Làng Xóm Việt NamPhần 4
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Thường mời trầu họ vui vẻ cùng nhai trầu để cùng say nhau, nhưng cũng có đôi khi, một vài côi gái từ chối một vài chàng trai mới quen lần đầu:
Mẹ em hằng vẫn khuyên răn
làm thân con gái chớ ăn trầu người
Từ chối là từ chối vậy, nhưng rồi chị em nói vào mỗi người một câu, rút cuộc cô gái vẫn ăn trầu người. cô chẳng nỡ từ
chối khi chúng bạn cũng nhận trầu người và nhất là chàng trai ân cần mời mọc:
Trầu này, trầu ái, trầu ân,
Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình, trầu ta, Trầu này nhuộm thắm duyên ta,
Đầu xanh cho tới tuổi già không phai!
nhận miếng trầu ăn, các cô thường mở lá trầu để xem mặn vôi hay nhạt, có người ăn nhiều vôi thì say, có người ăn ít vôi thì trầu không đậm. nếu có cô nào nhận miếng trầu của chàng trai, không mở lá trầu ra xem, chúng bạn sẽ cợt đùa: ăn trầu phải mở trầu ra,
Một là thuốc độc, hai là mặn vôi.
Thương yêu nhau trai gái họ lấy miếng trầu làm mức đo lường, yêu nhau miếng cau sao cho xứng đáng với lòng yêu: yêu nhau cau bảy bổ ba,
ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.
có những cô gái ban ngày bận rộn vì công kia việc nọ, tối mới rảnh rang đi gánh nước ở giếng làng, rồi trong khi đi gánh nước cô đã gặp người yêu, có lẽ người yêu đã cố tình tìm gặp cô. Gặp người yêu cô mừng rỡ và cũng làm sao mời được người yêu xơi một miếng trầu.
Diện hình và Tổ chức
Đêm qua trăng sáng mập mờ,
em đi gánh nước tình cờ gặp anh.
Vào vườn trẩy quả cau xanh,
Bổ ra làm sáu trình anh xơi trầu.
Trầu này têm những vôi tàu,
Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay.
Mời anh xơi miếng trầu này,
Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên đạo vợ chồng,
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.
Đã yêu nhau có bao giờ trai làng từ chối miếng trầu của gái làng. Mà có từ chối cũng không được vì lời mời mọc thật là khéo léo:
Tiện đây xơi một miếng trầu,
gọi là nghĩa cũ về sau mà chào!
có khi sợ chàng trai từ chối, cô gái phải khẩn khoản, và với những lời khẩn khoản khéo léo đó chàng trai nào đành tâm từ chối: Trầu này trầu quế, trầu hồi,
Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình Trầu này trầu tính, trầu tình,
Trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình với ta.
Trầu này têm tối hôm qua,
Trầu cha, trầu mẹ đem ra cho chàng.
Trầu này không phải trầu hàng,
Không bùa, không thuốc sao chàng không ăn?
hay chàng chê khó chê khăn,
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.
Trai gái trong làng thường qua miếng trầu mà nên duyên, và trong đám cưới, trầu cau bao giờ cũng dẫn đầu cho duyên cầm sắt: Trầu đã có đây, cau đã có đây,
Nhân duyên chửa định trầu này ai ăn?
Trầu này trần túi, trầu khăn,
Cùng trầu giải yếm anh ăn trầu nào?
Đã mời nhau thời trầu nào anh chẳng xơi! các cô gái làng trong lúc đi làm đồng, lúc đi chợ, luôn luôn các cô mang trầu cau trong người. có cô để trầu trong túi áo, có cô gói trong chiếc khăn lụa nhỏ, có cô bọc giải yếm. chàng cứ lựa chọn, chàng ăn trầu của cô nào?
Trai gái gặp nhau là có tiếng cười tiếng hát, nhất là những khi cùng làm nơi đồng ruộng hoặc buổi tối cùng đập lúa trong sân. cô nọ gán cô kia cho chàng trai này, cô kia gán cô nọ cho chàng trai khác. Và những chàng trai trong câu chuyện thường kẻ bưởi vơ vào, nào khen cô này duyên dáng, nào nói thương yêu cô nọ.
