhân dân xã thường chỉ có hình thức mà không có thực quyền. Việc giải quyết các vấn đề của xã thường tùy thuộc cơ
quan chấp hành xã, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của tỉnh, quận. (1) Tính cách đại diện của Hội đồng bị thu hẹp vì điều kiện cư
trú chỉ là sáu tháng, khiến nhiều người chưa hiểu biết rõ về làng xã cũng được bầu vào Hội đồng này, và như vậy, sự hiện diện của họ không có lợi cho công việc hàng xã. Hơn nữa, việc bầu cử theo từng ấp có thể có sự hiểu lầm là các hội viên đại diện cho ấp thay vì cho xã.
nhiệm kỳ của Hội đồng quá ngắn, chỉ có hai năm, Hội đồng chưa đủ thì giờ để thực hiện những chương trình hoạch định, lại thêm dân xã luôn luôn bị bận tâm về bầu cử.
còn về Ủy ban Hành chánh, những khuyết điểm cũng không phải là ít. Theo tài liệu huấn luyện viên chức xã ấp của Tổng Bộ Xây dựng (Sài Gòn) 1967, có các khuyết điểm dưới đây: Thiếu thuần nhất nội bộ và thống nhất chỉ huy.
1) các Ủy viên được đặt dưới sự bảo trợ trực tiếp của các bộ
chuyên môn về phương diện công tác cũng như về phương diện thù lao khiến cho các đương sự trở thành viên chức chuyên môn và có khuynh hướng thoát ra ngoài sự chỉ huy của chủ tịch Ủy ban Hành chính xã.
2) Sự đãi ngộ giữa các Ủy viên có sự chênh lệch (trường hợp Ủy viên cảnh sát và An ninh được tuyển dụng và hưởng lương theo chế độ công nhật cI/1).
Không có lực lượng cơ hữu xã.
chủ tịch Ủy ban Hành chính xã không thể sử dụng dân vệ
trong khi thi hành nhiệm vụ về phòng thủ và an ninh.
1. Tổng Bộ Xây dựng - Phủ Đặc Ủy hành chánh. - Tài liệu đã sẵn.
- chủ tịch Ủy ban Hành chánh xã không đủ quyền lực bảo đảm sự tự trị của ngân sách xã.
- Thành phần Ủy ban chưa đầy đủ.
1) chủ tịch Ủy ban Hành chánh xã kiêm nhiệm chức vụ Ủy viên Hộ tịch nhưng không có người giúp đỡ về các công việc vật chất.