Thật là những câu chuyện bông lông, nhưng bông lông để bắt đầu cho những lứa đôi tốt đẹp bách niên giai lão. Giả tỉ những chàng trai, những cô gái có cùng nhau lãnh đạm, đã có những bà già khêu lời mớm chuyện để trai gái làng phải đối đáp với nhau. Luân lý phương Đông theo nho giáo dạy rằng, nam nữ
thụ thụ bất thân, và các nhà đạo đức luôn luôn nói nam nữ hữu biệt, nhưng đây chỉ là thứ luân lý của Trung Hoa, và chỉ có hạng người trưởng giả ở nước Việt mới chấp nhận thuyết này, đám dân giả, đám đại quần chúng, họ luôn luôn đụng chạm với nhau, cùng làm cùng vui, làm sao mà bất tương thân cho được.
có điều gần nhau đấy, nam nữ không hữu biệt đấy, nhưng trai gái làng bao giờ cũng có một giới hạn giữa đôi bên, và những trò trên bộc trong dâu quả thật là hiếm xảy ra. Gần nhau họ
thương yêu nhau, rồi lễ giáo sẽ tác thành cho họ như chim liền cánh, như cây liền cành.
Họ gặp gỡ nhau dễ dãi, họ trao đổi với nhau những lời thương yêu, nhưng khó mà họ dám cùng nhau phạm lỗi. các bà già tuy mớm lời khêu chuyện cho họ, nhưng bao giờ các bà cũng canh chừng họ và chỉ cho họ buông thả với nhau tới một mức nào.
Diện hình và Tổ chức
Và chính các cô gái cũng giữ mình. nếu có chàng trai thương yêu một cô nào, việc lứa đôi phải do cha mẹ định, các cô còn nhỏ, còn sống với cha mẹ:
Ngọc còn ẩn cội cây ngâu,
Con còn cha mẹ dám đâu tự tình.
có lẽ có người bảo các cô giả hình giả trá, vì nhiều khi trong những câu nói, trong những câu hát các cô thật là ong bướm với đủ những lời lẽ nguyệt hoa. các cô không giả hình giả trá đâu, cương vực lễ giáo luôn luôn được tôn trọng, và cặp trai gái nào thương yêu nhau đều phải nhờ cha mẹ tác thành.
Trong những lúc làm việc chung, thường trai gái trao đổi cùng nhau những câu hát, để tỏ lòng yêu đương để nói lên sự thầm yêu trộm nhớ của mình, hoặc để ngợi khen lẫn nhau: Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
em xinh em đứng một mình cũng xinh.
*
Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc, như là dao cau.
Miệng cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Hai câu ca dao trên, trai làng dùng để khen gái làng, nhưng gái làng cũng lắm câu hát để khen trai làng: Đêm qua trời sáng trăng rằm,
Anh đi qua cửa em nằm không yên.
Mê anh chẳng phải mê tiền,
Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng, Thấy anh em những mơ màng,
Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi.
Thấy anh chưa kịp ngỏ lời,
Ai ngờ anh đã vội rời gót loan.
Thiếp tôi mơ mẩn canh tàn.
Chiêm bao như thấy có chàng đứng bên.
Tỉnh ra lẳng lặng yên thiên,
Tương tư bệnh phát liên miên cả ngày.
Khen nhau, nhớ nhau, họ có những mong ước: ước gì anh hóa ra hoa,
Để em nưng lấy rồi mà cài khăn.
ước gì anh hóa ra chăn,
Để cho em đắp em lăn em nằm.
ước gì anh hóa ra gương,
Để cho em cứ ngày thường em soi,
ước gì anh hóa ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.
Gần nhau, ca hát với nhau, làm việc với nhau, rồi thương yêu nhau, từ câu hát đến cuộc nhân duyên không xa gì mấy.
Mỗi năm cứ bắt đầu mùa thu tới, là trong làng có đám hỏi này, đám cưới khác. Hàng cau đắt, hàng trầu đắt, và pháo nổ
và xác pháo hồng bay. Trai sung sướng mà gái cũng hài lòng.
Một cặp trai gái này lấy nhau, những cô gái, những chàng trai khác đóng vai phù dâu, phù rể để rồi mươi ngày sau, nửa tháng sau, chính các cậu các cô sẽ là cô dâu chú rể với những cô phù dâu, những chàng phù rể khác.
Mùa thu bắt đầu lạnh, rồi mùa đông lạnh hơn, với cái lạnh, Tết càng gần, và những ngày gần Tết trong làng càng nhiều đám cưới, như hình trai gái họ muốn kết duyên trong Tết để
được hưởng một mùa xuân đầy ân ái, hay là họ sợ xuân sang trời sẽ lạnh hơn!
Thường là những đám cưới trai gái trong làng lấy nhau. Rất ít có những cuộc phối ngẫu giữa gái làng với trai thiên hạ, hoặc giữa trai làng với gái thiên hạ. các cô gái không muốn lấy chồng xa, các cô muốn chồng làng vợ nước. các cô thường nói: 64
Diện hình và Tổ chức
lấy chó trong làng còn hơn lấy người sang thiên hạ.
Và cha mẹ các cô cũng không muốn gả con xa: Có con mà gả chồng gần,
Có bát canh cần nó cũng mang cho.
hoài con mà gả chồng xa,
ăn một bữa cỗ lội ba quãng đồng.
Ta thường nói sống ở làng, sang ở nước, vợ chồng người làng lấy nhau sống ở trong làng bao giờ chẳng hơn, dù lấy chồng làng không danh phận gì, còn hơn lấy chồng thiên hạ
với chức to phẩm lớn, kể cả những trai thành thị. Không bao giờ có cảnh:
em là con gái thôn quê,
Người làng dạm hỏi em chê ngu đần.
Một em dỗi hai em dằn,
Thầy bu khuyên giải em rằng em không.(1) chồng thiên hạ, các cô gái làng cũng không ưng nói chi là chồng ngoại quốc. người Việt nam, ở những gia đình phong độ cho việc lấy chồng ngoại quốc là một điều xấu, dù người chồng đó có chức tước gì. phải lấy chồng ngoại quốc, người đàn bà lấy làm tủi nhục, dù người đàn bà ở giai cấp nào. Và những người lấy chồng ngoại quốc thường bị chê cười, nhất là khi người ngoại quốc ấy thuộc về các dân tộc làm phương hại đến quyền lợi vật chất hay tinh thần(2) của người Việt nam. Trong ngôn ngữ Việt nam ta có những thành ngữ Thằng ngô con đĩ
để chỉ người Tàu và các bà vợ Việt, và sau này có danh từ Me để chỉ phụ nữ lấy chồng Tây phương: Me Pháp, Me Mỹ. Lớp me này rất bị chị em phụ nữ khinh bỉ, hành động lấy chồng Tây phương là một hành động mất gốc, lạc loài của hạng người đã 1. Tú Mỡ, - Giòng nước ngược.
2. A.Pazzi. - Sách đã dẫn.
đứt cội rễ. chính các me này, thường là người trong lớp hạ lưu trụy lạc nhưng họ vẫn tự cảm thấy sự âm thầm tủi nhục, xót xa đau đớn, có khi còn hơn lớp phụ nữ đồng cảnh có trình độ học vấn và sinh trưởng trong những gia đình gọi là tử tế, lớp sau này đã bị văn hóa nước ngoài đầu độc, mất hết ý niệm quốc gia dân tộc, - rất may bọn này không nhiều!
người Việt nam phải phối ngẫu với người Việt nam và trai gái làng, trời sinh ra để họ phải lấy nhau mới thuận cảnh, thuận tình.
có nhiều cặp trai gái trong làng thương yêu nhau mà không lấy được nhau, vì cha mẹ ngăn cản, phần nhiều là cô gái bị ép duyên.
Tuy tục ngữ có câu:
Ép dầu ép mỡ
Ai nỡ ép duyên
nhưng sự ép duyên đôi khi vẫn xảy ra; hơn một cô gái đã từng than:
Mẹ em tham thúng xôi rền,
Tham con lợn béo tham tiền Cảnh hưng.
em đã bảo mẹ rằng đừng,
Mẹ ngắm mẹ nguýt mẹ bưng xôi vào.
Và nếu vì sự ép duyên, cô lại gặp người chồng không xứng đáng, thật buồn ơi là buồn:
Tiếc thay cái tấm lụa đào,
áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi.
Trời kia có thấu chăng trời.
lụa đào mà vá áo tơi sao đành!
*
Tiếc thay hột gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm!
Và trong trường hợp cô gái lấy chồng không xứng đáng, cô còn bị trai làng lời ra tiếng vào để trách nàng tình phụ đã không giữ nổi lời hẹn ước ba sinh:
Diện hình và Tổ chức
Chê đây, lấy đấy sao đành,
em chê cam ngọt lấy cành quýt hôi.
Quýt hôi bán một đồng mười,
Cam ba đồng một, quýt ngồi trơ trơ.
Nào khi gánh nặng anh chờ,
Qua cầu anh đỡ bây giờ quên anh!
Ấy là chưa kể, trường hợp một cô gái lớn tuổi bị bố mẹ ép gả cho một chú nhãi ranh:
Tham giàu em lấy thằng bé tí tì ti, làng trên xã dưới thiếu gì trai tơ.
em đem thân cho thằng bé nó giày vò, Mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng.
Cũng đã mang danh là gái có chồng.
Chín đêm trực tiết nằm không cả mười.
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá, thiệt đời xuân xanh.
em cũng liều mình với thằng bé trẻ xanh, Đêm nằm rờ mó quẩn quanh cho đỡ buồn.
Buồn tình, em lại bê thằng bé nó lên, Nó còn bé mọn đã nên cơm cháo gì.
Nó ngủ, nó ngáy tì tì,
Một giấc đến sáng còn gì là xuân.
Chị em ơi! hoa nở mấy lần!
Thật là chua cay mặn chát! Thật là độc ác mỉa mai! May thay, chuyện ép duyên tuy vậy cũng không nhiều, và ít chục năm gần đây, chuyện này có thể nói là đã hiếm.
Trai gái làng, thương yêu nhau, họ lấy được nhau đó là chuyện đã đành, là chuyện tốt đẹp cho cả đôi bên nhưng không phải bao giờ mọi việc cũng đều như ý người ta. Đã có những cặp trai gái thương yêu nhau, nhưng tình duyên lỡ dở, hoặc vì cha mẹ không thuận tình, hoặc vì lý do nào khác. Họ phải buồn rầu chẳng được cùng nhau chấp cánh, liền cành. Họ than van:
Đôi ta như chỉ mới xe,
Như măng mới mọc như tre mới trồng, Đôi ta như lúa đòng đòng,
Đẹp duyên mà chẳng đẹp lòng mẹ cha.
Và đã có những chàng trai, những cô gái hờn duyên tủi phận tìm quên trong cửa từ bi:
yêu nhau chẳng lấy được nhau,
Mài dao đánh kéo cạo đầu đi tu.
có nhiều cặp trai gái làng đã cùng nhau thề thốt, nhưng rồi nàng tham vàng bỏ nghĩa, âu duyên mới nhạt tình xưa, khiến cho chàng trai thất vọng. Lẽ tất nhiên chàng oán hận: Đồng tiền Vạn lịch thích bốn chữ vàng.
Công anh dan díu với nàng bấy lâu.
Bây giờ nàng lấy chồng đâu,
Để anh mua biếu trăm cau nghìn vàng.
Trăm cau thì để tặng nàng.
Nghìn vàng thì để giải oan lời thề!
Kể cũng đau đớn và đáng chua xót cho chàng trai chung tình.
chàng yêu nàng với công dan díu bao lâu, vậy mà nàng phụ bạc.
nàng phụ bạc, nhưng chàng vẫn không giận, nàng lấy chồng, chàng nghĩ đến trăm cau để mừng, nhưng đồng thời chàng vẫn cũng nghĩ đến việc giải oan lời thề. Giải oan lời thề để nàng yên tâm sống với chồng mới, và cũng để chàng khỏi băn khoăn vì những lời thề thốt với nàng. nàng tham vàng phụ nghĩa, nhưng có ngày vàng hết, mà nghĩa có bao giờ phai: Tham vàng phụ nghĩa ai ơi,
Vàng thôi đã hết, nghĩa tôi vẫn còn!
nếu có những cô gái làng đã phụ những chàng trai, thì cũng có nhiều chàng trai tham vàng bỏ nghĩa đã khiến cho nhiều cô gái khác phải ngậm tủi nuốt sầu. các cô cũng đau đớn, cũng oán trách, và trong oán trách luôn luôn có sự nhớ thương: 68
Diện hình và Tổ chức
Ai làm cho bướm lìa hoa,
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
Ai đi muôn dặm non sông,
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy,
*
Ai đi đường ấy xa xa,
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non một gánh chung tình.
Nhớ ai, ai có nhớ mình chăng ai?
Tóm lại, có gái phụ bạc thì cũng có trai phụ tình, và nỗi đau khổ của những người có công dan díu mà gặp cảnh tham vàng phụ nghĩa đã làm giàu cho ca dao đất nước. Rất nhiều câu ca dao nói lên sự đau đớn của họ, và những câu ca dao này luôn luôn được trai gái hét lên văng vẳng qua lũy tre xanh, vút tới bờ đê, khiến những ai có lòng phụ bạc cùng ai, ắt cũng tự lấy làm suy nghĩ.
cũng có những đôi trai gái làng, họ không phụ bạc gì nhau, và cha mẹ đôi bên cũng không ngăn cản sự tác thành của đôi lứa, vậy mà duyên vẫn chẳng nên duyên. Đó chẳng qua chỉ vì chàng trai quá ngập ngừng nhút nhát, mãi cho tới khi cô gái lấy chồng mới dám thổ lộ nỗi lòng:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống ruộng cà hái nụ tầm xuân, Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,
em đã có chồng anh tiếc thay em!
Anh tiếc thay em, em cũng đành chứ biết làm sao được. Ván đã đóng thuyền, cô gái trước tấm chân tình của chàng trai cũng chẳng còn biết ăn làm sao nói làm sao. cô chỉ trách chàng là sao quá chậm:
Vẻ gì một miếng trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ.
Chim vào lồng biết sở nào ra?
cô gái đã nói như vậy, chàng trai đành ôm mối hận lòng.
chẳng lẽ chàng lại xui cô lỗi đạo hay sao?
Cá cắn câu bắt đầu mà gỡ,
Chim vào lồng mở cửa mà ra.
chàng trai ôm mối hận lòng là phải, vì một cô gái có lễ giáo có đời nào lòng chim dạ cá được. Đạo đức phương Đông ngăn cản cô, nếp sống thuần lương giữ gìn cô. Lấy chồng cô chỉ biết thờ chồng, vì cô thừa hiểu:
áng phong lưu son phấn đọa đầy,
Thay đen đổi trắng để ai rầy yêu thương?
chuyện nhân duyên giữa trai gái làng lắm khi cũng thật kỳ
ngộ, chồng một vợ một đã đành, nhưng cũng thường có cảnh chồng hai ba vợ. cha mẹ luôn luôn khuyên con: Trai tân gái rỗi thì chơi,
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng.
Song lẽ có nhiều cô gái quá yêu một chàng trai có vợ, cứ
liều nhắm mắt đưa chân, chàng có vợ thì mặc vợ chàng, đã yêu chàng thì nàng cứ lấy, và đã lấy chàng, nàng đâu có sợ vợ chàng: Măng non nấu với gà đồng,
Chơi nhau một trận xem chồng về ai.
già gan cướp được chồng người,
Non gan hết vía rụng rời tay chân.
có nhiều cô đã trót lỡ làm phận tiểu tinh, cam cảnh khổ sở, thường thốt ra những lời cay đắng. các cô hằng khuyên chị em bạn gái chớ theo vết chân mình:
Đói lòng ăn nắm lá sung,
Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng.
Diện hình và Tổ chức
Đói no một vợ một chồng,
Một niêu cơm tấm dằn lòng ăn chơi.
các cô nhớ lại những sự vất vả, nhớ lại những trận đòn ghen: Thân em làm lẽ vô duyên,
Mỗi ngày một trận đòn ghen tơi bời.
Ai ơi ở vậy cho rồi,
Còn hơn lấy lẽ, chồng người khổ ta.
cảnh làm lẽ thật là khổ, song vẫn có nhiều người lấy lẽ, các bà các cô thường ngụy biện khi bị chê bai: lấy chồng làm lẽ khỏi lo.
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.
*
Thà rằng làm lẽ thứ mười,
Còn hơn chính thất những người đần ngu.
*
ăn nửa quả hồng, ăn góc quả hồng,
Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè!
*
Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng mán vỗ về quanh năm.
Thực ra, đa nhân duyên, chính lỗi tại các chàng trai có vợ đã cố tình quyến rũ các cô chưa chồng.
các chàng:
Có oản lại muốn ăn xôi,
Có thịt lại cứ muốn đòi thêm nem!
Và các chàng ngụy biện cho rằng:
làm trai lấy vợ bé
Nhà giàu tậu nghé hoa!
Tôi tự thấy hơi lan man về trai gái làng, nhưng làm sao được, đây là thành phần tinh hoa nhất của làng và ở đâu có trai gái làng là ở đấy có bầu không khí vui vẻ, có tiếng cười giòn giã, có
tiếng nói trong trẻo nên thơ. Trai gái làng trẻ trung đem phong vị hoạt động cho cả làng, và giả thử tại một làng nào thiếu hẳn thành phần vui nhộn này, tôi không biết không khí làng đó sẽ
lạnh lẽo tới bực nào, và làng đó sẽ có một vẻ nặng nề ra sao.
có trai gái làng là có lời ca tiếng hát, có trai gái làng là có cảnh tưng bừng náo nhiệt, dù đây là ở đầu làng, bên bờ giếng, bên bờ đê, giữa cánh đồng trước sân đình hay bên cổng chùa.
Trai gái làng là sinh khí, là hoạt động, là ồn ào và là nguồn gốc của tất cả những cái gì làm cho người ta yêu đời.
Một cô gái góa sống trong cảnh buồn rầu đau đớn, nghĩ tới đoạn đường xa lăng lắc mình sẽ phải trải trong cảnh chăn đơn gối chiếc, bỗng thấy lòng ấm lại khi gặp một chàng trai lưu ý và hát ghẹo:
Cô kia khăn trắng tang ai?
Tang cha, tang mẹ đó hay tang chồng?
Tang chồng thì bỏ tang đi,
Tang cha tang mẹ ta thì tang chung!
Lời hỏi sao mà dễ nghe! Hỏi ai có thể làm ngơ cho được.
Ở đây tôi không nhắc nhiều tới hạng gái góa, dù họ là những người góa phụ trẻ tuổi, nhất là tôi không muốn nhắc tới những hạng góa phụ mồ chồng chưa xanh cỏ đã nghĩ đến chuyện nguyệt hoa và đã từng làm đầu đề cho bao nhiêu câu ca dao chế giễu: Ông chết thì thiệt thân ông,
Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai.
*
hỡi thằng cu bé! hỡi thằng cu lớn!
Cu tí, cu tị, cu tì ơi!
Con dậy, con ăn con ở với ông,
Để mẹ đi lấy chồng kiếm lấy em con!
Trai gái nên duyên bao giờ cũng là điều tốt đẹp nhưng góa bụa dở dang thật kể cũng đáng thương. Đạo đức phương Đông 72
Diện hình và Tổ chức
cay nghiệt; chồng chết thì phải thờ chồng, bước đi bước nữa là chịu tiếng chê cười.
Góa chồng lại lấy chồng đã chịu búa rìu của dư luận, trách chi những cô không chồng mà chửa, chỉ vì hứng gió nồm nam, ăn vụng chóng no, chẳng bị phép làng trừng phạt.
Không có chồng mà chửa thì phải vạ với làng, và bố mẹ cũng mang tai mang tiếng. Bởi vậy những cô gái nào trót lỡ lâm vào cảnh này thường phải trốn làng đi ở một nơi khác, cho đến khi mãn nguyệt khai hoa, cho hoặc gửi con đi, rồi có về làng mới dám về làng.
Phình phình ở giữa lớn ra,
Mẹ ơi con chẳng ở nhà được đâu!
Ở nhà làng bắt mất trâu,
Cho nên con phải đem đầu ra đi!
Lệ nộp vạ ở nhà quê, khi cô gái chửa hoang ở nhiều làng rất nặng. Bố mẹ cô gái phải nộp vạ bằng tiền rồi lại phải mổ trâu thết làng! Vạ tuy nặng nhưng nhiều cô gái vì cả nể vẫn cứ nhỡ
nhàng to bụng không có một ông chồng để bảo đảm cho sự to bụng này.
Kể ra, lớp trai gái làng, tuy vậy cũng có nhiều điều phức tạp, nhưng dù sao đấy cũng là những thành phần không ai có thể
bỏ qua được. Và đã tìm hiểu các người già, tìm hiểu các người lớn, càng cần tìm hiểu về trai gái làng cặn kẽ hơn. Bởi vậy, tuy ở đây tôi hơi lan man, nhưng có lẽ những điều tôi viết ra cũng còn thiếu sót nhiều lắm.
TRẻ CoN
phân hạng theo niên kỷ, trẻ con là lớp cuối cùng. Tuổi trẻ
con còn quá ít và về hình thức chúng cũng chưa đủ nở nang để
làm trai gái làng.
Theo quan niệm Đông phương, nữ thập tam, nam thập lục, mới là trai gái làng, dưới tuổi này, nam hay nữ còn đều là trẻ con.
Đã gọi là trẻ con, chúng có cái quyền tự do của trẻ con mà người lớn, kể cả trai gái làng, không có được.
Trước hết, thuyết nam nữ thụ thụ bất thân không áp dụng với chúng. con trẻ còn nhỏ, trai gái thường chơi đùa lẫn lộn với nhau, chúng không có sự phân biệt của người lớn.
con trẻ lại được ngủ chung với bố mẹ. Theo tục Con trai mười sáu không nằm chung với mẹ. Con gái mười ba không ngủ lẫn với cha, dưới hai tuổi này, con trai, con gái muốn ngủ với cha hoặc mẹ đều được cả.
Trong làng, con trẻ bắt đầu hơi lơn lớn độ lên sáu lên bảy là được đi học, xưa tới trường làng hoặc tới lớp học của các ông đồ, khi chữ nho còn thịnh. Đi học, trai gái lẫn lộn, tuy rằng ở nhà quê trước kia, con gái rất ít được đi học. Vài ba chục năm gần đây, việc đi học của con gái đã trở nên hầu như thông thường không khác chi con trai.
Trẻ con chỉ đi học, đi chơi, chúng không phải chịu sự lo lắng của người lớn, đối với gia đình cũng như đối với làng xã. Tại nhiều làng, có lệ trẻ con cũng phải chịu đóng góp và được lấy phần việc làng vào những dịp tế tự, thì việc đóng góp đều do người lớn tức là cha mẹ hoặc các anh chúng phải lo thay.
Thường trẻ con nhà quê, đi học các ông đồ, chỉ học một buổi vào buổi sáng. Buổi chiều được nghỉ, chúng chơi diều, đánh khăng, đánh đáo, ấy là nói những trẻ còn nhỏ hoặc con nhà phú quí. những trẻ đã hơi lơn lớn, nghĩa là vào khoảng lên tám lên chín, và trẻ con nhà nghèo, tuy buổi chiều nghỉ học, nhưng chúng đã bắt đầu có những công việc nhà, giúp đỡ cha mẹ những công việc vặt, và trong các công việc vặt này phải kể tới công việc chăn trâu.
Trẻ chăn trâu ở nhà quê gọi là lũ mục đồng, có đứa lớn có 74
Diện hình và Tổ chức
đứa bé, nhưng thường là vào khoảng tám chín tuổi đến mười sáu mười bảy.
chúng lùa trâu ra đồng, cho trâu gặm cỏ ở bờ đê hoặc các bờ
ruộng, những làng ở trung du thường cho trâu ăn cỏ ở sườn đồi.
Lũ trẻ mục đồng sống quây quần đoàn kết với nhau thành một bọn, chúng chăm sóc cho trâu, giữ cánh đồng làng cho trâu làng. Và trong lúc cùng chăn trâu như vậy, chúng hợp đoàn chơi những trò chơi riêng chia thành từng thôn từng giáp để cùng nhau ganh đua trong những trò chơi. Trong các trò chơi, đáng kể nhất là trò chơi tập trận. Đây chỉ là một cách bắt chước lịch sử. Vua Đinh Tiên Hoàng xưa, trước khi về với Trần công để
sau này dẹp yên Thập nhị sứ quân đã từng là một mục đồng và đã từng cùng chúng bạn mục đồng Cờ lau tập trận. Yết Kiêu, gia tướng hữu danh của Hưng Đạo Vương lúc nhỏ cũng đã từng chăn trâu bên bờ biển. Trò chơi tập trận luyện cho các em mục đồng cái tinh thần bất khuất, rất cần thiết cho con người Việt nam để bảo tồn đất nước và dân tộc Việt nam chống giặc xâm lăng từ phương Bắc kéo lại. những trẻ mục đồng này, khi lớn sẽ là dân nước, là quân sĩ của quốc gia. chúng phải gây lấy cái tinh thần đồng đội trong những cuộc tập trận và luyện lấy cái khí thế hào hùng để mai sau trở nên những người trai giữ nước và có thể trở nên những vị anh hùng cứu quốc. các bậc anh hùng cái thế của Việt nam phần nhiều xuất thân từ đồng ruộng và thường chỉ bắt đầu là những người dân quê áo vải như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lợi và Quang Trung.
những lúc dắt trâu ra đồng, những lúc lùa trâu về chuồng, những lúc chăn trâu một mình, cưỡi trên mình trâu, các chú mục đồng thổi sáo hoặc hát lên những câu hát chứa đầy ý nghĩa và nói lên hoài vọng mai sau của các chú:
Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu,
Mà rồi mang ấn công hầu trâu ơi!
Ngày nay mình nghé ta ngồi,
Mai sau ta có một thời hiển vinh?
Đối với con mắt những thị dân, có lẽ các em bé chăn trâu này phải vất vả khổ sở, nhưng riêng chính các em, các em lại nghĩ khác: Ai bảo chăn trâu là khổ? Không! Chăn trâu sướng lắm chứ!
Đầu tôi đội chiếc nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như
roi ngựa, ngất ngưởng ngồi trên mình trâu...
ngoài công việc chăn trâu ra, trẻ em còn giúp đỡ cha mẹ
trong nhiều công việc khác, trong đó có việc trông nom các em bé hơn. các em gái bảy tám tuổi, thường được cha mẹ giao cho công việc trông em. những em bé này thường lếch lếch bế
đứa em, mũi dãi nhễ nhại cùng nhau chơi ở đầu xóm đầu đình.
Trông các em bế em thật giống con cóc tha con nhái, nhưng các em lấy đó làm thường, vì ngoài các em ra, cũng không còn ai để mà săn sóc đến em các em nữa.
Trẻ con là tương lai của đất nước, nhưng trước khi là dân nước các em còn là con của cha mẹ, là anh chị của các em bé hơn. Bé các em có lo tròn phận sự của bé, lớn lên, các em mới thành những dân đinh xứng đáng của làng xã, do đó thành những công dân xứng đáng của quốc gia.
Từ trên, dân trong một xã hội đã được phân hạng theo mấy lối chung căn cứ vào những điều khác nhau. phân hạng theo lối nào mặc dầu, dân làng vẫn là dân làng, và người dân sống ở trong làng chỉ mong được sự yên ổn hòa hợp với nhau vui vẻ chịu đựng mọi sự đóng góp vào làng xã để duy trì lấy lệ làng. Làng có mạnh nước mới mạnh. những ai có tư tưởng phá hoại làng xã gieo mầm mống chia rẽ giữa dân làng, đấy chính là những kẻ không những chỉ phá hoại cái nền nếp của xã thôn mà còn chính là kẻ có tội với quốc gia nữa, vì phá hoại làng xã tức là phá hoại quốc gia.
Diện hình và Tổ chức
tổ ChứC làNg xã
làng có vững, nước mới bền; làng là đơn vị nhỏ nhất trong quốc gia, nhưng lại là đơn vị nòng cốt để kết hợp dân chúng, và do đó để tổ chức dân chúng.
Quốc gia ngày xưa không đi thẳng tới người dân và về việc công nhà nước chỉ biết toàn xã chứ không biết từng người. (1) Trong bất cứ mọi công việc gì, cần điều khiển người dân, thu sưu thuế, bắt lính tráng, mộ phu phen, nhà nước giao cho mỗi làng phần nhất định rồi trong làng sẽ tự tùy liệu với nhau.
Để sự tùy liệu có hiệu quả, lẽ tất nhiên trong làng phải có sự tổ chức giữa dân đinh, và chính nhờ sự tổ chức này mà trật tự của xã hội Việt nam được bảo vệ, bắt đầu ngay từ làng xã.
nói đến tổ chức trong làng ắt phải nói tới việc tổ chức hành chánh. Hành chánh tại làng xã Việt nam được tổ chức theo chế độ tự trị là một chế độ đặc biệt đã được áp dụng tại nước ta ngay từ thời tiền cổ. Chính phủ Pháp, sau khi nắm quyền thống trị tại nước ta, đã duy trì và canh tân định chế
1. Đào Duy Anh. - Sách đã dẫn.
hành chánh này để cho thích ứng với tình trạng chánh trị
nước ta thời đó. (1)
Việc điều hành làng xã, nói khác đi, việc cai trị trong xã, từ xưa vẫn do những đại biểu của dân chúng cử ra theo những tục lệ cổ truyền, và những tục lệ tùy từng làng có đôi điều dị